Luận văn thạc sĩ về lãnh đạo xóa đói giảm nghèo tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn từ năm 2001 đến 2013

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh đảng bộ huyện chợ đồn tỉnh bắc kạn lãnh đạo xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2013, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

118
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Lịch sử nghiên cứu đề tài

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Đóng góp của luận văn

Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN CHỢ ĐỒN LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005

1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, con người, kinh tế - xã hội huyện Chợ Đồn và công tác xóa đói, giảm nghèo của huyện trước năm 2001

1.2. Chủ trương của Đảng và Đảng bộ Tỉnh Bắc Kạn về xóa đói, giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2005

1.3. Chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Chợ Đồn về xóa đói, giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2005

1.3.1. Chủ trương của Đảng bộ huyện về xóa đói, giảm nghèo

1.3.2. Sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện về thực hiện xóa đói, giảm nghèo

1.4. Kết quả lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ huyện Chợ Đồn

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN CHỢ ĐỒN LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN 2013

2.1. Đảng bộ huyện Chợ Đồn lãnh đạo xóa đói giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2010

2.1.1. Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn về xóa đói, giảm nghèo

2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ huyện Chợ Đồn về xóa đói, giảm nghèo

2.1.3. Sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện về thực hiện xóa đói, giảm nghèo

2.1.4. Kết quả lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ huyện

2.2. Đảng bộ huyện Chợ Đồn lãnh đạo xóa đói giảm nghèo từ năm 2011 đến năm 2013

2.2.1. Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn về xóa đói, giảm nghèo

2.2.2. Chủ trương của Đảng bộ huyện Chợ Đồn về xóa đói, giảm nghèo

2.2.3. Sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ huyện Chợ Đồn về xóa đói, giảm nghèo

2.2.4. Kết quả việc thực hiện xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Chợ Đồn

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU

3.1. Đánh giá chung về sự lãnh đạo, chỉ đạo xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ huyện Chợ Đồn

3.1.1. Về thành tựu

3.1.2. Về hạn chế

3.2. Một số kinh nghiệm

3.2.1. Nhóm kinh nghiệm trong xác định chủ trương

3.2.2. Nhóm kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện

3.3. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo xóa đói giảm nghèo huyện Chợ Đồn 2001 2013

Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, đã trải qua nhiều thách thức trong công tác xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến 2013. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, nhiều chương trình đã được triển khai nhằm nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, tình hình đói nghèo vẫn còn tồn tại, đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng từ các cấp lãnh đạo.

1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội huyện Chợ Đồn

Huyện Chợ Đồn có địa hình chủ yếu là núi cao, với dân số chủ yếu là các dân tộc thiểu số. Điều này ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế và công tác xóa đói giảm nghèo. Các yếu tố như khí hậu, đất đai và nguồn nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định phương hướng phát triển.

1.2. Lịch sử và bối cảnh xóa đói giảm nghèo trước năm 2001

Trước năm 2001, huyện Chợ Đồn đã có những nỗ lực nhất định trong công tác xóa đói giảm nghèo, nhưng kết quả chưa đạt yêu cầu. Các chính sách chưa đồng bộ và thiếu sự hỗ trợ từ các cấp chính quyền đã dẫn đến tình trạng nghèo đói kéo dài.

II. Thách thức trong công tác lãnh đạo xóa đói giảm nghèo 2001 2005

Giai đoạn 2001-2005, huyện Chợ Đồn đối mặt với nhiều thách thức trong công tác xóa đói giảm nghèo. Các chính sách chưa được thực hiện đồng bộ, dẫn đến hiệu quả thấp trong việc cải thiện đời sống người dân.

2.1. Những khó khăn trong thực hiện chính sách

Việc triển khai các chương trình xóa đói giảm nghèo gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực và sự phối hợp giữa các ngành. Nhiều hộ gia đình vẫn sống trong tình trạng thiếu thốn, không đủ điều kiện để tham gia vào các chương trình hỗ trợ.

2.2. Tình hình kinh tế xã hội huyện Chợ Đồn

Kinh tế huyện Chợ Đồn chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với nhiều hộ dân sống phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Điều này khiến cho việc xóa đói giảm nghèo trở nên khó khăn hơn, khi mà sản xuất nông nghiệp không ổn định.

