Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2001 đến năm 2010

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích ussh đảng bộ tỉnh ninh bình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2001 đến năm 2010, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2012

134
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH NINH BÌNH TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005

1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội của Ninh Bình sau khi tái lập tỉnh năm 1992 ảnh hưởng tới quá trình xây dựng NTM

2. CHƯƠNG 2: ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH NINH BÌNH TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010

3. CHƯƠNG 3: THÀNH TỰU VÀ KINH NGHIỆM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo xây dựng nông thôn mới tại Ninh Bình 2001 2010

Giai đoạn 2001-2010 là thời kỳ quan trọng trong công cuộc xây dựng nông thôn mới tại Ninh Bình. Đảng bộ tỉnh đã xác định rõ vai trò lãnh đạo trong việc phát triển nông thôn, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Các chính sách nông thôn mới được triển khai đồng bộ, tạo ra những chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua để đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

1.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội của Ninh Bình

Ninh Bình có vị trí địa lý thuận lợi, với 86,4% dân số sống ở nông thôn. Tuy nhiên, tỉnh vẫn gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và cơ sở hạ tầng còn yếu kém. Việc phát triển nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ cấp thiết để cải thiện đời sống người dân.

1.2. Chính sách nông thôn mới và vai trò của Đảng bộ

Chính sách nông thôn mới được Đảng bộ tỉnh Ninh Bình triển khai nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển kinh tế. Đảng bộ đã đưa ra nhiều chủ trương, biện pháp cụ thể để thực hiện mục tiêu này, từ đầu tư cơ sở hạ tầng đến phát triển sản xuất nông nghiệp.

II. Những thách thức trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại Ninh Bình

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng quá trình xây dựng nông thôn mới tại Ninh Bình vẫn gặp phải nhiều thách thức. Tình trạng thất nghiệp gia tăng, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị ngày càng lớn, và đời sống vật chất của người dân còn nhiều khó khăn. Những vấn đề này cần được giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững.

2.1. Tình trạng thất nghiệp và di cư

Nhiều thanh niên rời bỏ nông thôn để tìm kiếm việc làm tại các thành phố lớn, dẫn đến tình trạng thiếu lao động trong sản xuất nông nghiệp. Điều này ảnh hưởng đến khả năng phát triển kinh tế của địa phương.

2.2. Khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị

Sự chênh lệch về mức sống, trình độ dân trí giữa nông thôn và thành phố ngày càng gia tăng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống người dân mà còn cản trở sự phát triển đồng bộ của tỉnh.

III. Phương pháp và giải pháp xây dựng nông thôn mới hiệu quả

Để xây dựng nông thôn mới hiệu quả, Ninh Bình đã áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp khác nhau. Từ việc cải cách chính sách đến đầu tư cơ sở hạ tầng, các giải pháp này đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

3.1. Đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn

Đầu tư vào cơ sở hạ tầng như đường giao thông, hệ thống thủy lợi là rất cần thiết để phát triển nông thôn. Những công trình này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất mà còn nâng cao đời sống người dân.

3.2. Phát triển hợp tác xã nông nghiệp

Hợp tác xã nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối nông dân, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ nhau trong sản xuất. Việc phát triển hợp tác xã sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất và tăng thu nhập cho người dân.

IV. Kết quả đạt được trong xây dựng nông thôn mới tại Ninh Bình

Trong giai đoạn 2001-2010, Ninh Bình đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong xây dựng nông thôn mới. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện, cơ sở hạ tầng được nâng cấp, và sản xuất nông nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực.

4.1. Cải thiện đời sống người dân

Nhờ vào các chính sách nông thôn mới, đời sống vật chất của người dân đã được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo giảm, thu nhập bình quân đầu người tăng lên đáng kể.

4.2. Phát triển kinh tế nông thôn

Kinh tế nông thôn đã có sự chuyển biến tích cực, với nhiều mô hình sản xuất mới được áp dụng. Điều này không chỉ giúp tăng năng suất mà còn tạo ra nhiều việc làm cho người dân.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho nông thôn mới tại Ninh Bình

Kết thúc giai đoạn 2001-2010, Ninh Bình đã có những bước tiến quan trọng trong xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, cần tiếp tục cải cách và đổi mới các chính sách, đồng thời phát huy sức mạnh của cộng đồng.

