Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Những nghiên cứu về xây dựng Đảng và xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở một số nước L'histoire du parti communiste chinois 1921 - 1991 (1994) [193], đây là cuốn sách nghiên cứu cơ bản, toàn diện về Đảng Cộng sản Trung Quốc trong thế kỷ XX. Cuốn sách gồm 9 chương, phục dựng lại lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc từ khi thành lập, trải qua cuộc đại cách mạng, cách mạng ruộng đất, chiến tranh giải phóng đất nước và trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội như: Cách mạng văn hoá, bốn hiện đại hoá… Trong mỗi chương, cuốn sách tái hiện quá trình xây dựng, phát triển của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó có đề cập quá trình xây dựng, phát triển các TCCSĐ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước, nêu lên các TCCSĐ ở các vùng nông thôn đã đề cao và nghiêm túc thực hiện các quyền dân chủ, quyền giám sát của đảng viên, phát huy vai trò chủ thể trong sinh hoạt Đảng.
Nhiệm Khắc Lễ (1995), Công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ mới [84] đã phân tích những vấn đề cơ bản trong công tác xây dựng Đảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở thời kỳ đổi mới với các nội dung như: Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa; xây dựng kinh tế và tổ chức đảng cơ sở về chính trị, tư tưởng, xây dựng đảng viên, thực hiện quyền dân chủ trong sinh hoạt; bồi dưỡng đội ngũ cán bộ về phẩm chất, năng lực thực thi nhiệm vụ được giao, thường xuyên bổ sung, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ phù hợp với yêu cầu của tình hình mới. Trương Vinh Thần (2007), The communist party of China: Its organization and their functions [195], đã nêu bật quá trình xây dựng tổ chức Đảng; cơ chế vận hành tổ chức đảng; chế độ và nguyên tắc tổ chức đảng; chế 11 độ đại hội đại biểu; chế độ tuyển cử; chế độ cán bộ; chế độ sinh hoạt Đảng và cách thức xây dựng tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI như: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các TCCSĐ ở cơ sở, kiên trì phát triển chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, trang bị lý luận cho toàn Đảng, chú trọng xây dựng hệ thống TCCSĐ, coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, giữ vững nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng… Lý Thận Minh (2010), Construction of the Chinese communist party in a global context [194], tác giả đã tập trung làm rõ việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Trung Quốc; Trung Quốc hoá chủ nghĩa Mác; xây dựng tính tiên tiến của Đảng; những vấn đề tương quan đến chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc. Đồng thời, cuốn sách nêu bật những đóng góp của Chủ tịch Mao Trạch Đông về đường lối và lý luận của chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc. Đặc biệt là việc lấy tinh thần cải cách, đổi mới để thúc đẩy quá trình xây dựng Đảng; nắm bắt đầy đủ và chính xác những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Ngoài những nội dung trên, cuốn sách chỉ rõ việc xây dựng tổ chức đảng có ý nghĩa quan trọng đối với xây dựng Đảng Cộng sản Trung Quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Chu Chí Hòa (2010), Đổi mới công tác xây dựng Đảng ở nông thôn Trung Quốc [77], tác giả đã đề cập đến công tác xây dựng Đảng ở các vùng nông thôn Trung Quốc trên các chiều cạnh: Cơ cấu tổ chức, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đảng viên… Qua đó, sáng suốt lựa chọn những đảng viên qua thử thách, rèn luyện bổ nhiệm các chức danh. Để đổi mới công tác xây dựng Đảng tác giả nêu: Cần phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo, nâng cao phẩm chất, đạo đức, văn hóa, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của người đứng đầu và đội ngũ đảng viên ở nông thôn; phát huy vai trò đoàn kết trong tập thể để thực hiện nhiệm vụ thông qua đó tập hợp quần chúng góp phần phát huy vai trò của tổ chức đảng ở nông thôn trong phát triển KT - XH ở các vùng nông thôn Trung Quốc. Đon Phay Vông (2014), “Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở Lào” [68].