III. Phương pháp lãnh đạo xóa đói giảm nghèo hiệu quả 2006 2010

Từ năm 2006 đến 2010, Đảng bộ huyện Chợ Đồn đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo mới nhằm nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo. Các chương trình được thiết kế phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

3.1. Chương trình phát triển nông thôn

Chương trình phát triển nông thôn đã được triển khai mạnh mẽ, giúp người dân tiếp cận với các nguồn lực và công nghệ mới. Điều này đã góp phần nâng cao năng suất và thu nhập cho người dân.

3.2. Hỗ trợ giáo dục và đào tạo nghề

Để nâng cao trình độ dân trí, huyện đã chú trọng đến công tác giáo dục và đào tạo nghề. Việc này không chỉ giúp người dân có kiến thức mà còn tạo ra cơ hội việc làm cho họ.

IV. Kết quả đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo 2011 2013

Giai đoạn 2011-2013, huyện Chợ Đồn đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác xóa đói giảm nghèo. Số hộ nghèo giảm đáng kể, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt.

4.1. Đánh giá hiệu quả các chương trình

Các chương trình xóa đói giảm nghèo đã được đánh giá là hiệu quả, với nhiều hộ gia đình thoát nghèo. Sự phối hợp giữa các ngành đã tạo ra sức mạnh tổng hợp trong công tác này.

4.2. Tác động đến đời sống người dân

Đời sống người dân đã được cải thiện, với nhiều hộ gia đình có thu nhập ổn định hơn. Điều này không chỉ giúp họ thoát nghèo mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho huyện Chợ Đồn

Kết thúc giai đoạn 2013, huyện Chợ Đồn cần tiếp tục duy trì và phát huy những thành quả đã đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo. Việc xây dựng các chính sách phù hợp và bền vững là rất cần thiết.

5.1. Đề xuất các giải pháp tiếp theo

Cần có các giải pháp đồng bộ để tiếp tục hỗ trợ người dân, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp và giáo dục. Việc này sẽ giúp huyện Chợ Đồn phát triển bền vững hơn.

5.2. Tầm nhìn cho tương lai

Huyện Chợ Đồn cần có tầm nhìn dài hạn trong công tác xóa đói giảm nghèo, hướng tới việc xây dựng một cộng đồng phát triển bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện chợ đồn tỉnh bắc kạn lãnh đạo xóa đói giảm nghèo từ năm 2001 đến năm 2013

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN CHỢ ĐỒN LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005. Chương 2 : ĐẢNG BỘ HUYỆN CHỢ ĐỒN LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2013. Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN CHỢ ĐỒN LÃNH ĐẠO XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, con ngƣời, kinh tế - xã hội huyện Chợ Đồn và công tác xóa đói, giảm nghèo của huyện trƣớc năm 2001 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, con người, văn hóa và kinh tế - xã hội huyện Chợ Đồn * Điều kiện tự nhiên Nằm ở phía tây của tỉnh Bắc Kạn, Chợ Đồn có vị thế chiến lược hết sức quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Huyện có diện tích tự nhiên 91.293 ha chiếm 18,75% diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn.

Huyện Chợ Đồn có một thị trấn (Bằng Lũng) và 21 xã. Có ranh giới tiếp giáp như sau: - Phía Bắc giáp huyện Ba Bể. - Phía Nam giáp huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên. - Phía Đông giáp huyện Bạch Thông, huyện Chợ Mới.

- Phía Tây giáp huyện Chiêm Hoá, Yên Sơn, Na Hang tỉnh Tuyên Quang. Trung tâm huyện lỵ là thị trấn Bằng Lũng cách thị xã Bắc Kạn khoảng 46km theo tỉnh lộ 257. Huyện Chợ Đồn có hệ thống giao thông khá đầy đủ với đường tỉnh lộ 254, 254B, 255, 257… các tuyến liên xã tương đối hoàn thiện tạo thuận lợi cho huyện trong giao lưu thương mại, phát triển kinh tế xã hội, du lịch. Huyện Chợ Đồn là huyện miền núi vùng cao của tỉnh Bắc Kạn, có độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây với các dạng địa hình phổ biến: Địa hình núi đá vôi, Địa hình núi đất, Địa hình thung lũng.