5.1. Định hướng phát triển bền vững

Định hướng phát triển bền vững cần được đặt lên hàng đầu trong các chính sách nông thôn mới. Cần chú trọng đến việc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế đồng bộ.

5.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới là rất quan trọng. Cần tạo điều kiện để người dân có thể tham gia vào các quyết định liên quan đến cuộc sống của họ.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh ninh bình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2001 đến năm 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa. Tháng 3/1989, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) khẳng định những chuyển biến quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, đồng thời bổ sung làm rõ thêm tư tưởng đổi mới, thể hiện ở ba quan điểm lớn: 1) Mọi tổ chức sản xuất kinh doanh do người lao động tự góp vốn, góp sức và quản lý theo nguyên tắc dân chủ, không phân biệt quy mô, trình độ kĩ thuật, mức độ tập thể hóa là hợp tác xã; 2) Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất là các đơn vị kinh tế hợp tác với nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất; 3) Gia đình xã viên đã trở thành đơn vị sản xuất kinh tế tự chủ, ngoài việc nhận khoán sử dụng ruộng đất, thực hiện các hợp đồng với hợp tác xã, còn chủ động phát triển sản xuất kinh doanh dưới nhiều hình thức, khuyến khích xã 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viên làm giàu đồng thời có chính sách, biện pháp cụ thể để giúp các hộ nghèo có thêm điều kiện để vươn lên làm ăn tốt. Đại hội VII của Đảng (6/1991) khẳng định: “Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng NTM là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội. Xây dựng phương án tổng thể trên từng vùng, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý về nông - lâm - ngư - công nghiệp phù hợp với sinh thái vùng, bảo về tài nguyên, gắn phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp với phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến bằng công nghệ thích hợp, xây dựng các điểm kinh tế - kỹ thuật - dịch vụ ở từng vùng và tiểu vùng; xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xã hội ở nông thôn” [22, tr,63].

Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được trong nông nghiệp, nông thôn, để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn, Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng 6/1993) ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Hội nghị đánh giá trực tiếp thực trạng nông nghiệp, nông thôn, xác định mục tiêu, quan điểm đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn từ năm 1993 đến năm 2000, đồng thời đề ra phương hướng và giải pháp cụ thể để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, xây dựng NTM theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Hội nghị xác định mục tiêu: Một là: Phát triển nhanh, vững chắc nông - lâm – ngư, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh để thu hút đại bộ phận lao động dư thừa, tăng năng suất lao động, giải quyết vững chắc nhu cầu lương thực, thực phẩm; đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu cho công nghiệp và tăng nhanh kim ngạnh xuất khẩu, bảo vệ môi trường sinh thái. Hai là: Cải thiện một bước đời sống văn hóa của nông dân, tăng diện giàu và đủ ăn, xóa đói, giảm nghèo.

23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ba là: Xây dựng NTM. Đồng thời qua đó đề ra phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội nông thôn một cách cụ thể, phù hợp. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng 6/1993) đã xác định một hệ thống quan điểm đồng bộ về ba vấn đề lớn: nông nghiệp, nông thôn và nông dân, gắn phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng NTM với nâng cao đời sống của nông dân. Cũng trong giai đoạn này Nhà nước cũng ban hành luật đất xác định những quan điểm cơ bản của Đảng về vấn đề đất đai.

Các hộ tư nhân được đầu tư phát triển giống cây, khai thác đất trống đồi núi trọc ở các vùng trung du miền núi, bãi bồi ven biển, nuôi trồng và khai thác thủy sản, xây dựng các nông - lâm - ngư trại với quy mô thích hợp. Điều này chứng tỏ rằng, Nhà nước đã trao thêm cho các tổ chức kinh tế, cá nhân người lao động và hộ nông dân trách nhiệm và quyền tự chủ sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, trong đó có mô hình kinh tế phát triển theo xu hướng trang trại. Cùng với luật đất đai, Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp được quốc hội thông qua (tháng 7/1993) có vị trí quan trọng đối với sự phát triển của các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế hộ gia đình, khuyến khích hộ gia đình sử dụng có hiệu quả đất đai và đảm bảo công bằng, hợp lý sự đóng góp của hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp và ngân sách của Nhà nước. Các đạo luật trên là cơ sở pháp lý rất quan trọng, tạo nền tảng cho kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển.

