Tổng quan nghiên cứu

Ninh Bình bước vào giai đoạn 2001-2010 với xuất phát điểm của một tỉnh thuần nông: 85,6% dân cư sinh sống ở khu vực nông thôn theo số liệu điều tra năm 2002, 74,2% lao động làm việc trong các ngành nông - lâm - thủy sản. Cơ cấu GDP năm 2001 phản ánh rõ đặc điểm này khi nông - lâm - thủy sản chiếm 47,63%, công nghiệp - xây dựng chỉ 23,95% và dịch vụ 28,42%. Đây là bối cảnh đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng nông thôn mới (NTM) như một chiến lược phát triển tổng thể.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 60 22 56) của tác giả Vũ Thị Mười, thực hiện tại Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng Giảng viên Lý luận Chính trị - Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Trọng Phúc, tập trung phân tích quá trình Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2001 đến năm 2010.

Mục tiêu nghiên cứu gồm ba nội dung cụ thể: trình bày có hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng NTM và sự vận dụng của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình; làm rõ quá trình lãnh đạo trong hai giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010; khẳng định thành tựu bước đầu và đúc rút kinh nghiệm thực tiễn.

Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong địa bàn tỉnh Ninh Bình với 127 xã nông thôn (số liệu điều tra 01/10/2001), thời gian 10 năm từ 2001 đến 2010 - giai đoạn bản lề giữa chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM.

Ý nghĩa của công trình thể hiện ở hai cấp độ: về lý luận, minh chứng tính đúng đắn của chủ trương Đảng đối với vấn đề tam nông; về thực tiễn, cung cấp căn cứ để nâng cao hiệu quả xây dựng NTM tại một tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo 18,02% vào tháng 8/2005.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn đứng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp trong thời kỳ quá độ, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nông thôn mới. Trong bài "Con đường phía trước" đăng Báo Nhân dân số 2143 ngày 20/1/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định phải "dùng máy móc cả trong công nghiệp và nông nghiệp". Tại Đại hội Công đoàn tỉnh Thanh Hóa lần thứ 6 ngày 19/7/1960, Người xác định "phải lấy nông nghiệp làm gốc".

Khung lý thuyết thứ hai là hệ quan điểm của Đảng qua các kỳ đại hội. Đại hội VII (6/1991) xác định phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng NTM là "nhiệm vụ quan trọng hàng đầu". Đại hội X nhấn mạnh vấn đề tam nông "có tầm chiến lược quan trọng". Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX (3/2003) đưa ra hai nội dung tổng quát: công nghiệp hóa nông nghiệp và hiện đại hóa nông thôn.

Năm khái niệm chính được vận hành trong luận văn gồm: nông thôn mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, hệ thống chính trị cơ sở, và kinh tế hộ tự chủ theo tinh thần Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu chia thành ba nhóm. Nhóm thứ nhất là văn kiện Đảng Trung ương từ Đại hội IV (12/1976) đến Đại hội X. Nhóm thứ hai là văn kiện Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, gồm Chương trình hành động số 04-CTr/TU về đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001-2010, Chương trình 06-CTr/TU về kinh tế tập thể, Chương trình 07-CTr/TU về kinh tế tư nhân, Chương trình 10-CTr/TU về giáo dục - đào tạo, Chương trình số 20 ngày 17/9/2004 về xóa đói giảm nghèo, Chỉ thị 28-CT/TU về y tế, cùng Quyết định 2472/QĐ-UB về quy hoạch ngành nghề nông thôn. Nhóm thứ ba là số liệu thống kê từ Cục Thống kê Ninh Bình, Tổng điều tra nông thôn - nông nghiệp - thủy sản các năm 2001 và 2005, khảo sát mức sống hộ gia đình 2004.

Cỡ mẫu khảo sát bao trùm toàn bộ 127 xã nông thôn của tỉnh tại thời điểm 2001 và 120 xã ở giai đoạn sau, tương ứng với phương pháp chọn mẫu toàn thể (tổng điều tra) thay vì chọn mẫu xác suất - lý do là dữ liệu gốc đã sẵn có ở cấp tổng điều tra quốc gia, bảo đảm tính đại diện tuyệt đối.

