mở đầu cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa. Tháng 3/1989, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) khẳng định những chuyển biến quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, đồng thời bổ sung làm rõ thêm tư tưởng đổi mới, thể hiện ở ba quan điểm lớn: 1) Mọi tổ chức sản xuất kinh doanh do người lao động tự góp vốn, góp sức và quản lý theo nguyên tắc dân chủ, không phân biệt quy mô, trình độ kĩ thuật, mức độ tập thể hóa là hợp tác xã; 2) Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất là các đơn vị kinh tế hợp tác với nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất; 3) Gia đình xã viên đã trở thành đơn vị sản xuất kinh tế tự chủ, ngoài việc nhận khoán sử dụng ruộng đất, thực hiện các hợp đồng với hợp tác xã, còn chủ động phát triển sản xuất kinh doanh dưới nhiều hình thức, khuyến khích xã 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viên làm giàu đồng thời có chính sách, biện pháp cụ thể để giúp các hộ nghèo có thêm điều kiện để vươn lên làm ăn tốt. Đại hội VII của Đảng (6/1991) khẳng định: “Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng NTM là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội. Xây dựng phương án tổng thể trên từng vùng, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý về nông - lâm - ngư - công nghiệp phù hợp với sinh thái vùng, bảo về tài nguyên, gắn phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp với phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến bằng công nghệ thích hợp, xây dựng các điểm kinh tế - kỹ thuật - dịch vụ ở từng vùng và tiểu vùng; xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xã hội ở nông thôn” [22, tr,63].
Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được trong nông nghiệp, nông thôn, để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn, Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng 6/1993) ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Hội nghị đánh giá trực tiếp thực trạng nông nghiệp, nông thôn, xác định mục tiêu, quan điểm đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn từ năm 1993 đến năm 2000, đồng thời đề ra phương hướng và giải pháp cụ thể để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, xây dựng NTM theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hội nghị xác định mục tiêu: Một là: Phát triển nhanh, vững chắc nông - lâm – ngư, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh để thu hút đại bộ phận lao động dư thừa, tăng năng suất lao động, giải quyết vững chắc nhu cầu lương thực, thực phẩm; đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu cho công nghiệp và tăng nhanh kim ngạnh xuất khẩu, bảo vệ môi trường sinh thái. Hai là: Cải thiện một bước đời sống văn hóa của nông dân, tăng diện giàu và đủ ăn, xóa đói, giảm nghèo.
23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ba là: Xây dựng NTM. Đồng thời qua đó đề ra phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội nông thôn một cách cụ thể, phù hợp. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng 6/1993) đã xác định một hệ thống quan điểm đồng bộ về ba vấn đề lớn: nông nghiệp, nông thôn và nông dân, gắn phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng NTM với nâng cao đời sống của nông dân. Cũng trong giai đoạn này Nhà nước cũng ban hành luật đất xác định những quan điểm cơ bản của Đảng về vấn đề đất đai.
Các hộ tư nhân được đầu tư phát triển giống cây, khai thác đất trống đồi núi trọc ở các vùng trung du miền núi, bãi bồi ven biển, nuôi trồng và khai thác thủy sản, xây dựng các nông - lâm - ngư trại với quy mô thích hợp. Điều này chứng tỏ rằng, Nhà nước đã trao thêm cho các tổ chức kinh tế, cá nhân người lao động và hộ nông dân trách nhiệm và quyền tự chủ sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, trong đó có mô hình kinh tế phát triển theo xu hướng trang trại. Cùng với luật đất đai, Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp được quốc hội thông qua (tháng 7/1993) có vị trí quan trọng đối với sự phát triển của các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế hộ gia đình, khuyến khích hộ gia đình sử dụng có hiệu quả đất đai và đảm bảo công bằng, hợp lý sự đóng góp của hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp và ngân sách của Nhà nước. Các đạo luật trên là cơ sở pháp lý rất quan trọng, tạo nền tảng cho kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển.