Bài viết khẳng định: Bước vào thời kỳ chuyển đổi từ nền 12 kinh tế tự túc, khép kín sang nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tiếp tục xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức là nhiệm vụ then chốt; trong đó, nâng cao chất lượng TCCSĐ là một nhiệm vụ quan trọng. Để tiếp tục củng cố năng lực lãnh đạo của TCCSĐ, tác giả bài viết nhấn mạnh cần tăng cường củng cố, xây dựng TCCSĐ vững mạnh; thực hiện đúng chức năng của TCCSĐ; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Trường Lưu (2017), “Công tác xây dựng Đảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay” [88], theo bài viết đến năm 2017, Trung Quốc có gần 90 triệu đảng viên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực. Tuy nhiên, bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước có nhiều biến động; nội bộ Đảng có những biến đổi đã tạo ra những khó khăn, thách thức không nhỏ đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Để công tác xây dựng Đảng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới, bài viết đưa ra một số giải pháp: Phải kiên định niềm tin lý tưởng, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, niềm tin chủ nghĩa cộng sản; đổi mới công tác xây dựng Đảng ở cơ sở, tăng cường và cải tiến việc giáo dục, quản lý đảng viên; kiên quyết chống tham nhũng; nghiêm minh về kỷ luật của Đảng, tự giác bảo vệ sự thống nhất tập trung của Đảng. Những nghiên cứu về xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở trong nước 1. Các nghiên cứu chung về tổ chức cơ sở đảng ở Việt Nam Ngô Kim Ngân (2006), “Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng” [95]. Bài viết đưa ra những ưu điểm của công tác xây dựng TCCSĐ đã góp phần quan trọng trong công tác xây dựng Đảng.
Cùng với đó, cũng chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân. Để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các TCCSĐ trong tình hình mới, tác giả đề xuất 6 giải pháp: Một là, xác định đúng nhiệm vụ chính trị, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng; hai là, phải đổi mới mạnh 13 mẽ phương thức, phong cách làm việc của các tổ chức đảng; ba là, cải tiến, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, chi ủy, đảng ủy, mở rộng dân chủ trong sinh hoạt Đảng; bốn là, chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Đảng; sáu là, lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng cấp trên đối với TCCSĐ cấp dưới. Dương Trung Ý (2006), “Về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở xã” [189], bài viết đưa ra quan niệm về năng lực lãnh đạo, quan niệm sức chiến đấu của đảng bộ xã. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ rõ, để đánh giá năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng bộ xã cần dựa trên những tiêu chí cơ bản như: Lãnh đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ phát triển KT - XH; lãnh đạo xây dựng chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân vững mạnh; lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ an ninh, quốc phòng; lãnh đạo thực hiện tốt công tác xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh.
Bài viết thống kê đến hết năm 2005, cả nước có 47.000 TCCSĐ, với gần 200.000 chi bộ và 3,1 triệu đảng viên. Với cơ cấu tổ chức và số lượng đảng viên trên, tác giả khẳng định TCCSĐ và đội ngũ đảng viên có vai trò to lớn, quan trọng trong việc củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Cùng với đó, bài viết đánh giá những kết quả mà các TCCSĐ và đảng viên đạt được trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương, khóa VII (6 - 1992), Nghị quyết Đại hội VIII (1996) và Nghị quyết Đại hội IX (2006) của Đảng. Tác giả nêu 5 giải pháp góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng, trong đó nhấn mạnh giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCCSĐ.
Nguyễn Đức Hà (2010), Một số vấn đề về xây dựng tổ chức cơ sở đảng hiện nay [71], là cuốn sách trình bày những vấn đề lý luận, đồng thời tổng kết thực tiễn về công tác xây dựng, củng cố TCCSĐ. Công trình cung cấp nhiều thông tin, tư liệu quý về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCSĐ và đội ngũ cán bộ, đảng viên, là tài liệu tham khảo quan trọng đối với các cơ 14 quan và đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng. Về mô hình TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn, tác giả chỉ rõ: “Được tổ chức cơ bản thống nhất, đồng bộ với đơn vị hành chính và các tổ chức trong hệ thống chính trị cùng cấp trên địa bàn” [71, tr. Đỗ Phương Đông (2013), “Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn” [69], tác giả khẳng định: “Tổ chức cơ sở đảng là gốc rễ của Đảng” [69, tr.
7]; giữ vai trò rất quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng, là nơi thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên; nơi thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. HTCT cơ sở có thực sự TSVM hay không đều tùy thuộc vào chất lượng TCCSĐ. Trên cơ sở đó, tác giả nêu một số giải pháp vận dụng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của TCCSĐ xã, phường, thị trấn ở các địa phương trong phạm vi cả nước như: Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) và Trung ương 6 (khóa X) và các văn bản khác của Đảng về xây dựng TCCSĐ trong sạch, vững mạnh. Nâng cao chất lượng các kỳ họp, năng lực quản lý, điều hành của chính quyền cơ sở.