Phương pháp phân tích chủ đạo là phương pháp luận lịch sử kết hợp phương pháp logic, bổ sung bằng phân tích - tổng hợp số liệu khảo sát, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa. Lựa chọn này xuất phát từ đặc thù chuyên ngành Lịch sử Đảng: cần tái hiện tiến trình lãnh đạo theo trình tự thời gian, đồng thời rút ra quy luật vận động. Timeline nghiên cứu được cấu trúc thành ba chương tương ứng ba lát cắt: 2001-2005, 2006-2010, và tổng kết thành tựu - kinh nghiệm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế Ninh Bình vượt trội so với mặt bằng cả nước. GDP trên địa bàn tỉnh giai đoạn 1992-1995 đạt bình quân 13,3%/năm, giai đoạn 1996-2000 đạt 8,3%/năm và giai đoạn 2001-2005 đạt 11,96%/năm - cao hơn mức 7,5%/năm của cả nước cùng thời kỳ, chênh lệch khoảng 4,46 điểm phần trăm. Riêng nhóm nông - lâm - thủy sản tăng 5,9%/năm thời kỳ 1992-2001, so với 4,5%/năm toàn quốc.

Thứ hai, ngành thủy sản trở thành động lực tăng trưởng đột phá. Giá trị sản xuất thủy sản (giá so sánh 1994) tăng từ 19.230 triệu đồng năm 1995 lên 60.708 triệu đồng năm 2000 và 220.588 triệu đồng năm 2005 - gấp 11,5 lần trong 10 năm. Sản lượng cá nuôi năm 2005 đạt 15.188 tấn, chiếm 89% tổng sản lượng nuôi trồng, gấp 3 lần năm 2000 và gấp 22 lần năm 1992. Sản lượng tôm nuôi đạt 799 tấn, gấp 53 lần so với mức 15 tấn của năm 1992.

Thứ ba, hạ tầng nông thôn chuyển biến mạnh trong 5 năm. So sánh hai mốc 2000 và 2005 cho thấy: tỷ lệ xã có đường liên thôn được nhựa hóa, bê tông hóa tăng từ 67,7% lên 85% (+17,3 điểm); tỷ lệ hộ nông thôn dùng nước sạch từ 73,9% lên 75%; tỷ lệ xã có trạm bưu điện từ 90,5% lên 95%; tỷ lệ xã có chợ từ 56,7% lên 65%. Năm 2005 tỉnh đầu tư cải tạo, cứng hóa 1.191 km đường giao thông nông thôn.

Thứ tư, đời sống dân cư nông thôn cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn từ 53,6 nghìn đồng/tháng năm 1991 lên 148,4 nghìn đồng năm 1995, 213,7 nghìn đồng năm 1999 và 348,3 nghìn đồng năm 2004 - gấp 6,5 lần sau 13 năm. Tỷ lệ hộ nghèo giảm liên tục: 20,3% (1993), 18,2% (1994), 17,4% (1995), 13% (1998), 9,3% (1999) và 9,0% (2000) theo tiêu chí cũ. Đến năm 2004, 92,3% số hộ có nhà kiên cố và bán kiên cố, nhà tạm chỉ còn 7,7%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của các chuyển biến trên có thể quy về ba nhóm. Nhóm thứ nhất là thể chế: Luật Đất đai 1993 và Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp (7/1993) trao quyền sử dụng ổn định lâu dài cho hộ nông dân, tạo nền tảng cho kinh tế hộ và kinh tế trang trại. Nhóm thứ hai là đầu tư hạ tầng thủy lợi - hệ số lần trồng đối với cây lúa tăng từ 1,3 năm 1992 lên 1,7 năm 2001, tương đương mức tăng 30,8%. Nhóm thứ ba là phát triển công nghiệp và ngành nghề nông thôn: năm 2001 toàn tỉnh có 17.864 cơ sở sản xuất công nghiệp, gấp 1,8 lần năm 1995 và 7,5 lần năm 1991, tốc độ tăng bình quân 22,35%/năm giai đoạn 1992-2001.

Dữ liệu này nếu trình bày bằng biểu đồ đường kép sẽ làm nổi bật độ dốc khác nhau giữa tăng trưởng thủy sản và tăng trưởng nông nghiệp truyền thống; còn bảng so sánh hai cột 2000-2005 cho nhóm chỉ tiêu hạ tầng sẽ trực quan hóa được khoảng cách giữa các tiêu chí đạt gần 100% (điện lưới, đường ô tô đến trung tâm xã) và các tiêu chí còn dư địa lớn (chợ, nước sạch).

So sánh với các nghiên cứu đi trước, công trình của Đặng Kim Sơn về "Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam - 20 năm đổi mới và phát triển" (Nxb Chính trị Quốc gia, 2007) tiếp cận ở tầm quốc gia, còn bài viết "Xây dựng nông thôn mới vùng chiêm trũng" của tác giả Nhật Tân (Tạp chí Cộng sản số 23, 2007) đề cập đặc thù vùng trũng. Luận văn bổ khuyết ở chỗ tiếp cận dưới góc độ Lịch sử Đảng cấp tỉnh - một khoảng trống mà tác giả xác định là "còn nhiều bỏ ngỏ".