Tháng 7/1994, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII ra Nghị quyết “Phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới” [24, tr. Nghị quyết xác định ba chủ trương lớn về phát triển kinh tế công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong năm tới là: CNH, HĐH và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện nông - lâm - ngư 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại khác. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII năm 1996, trên cơ sở đánh giá tình hình 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, bối cảnh trong nước và quốc tế đã xác định mục tiêu, nội dung của CNH và quyết tâm đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Đại hội cũng xác định rõ các nội dung và giải pháp lớn để thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Như vậy, xây dựng và phát triển NTM ban đầu là công cuộc xây dựng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Đảng ta có những bước chuyển đổi dần về nhận thức, tư tưởng và lãnh đạo, chỉ đạo. Từ sau năm 1975 đến nay đã trải qua nhiều sửa đổi nhưng vẫn thấy rõ được mặt trận nông nghiệp, phát triển nông thôn, nâng cao mức sống cho nông dân là một trong những mặt trận hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Ninh Bình (1992 - 2000) Nhận thức được rõ tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đồng thời thấm nhuần tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo các cấp, các ngành bắt tay vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là thực hiện công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Ngay từ những năm đầu tái lập (1992), Ninh Bình có điều kiện để tập trung phát triển cho từng vùng, từng địa phương trong tỉnh. Chính vì vậy, sau những quyết sách hợp lý để xây dựng và phát triển nông thôn đã đưa nông nghiệp, nông thôn tỉnh nhà có những bước khởi sắc, đời sống nhân dân nâng cao về mọi mặt, diện mạo các vùng quê Ninh Bình ngày càng thay đổi lớn so với những năm còn là tỉnh Hà Nam Ninh. Về phát triển kinh tế nông nghiệp: 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đề ra nội dung cơ bản của CNH, HĐH là: “Phát triển toàn diện nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [25, tr.34- 35] trong đó coi trọng phát triển toàn diện nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa.Thực hiện những chủ trương của Đảng đồng thời với hơn 80% số lao động thuộc khu vực nông thôn, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xác định nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng trong xây dựng NTM. Sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo, nông nghiệp, nông thôn Ninh Bình đã đạt được những thành tựu quan trọng và tương đối toàn diện.
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn tỉnh giai đoạn 1992 - 1995 đạt bình quân 13,3%/ năm, giai đoạn 1996 - 2000 đạt 8,3%/ năm và giai đoạn 2001 - 2005 đạt 11,96%/năm, cao hơn so với với tốc độ tăng trưởng của cả nước (7,5%/ năm) trong cùng thời gian nói trên [4, tr. Trong nông nghiệp, kết quả nổi bật là sản xuất lương thực, từ chỗ thiếu lương thực triền miên, đến nay lương thực đủ ăn, có thể dùng cho chăn nuôi, tích lũy, lương thực hàng hóa ngày càng tăng, vấn đề an toàn lương thực được đảm bảo vững chắc. Từ chỗ nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp đến nay đã có bước chuyển biến tích cực, tỷ suất hàng hóa ngày càng cao, ngày càng nhiều sản phẩm là nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến phát triển, tạo ra những sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao. Ngành kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1993 đến 2000 đã khẳng định là một ngành có vị trí quan trọng hàng đầu trong toàn bộ nền kinh tế của tỉnh.
Năm 2001, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt hơn 1.369 tỉ đồng (giá so sánh năm 1994) so với năm 1995 tăng 33,9% và gấp 2,1 lần so với năm 1991. Bình 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quân mỗi năm trong 10 năm (1992 - 2001) giá trị sản xuất nông nghiệp ở tỉnh nhà đạt tốc độ tăng là 7,8% [4, tr. Trồng trọt vẫn là ngành sản xuất chính, giữ vị trí quan trọng trong toàn bộ sản xuất nông nghiệp. Diện tích cây lúa vẫn chủ yếu trong tổng diện tích gieo trồng hàng năm.
Diện tích cây công nghiệp hàng năm cũng thay đổi theo hướng tăng dần. Năm 1991 tỉ lệ diện tích cây công nghiệp chiếm 6,3%, năm 1995 chiếm 7,8% và đến năm 2000 đạt 8,9% [4, tr.