Tháng 7/1994, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII ra Nghị quyết “Phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới” [24, tr. Nghị quyết xác định ba chủ trương lớn về phát triển kinh tế công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong năm tới là: CNH, HĐH và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện nông - lâm - ngư 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại khác. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII năm 1996, trên cơ sở đánh giá tình hình 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, bối cảnh trong nước và quốc tế đã xác định mục tiêu, nội dung của CNH và quyết tâm đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. Đại hội cũng xác định rõ các nội dung và giải pháp lớn để thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

Như vậy, xây dựng và phát triển NTM ban đầu là công cuộc xây dựng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Đảng ta có những bước chuyển đổi dần về nhận thức, tư tưởng và lãnh đạo, chỉ đạo. Từ sau năm 1975 đến nay đã trải qua nhiều sửa đổi nhưng vẫn thấy rõ được mặt trận nông nghiệp, phát triển nông thôn, nâng cao mức sống cho nông dân là một trong những mặt trận hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Ninh Bình (1992 - 2000) Nhận thức được rõ tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đồng thời thấm nhuần tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo các cấp, các ngành bắt tay vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là thực hiện công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

Ngay từ những năm đầu tái lập (1992), Ninh Bình có điều kiện để tập trung phát triển cho từng vùng, từng địa phương trong tỉnh. Chính vì vậy, sau những quyết sách hợp lý để xây dựng và phát triển nông thôn đã đưa nông nghiệp, nông thôn tỉnh nhà có những bước khởi sắc, đời sống nhân dân nâng cao về mọi mặt, diện mạo các vùng quê Ninh Bình ngày càng thay đổi lớn so với những năm còn là tỉnh Hà Nam Ninh. Về phát triển kinh tế nông nghiệp: 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đề ra nội dung cơ bản của CNH, HĐH là: “Phát triển toàn diện nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [25, tr.34- 35] trong đó coi trọng phát triển toàn diện nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa.Thực hiện những chủ trương của Đảng đồng thời với hơn 80% số lao động thuộc khu vực nông thôn, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xác định nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng trong xây dựng NTM. Sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo, nông nghiệp, nông thôn Ninh Bình đã đạt được những thành tựu quan trọng và tương đối toàn diện.

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn tỉnh giai đoạn 1992 - 1995 đạt bình quân 13,3%/ năm, giai đoạn 1996 - 2000 đạt 8,3%/ năm và giai đoạn 2001 - 2005 đạt 11,96%/năm, cao hơn so với với tốc độ tăng trưởng của cả nước (7,5%/ năm) trong cùng thời gian nói trên [4, tr. Trong nông nghiệp, kết quả nổi bật là sản xuất lương thực, từ chỗ thiếu lương thực triền miên, đến nay lương thực đủ ăn, có thể dùng cho chăn nuôi, tích lũy, lương thực hàng hóa ngày càng tăng, vấn đề an toàn lương thực được đảm bảo vững chắc. Từ chỗ nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp đến nay đã có bước chuyển biến tích cực, tỷ suất hàng hóa ngày càng cao, ngày càng nhiều sản phẩm là nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến phát triển, tạo ra những sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao. Ngành kinh tế nông nghiệp giai đoạn 1993 đến 2000 đã khẳng định là một ngành có vị trí quan trọng hàng đầu trong toàn bộ nền kinh tế của tỉnh.

Năm 2001, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt hơn 1.369 tỉ đồng (giá so sánh năm 1994) so với năm 1995 tăng 33,9% và gấp 2,1 lần so với năm 1991. Bình 26 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quân mỗi năm trong 10 năm (1992 - 2001) giá trị sản xuất nông nghiệp ở tỉnh nhà đạt tốc độ tăng là 7,8% [4, tr. Trồng trọt vẫn là ngành sản xuất chính, giữ vị trí quan trọng trong toàn bộ sản xuất nông nghiệp. Diện tích cây lúa vẫn chủ yếu trong tổng diện tích gieo trồng hàng năm.

Diện tích cây công nghiệp hàng năm cũng thay đổi theo hướng tăng dần. Năm 1991 tỉ lệ diện tích cây công nghiệp chiếm 6,3%, năm 1995 chiếm 7,8% và đến năm 2000 đạt 8,9% [4, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