Điểm hạn chế được luận văn chỉ ra khá thẳng thắn: giai đoạn 2001-2005 tỉnh không thành lập ban chỉ đạo mà giao trực tiếp cho các sở, ngành, đoàn thể. Ưu điểm là tiết kiệm kinh phí và triển khai nhanh, nhưng nhược điểm là thiếu bộ tiêu chí cụ thể, khiến việc xây dựng NTM ở trạng thái "dò tìm đường đi". Quy hoạch mạng lưới điểm dân cư nông thôn mới hoàn thành cho 86/120 xã, tương đương 71,7%.

Đề xuất và khuyến nghị

Kiện toàn bộ máy chỉ đạo chuyên trách từ cấp tỉnh xuống cấp xã. Bài học từ giai đoạn 2001-2005 cho thấy mô hình phân tán trách nhiệm khiến 28,3% số xã chưa hoàn thành quy hoạch điểm dân cư. Ban chỉ đạo cần do Bí thư Tỉnh ủy hoặc Chủ tịch UBND tỉnh đứng đầu, có tổ giúp việc thường trực, đặt mục tiêu phủ kín quy hoạch 100% số xã trong vòng 24 tháng kể từ khi thành lập.

Chuyển dịch mạnh cơ cấu lao động nông thôn thông qua đào tạo nghề. Với 74,2% lao động còn nằm trong khu vực nông - lâm - thủy sản, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Hội Nông dân tỉnh cần duy trì và mở rộng quy mô đào tạo, truyền nghề - mức 58.000 người trong 2 năm đã đạt được cho thấy năng lực hệ thống là khả thi. Mục tiêu đề xuất: hạ tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống dưới 60% trong 5 năm, giải quyết việc làm mới cho tối thiểu 16.000 lao động mỗi năm.

Nhân rộng mô hình thủy sản giá trị cao gắn với chế biến. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì mở rộng vùng nuôi tôm sú ven biển Kim Sơn và nuôi cá lồng tại Gia Viễn, Nho Quan - hai huyện đang dẫn đầu về sản lượng nuôi trồng. Từ mức 220.588 triệu đồng giá trị sản xuất năm 2005, mục tiêu tăng gấp đôi trong 5 năm là có cơ sở khi tốc độ giai đoạn 2000-2005 đã đạt hơn 3,6 lần.

Đẩy nhanh kiên cố hóa hạ tầng xã hội theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm". Ngành Giáo dục tỉnh cần nâng tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia từ mức 61% năm 2010 lên trên 80% trong 5 năm tiếp theo. Ngành Y tế cần nâng tỷ lệ trạm y tế có bác sỹ từ 49,7% lên tối thiểu 80%, đây là chỉ tiêu bắt buộc trong bộ tiêu chí quốc gia về NTM.

Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh làm hạt nhân. Ban Tổ chức Tỉnh ủy cần gắn đánh giá tổ chức cơ sở đảng với kết quả xây dựng NTM tại địa bàn, thực hiện định kỳ hằng năm, đồng thời có chính sách giữ chân lực lượng thanh niên - nhóm đang có xu hướng rời nông thôn ra thành thị, gây thiếu hụt nguồn cán bộ kế cận.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng, Chính trị học. Luận văn cung cấp một mẫu nghiên cứu chuẩn về cách khai thác nguồn văn kiện Đảng bộ địa phương (các chương trình hành động số 04, 06, 07, 10, 20 và Chỉ thị 28-CT/TU), cách kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp logic, và cách kết cấu ba chương theo lát cắt thời gian. Đây là khung tham chiếu trực tiếp cho các đề tài cùng dạng ở tỉnh thành khác.

Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện và cấp xã đang triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM. Bài học về ưu - nhược điểm của mô hình không thành lập ban chỉ đạo trong giai đoạn 2001-2005 có giá trị thực tiễn cao, giúp tránh lặp lại tình trạng triển khai thiếu tiêu chí đo lường. Các số liệu nền về hạ tầng, thu nhập, tỷ lệ nghèo là cơ sở đối chiếu khi xây dựng đề án cấp xã.

Nhà nghiên cứu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn. Chuỗi số liệu liên tục từ 1991 đến 2010 về giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản, cơ sở công nghiệp, thu nhập bình quân và tỷ lệ hộ nghèo tạo thành bộ dữ liệu chuỗi thời gian hiếm có ở cấp tỉnh, phục vụ cho các phân tích định lượng về tác động chính sách.