Ngoài ra 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có hệ thống sông suối khá dày đặc nhưng đa số là các nhánh thượng nguồn sông Cầu, sông Năng, sông Phó Đáy, sông Bình Trung với đặc điểm chung là đầu nguồn, lòng sông ngắn, dốc, thuỷ chế thất thường. Giao thông đường sông ít phát triển do sông suối dốc, lắm thác ghềnh.10-11] Khí hậu huyện Chợ Đồn chịu ảnh hưởng chung của khí hậu Miền Bắc Việt Nam và mang tính chất đặc thù của khí hậu lục địa miền núi cao thể hiện rõ bốn mùa trong năm. mùa đông (từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau) giá lạnh, nhiệt độ không khí thấp, khô hanh, có sương muối; mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9) nóng ẩm, mưa nhiều. * Con người và văn hóa Trải qua các thời kì lịch sử, Chợ Đồn hiện nay là nơi sinh sống của các tộc người Tày, Dao, Kinh, Mông, Nùng, Hoa….

Trong cộng đồng dân cư, dân tộc Tày là tộc người có nguồn gốc từ Tày cổ, là chủ nhân có mặt sớm và lâu đời nhất ơ huyện Chợ Đồn. Đồng bào Tày hiện nay có số dân đông nhất huyện, sống tập trung thành thôn bản.16] Dân tộc Dao đứng thứ hai dân số của huyện. Người Dao có mặt tương đối sớm ở Chợ Đồn, cách đây khoảng hơn 200 năm. Trước đây đồng bào du canh du cư, thực hiện cuộc vận động định canh định cư của Đảng và Chính phủ, được sự giúp đỡ của các cấp, các ngành trong huyện, đồng bào Dao đã từng bước ổn định cuộc sống.

Dân tộc Kinh có dân số đông thứ ba ở huyện. Người Kinh có mặt ở Chợ Đồn chủ yếu là trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất và thứ hai của Pháp. Trong kháng chiến chống Pháp, nhiều cán bộ, công nhân theo cơ quan, xưởng máy, kho tàng của Trung Ương chuyển lên Chợ Đồn, ngoài ra còn có một số đồng bào tản cư từ miền xuôi lên.17] Người Mông do di cư tự nhiên từ nơi khác đến cách đây không lâu, có số dân đứng thứ tư trong dân số của huyện, họ sống rải rác trong hầu hết các xã. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người Nùng có dân số đứng thứ năm của huyện, phần lớn có mặt cách đây hơn hai thế kỷ, một bộ phận nhỏ di cư đến vào những năm cuối thế kỷ XX.18] Dân tộc Hoa có số dân ít nhất, ngoài ra còn có một số ít người mang tộc danh Sán Chí.

Các dân tộc trong huyện luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ nhau về mọi mặt. Đồng bào có truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, xây dựng đời sống, luôn vươn lên để tự hoàn thiện mình và đã tạo nên những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc. Các dân tộc đều có những sinh hoạt văn hóa cộng đồng phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc, được thể hiện trong các dịp Tết, lễ hội, đám cưới, ma chay, chợ phiên… Người Dao có hát páo dung, người Mông có múa khèn, người Nùng hát sli, người Tày hát ví (phuối pác), hát lượn. Hát lượn của người Tày được các nhà nghiên cứu văn hóa đánh giá là “viên ngọc quý trong kho tàng văn học dân gian”.

Đồng bào Tày - Nùng và các dân tộc ít người khác sinh sống ở Chợ Đồn là những dân tộc ở thời kì cổ đại không có chữ viết riêng của dân tộc mình, nên không có văn học thành văn thời cổ đại. Cách đây vài chục năm, một số người biết chữ Nôm Tày (có từ thế kỷ XV) thường đọc các truỵên, thơ bằng chữ Nôm Tày nay đã thành cổ văn ít người đọc được. Năm 1960, được sự giúp đỡ cuả Nhà nước, đồng bào Tày - Nùng có chữ viết của mình trên cơ sở chữ Quốc ngữ. Sự kết hợp giữa chữ Quốc ngữ và chữ Tày Nùng đã góp phần nâng cao sự hiểu biết và sinh hoạt văn hóa trong nhân dân.