Giảng viên và sinh viên các trường chính trị, trường đại học địa phương như Đại học Hoa Lư. Luận văn dùng làm tài liệu giảng dạy chuyên đề về vận dụng đường lối Đảng vào thực tiễn địa phương, đặc biệt phần phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nông thôn mới và xây dựng con người mới.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn nghiên cứu giai đoạn nào và vì sao chọn mốc thời gian đó? Phạm vi nghiên cứu là 2001-2010. Mốc 2001 gắn với Đại hội IX của Đảng xác định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm, đồng thời là năm Ban Kinh tế Trung ương cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai mô hình điểm phát triển NTM cấp xã tại 14 xã (tăng lên 18 xã năm 2004). Mốc 2010 khép lại chiến lược 10 năm này.

Ninh Bình có những lợi thế và bất lợi gì khi xây dựng nông thôn mới? Lợi thế gồm vị trí trên trục giao thông xuyên Bắc - Nam, cách Hà Nội hơn 90 km, cảng sông công suất 2 triệu tấn/năm, hệ thống sông ngòi dài trên 1.000 km với diện tích 2.607,9 ha, và tiềm năng du lịch lớn. Bất lợi là địa hình không bằng phẳng, hạn hán mùa khô và lũ lụt mùa mưa tại Nho Quan, Gia Viễn, Yên Mô, cùng xuất phát điểm kinh tế thấp.

Đảng bộ tỉnh tổ chức thực hiện xây dựng NTM theo mô hình nào? Giai đoạn 2001-2005 không thành lập ban chỉ đạo riêng mà giao trực tiếp cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Văn hóa - Thông tin, Hội Nông dân, Hội Khuyến nông triển khai từ cấp huyện xuống cơ sở. Mô hình này tiết kiệm kinh phí và linh hoạt theo đặc thù địa phương, nhưng thiếu tiêu chí đo lường thống nhất nên nhiều nội dung chưa đạt yêu cầu.

Kết quả về văn hóa - xã hội đến năm 2005 ra sao? Toàn tỉnh có 63% số gia đình được công nhận gia đình văn hóa, 24 làng và đơn vị đạt danh hiệu làng văn hóa, 21% cơ quan văn hóa, 33% trường học văn hóa, 421/1.168 làng phố văn hóa. 100% số xã có trường học kiên cố, tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi đạt 98%. Toàn tỉnh xây mới 1.791 nhà với tổng vốn 21 tỷ đồng, hoàn thành xóa nhà tranh tre vách đất.

Luận văn đóng góp gì so với các công trình đã công bố? Các công trình trước như của GS.TS Nguyễn Đình Phan về đồng bằng sông Hồng hay PGS.TS Chu Hữu Quý về con đường CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn đều tiếp cận ở tầm vùng hoặc quốc gia. Luận văn là một trong số ít công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ Lịch sử Đảng ở cấp tỉnh, tái hiện đầy đủ tiến trình lãnh đạo và rút ra kinh nghiệm cụ thể.

Kết luận

  • Đảng bộ tỉnh Ninh Bình đã vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng về tam nông vào điều kiện một tỉnh có 85,6% dân cư nông thôn, đưa GDP giai đoạn 2001-2005 tăng 11,96%/năm, cao hơn mức bình quân cả nước 7,5%/năm.

  • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đạt kết quả rõ nét, nổi bật ở ngành thủy sản với giá trị sản xuất tăng gấp 11,5 lần trong 10 năm và sản lượng tôm nuôi gấp 53 lần so với năm 1992.

  • Hạ tầng và đời sống dân cư cải thiện đồng bộ: 1.191 km đường giao thông nông thôn được cứng hóa năm 2005, thu nhập bình quân khu vực nông thôn đạt 348,3 nghìn đồng/tháng, gấp 6,5 lần năm 1991.

  • Hạn chế lớn nhất của giai đoạn 2001-2005 là thiếu bộ tiêu chí và bộ máy chỉ đạo chuyên trách, khiến quy hoạch điểm dân cư mới phủ 86/120 xã và việc xây dựng NTM còn mang tính dò đường.

  • Đóng góp học thuật chính là bổ khuyết khoảng trống nghiên cứu Lịch sử Đảng cấp tỉnh về xây dựng NTM, cung cấp căn cứ khoa học cho hoạch định chính sách giai đoạn tiếp theo.

Các hướng nghiên cứu tiếp nối nên tập trung vào giai đoạn sau 2010 khi bộ 19 tiêu chí quốc gia được áp dụng, đánh giá tính bền vững của kết quả và so sánh với các tỉnh lân cận trong vùng đồng bằng sông Hồng. Độc giả quan tâm đến lịch sử Đảng bộ địa phương và chính sách phát triển nông thôn nên tham khảo toàn văn luận văn để khai thác trọn vẹn hệ thống tư liệu gốc.