Về thơ ca, trước đây một số người Tày biết hát Loàn (như hát lượn) trong lễ hội Lồng Tổng (xuống đồng). Ngày nay trong đồng bào Tày – Nùng còn lưu truyền khá phổ biến các bài ca cúng bái của: Pụt, Tào, Then dùng trong các lễ kỳ yên (lễ cầu cho sự bình an), trong ma chay có các thể loại thơ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ca nghi lễ như: mại xe, văn tế, văn than. Trong nhân dân có các thể loại thơ đám cưới (thơ lẩu) với các vần văn hoa ý nhị, thơ ca sinh hoạt có sli, lượn phong slư, câu đố, hát đồng dao, ru em… [37, tr.19-21] Những giá trị văn hóa được sản sinh trong quá trình lao động, xây dựng cuộc sống của các đồng bào dân tộc đã góp phần làm phong phú nền văn hóa dân gian Việt Nam. Đó còn là một trong những nhân tố làm nảy sinh truyền thống đoàn kết, đấu tranh, dựng nước và giữ nước của đồng bào trong tiến trình phát triển của lịch sử.

* Điều kiện kinh tế - xã hội Chợ Đồn là một trong những huyện giàu tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Bắc Kạn, ngoài kẽm, quặng, còn có chì, vàng sa khoáng… có giá trị to lớn về mặt kinh tế. Nền kinh tế Chợ Đồn khá phong phú đa dạng. Toàn huyện có diện tích tự nhiên là 91.293 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệplà 4.417 ha, riêng trồng lúa nước là 2. Kinh tế công nghiệp có khai thác quặng kẽm và một số nghề thủ công truyền thống.14] Ngày nay trong sự nghiệp đổi mới đất nước, cơ sở hạ tầng đang được đầu tư, mở rộng xây dựng, cơ cấu kinh tế thay đổi, hình thành nhiều cơ sở sản xuất, một số sản phẩm tham gia giao lưu kinh tế trong và ngoài tỉnh, hoạt động dịch vụ cũng có bước phát triển đáng kể.

Mặc dù vậy, tỷ trọng nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế, lực lượng sản xuất trong xã hội huyện chủ yếu là nông dân. Là huyện miền núi, rừng chiếm phần lớn diện tích tự nhiên, xen kẽ rừng là các thung lũng lòng chảo, chạy dọc theo các con sông, suối, nhân dân đã khai phá, cải tạo thành ruộng bậc thang trồng lúa nước. Nhiều xã có cánh đồng rộng lớn như Đông Viên, Phương Viên, Bình Trung, Đồng Lạc, Nam Cường trở thành những vựa lúa của huyện. Các soi, bãi được đồng bào khai 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thác để trồng ngô và các loại hoa màu.

Có đồi núi, soi, bãi và nguồn lương thực khá dồi dào đã tạo điều kiện cho sự phát triển các đàn gia súc, gia cầm. Có thể nói điều kiện tự nhiên đã tạo cho Chợ Đồn có nền kinh tế tự cung tự cấp cao, có tác dụng đảm bảo đời sống tại chỗ cho đồng bào nơi đây. Tuy nhiên với nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, Chợ Đồn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là sự chênh lệch trong mức sống của các bộ phận dân cư còn rất lớn, tỉ lệ họ đói, nghèo còn rất cao.2 Công tác xóa đói, giảm nghèo của huyện Chợ Đồn trước năm 2001 Ở Việt Nam, xoá đói giảm nghèo được coi là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để giải quyết vấn đề đói nghèo, một trong những vấn đề cơ bản là phải đưa ra được những chính sách để thực hiện có hiệu quả.

Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: chính sách xóa đói giảm nghèo phải bao trùm tất cả mọi mặt của cuộc sống con người, điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, chính trị, đạo đức… Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) đã khẳng định: “Thực hiện tốt chương trình giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”. Là một huyện nghèo trong một tỉnh miền núi còn rất nhiều khó khăn, Chợ Đồn nhận thức rõ thực trạng đói nghèo của huyện, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XVI (nhiệm kỳ 1995-2000) đã xác định xóa đói giảm nghèo là một nhiệm vụ cấp bách của huyện. Ủy ban nhân dân huyện đã xây dựng chương trình xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 1996-2000, và trong quá trình thực hiện đã triển khai lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trong địa bàn huyện.141-142] Ngay từ khi tái lập tỉnh Bắc Kạn (1997), dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, huyện ủy Chợ Đồn đã đặt mức phấn đấu đến năm 2000 giảm tỷ lệ hộ đói 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghèo từ 10-15% , bằng mức phấn đấu của tỉnh. Năm 1997 tỷ lệ hộ đói nghèo toàn huyện có 46,3%, đến năm 2000 giảm còn 37,6%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