Tổng quan nghiên cứu

Trước năm 2008, huyện Lâm Thao thuộc tỉnh Phú Thọ là một địa phương thuần nông điển hình vùng trung du Bắc Bộ, với tỷ lệ dân số làm nông nghiệp chiếm trên 90% và lực lượng lao động nông nghiệp chiếm tới 78% tổng lao động xã hội. Khu vực nông - lâm - thủy sản đóng góp 34,52% tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP), trong khi hạ tầng kỹ thuật còn thiếu đồng bộ, quy mô sản xuất nhỏ lẻ và tỷ lệ hộ nghèo ở mức 7,6%. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về một chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn diện theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ huyện Lâm Thao hoạch định chủ trương, lãnh đạo hệ thống chính trị và vận động quần chúng nhân dân triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ địa bàn huyện gồm 12 xã và 2 thị trấn với tổng diện tích 12.179,02 ha trong khung thời gian trọng tâm từ năm 2008 đến năm 2014.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa hiệu quả lãnh đạo thông qua hệ thống chỉ số phát triển: nâng thu nhập bình quân đầu người lên trên 32 triệu đồng/năm (tăng gấp 1,5 lần so với năm 2010), giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 3,57%, và đưa Lâm Thao trở thành huyện đầu tiên của tỉnh Phú Thọ đạt giá trị canh tác bình quân 120 triệu đồng/ha/năm. Kết quả này cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác xây dựng nông thôn mới tại các địa phương có điều kiện tự nhiên tương đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp, vai trò của giai cấp nông dân và củng cố khối liên minh công - nông - trí thức trong thời kỳ quá độ. Nghiên cứu tích hợp hệ thống quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua Nghị quyết Trung ương 7 khóa X, xác định nông dân là chủ thể của quá trình phát triển kinh tế nông thôn.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên khung đánh giá của Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới ban hành theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 và Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ, bao gồm 19 tiêu chí phân thành 5 nhóm trụ cột: Quy hoạch, Hạ tầng kinh tế - xã hội, Kinh tế và tổ chức sản xuất, Văn hóa - Xã hội - Môi trường, và Hệ thống chính trị. Bên cạnh đó, luận văn làm rõ các khái niệm cốt lõi: công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, kinh tế trang trại tập trung, dồn điền đổi thửa và cơ chế liên kết bốn nhà (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hệ thống văn kiện chính thức của Đảng bộ huyện Lâm Thao khóa XVI, XVII; các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định chỉ đạo của Ủy ban nhân dân huyện; báo cáo chuyên đề từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ cùng các niên giám thống kê giai đoạn 2008–2014.

Cỡ mẫu khảo sát bao gồm toàn diện 14 đơn vị hành chính cơ sở trực thuộc huyện, trong đó thực hiện nghiên cứu trường hợp chuyên sâu tại xã điểm Sơn Dương (xã được tỉnh Phú Thọ chọn làm thí điểm) và phân tích đối sánh tại 11 xã nông nghiệp khác như Cao Xá, Vĩnh Lại, Tứ Xã, Bản Nguyên, Kinh Kệ. Phương pháp chọn mẫu toàn phần kết hợp điển hình hóa giúp phản ánh bức tranh toàn cảnh về tiến độ hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới.

Tác giả sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic để phân kỳ tiến trình lãnh đạo qua hai giai đoạn: 2008–2010 (khởi động, thí điểm) và 2011–2014 (đẩy mạnh, hoàn thiện). Phương pháp phân tích số liệu thống kê định lượng, so sánh đối chiếu và tổng kết thực tiễn được lựa chọn nhằm đảm bảo tính khách quan, khoa học, giúp tái hiện sinh động bức tranh phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình hàng hóa chất lượng cao. Tỷ lệ gieo cấy lúa lai và lúa chất lượng cao đạt gần 70% diện tích, nâng năng suất lúa bình quân toàn huyện lên 61 tạ/ha (tăng 6 tạ/ha so với năm 2010). Địa phương đã quy hoạch thành công 5 vùng sản xuất lúa tập trung tại 12 xã, nổi bật là 2 vùng lúa chất lượng cao tại Cao Xá và Vĩnh Lại với quy mô 100 ha/vùng, 1 vùng sản xuất ngô giống 80 ha tại Kinh Kệ, 3 vùng rau an toàn 20 ha và 420 ha diện tích nuôi trồng thủy sản.

Thứ hai, mức độ cơ giới hóa nông nghiệp tăng vọt, đạt tỷ lệ trung bình khoảng 65% trên các khâu canh tác. Trong đó, khâu làm đất và khâu vận chuyển đạt 100%, khâu thu hoạch đạt 40% và khâu gieo cấy đạt 20%. Toàn huyện phát triển được 39 trang trại đạt chuẩn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hơn 300 mô hình kinh tế hộ chăn nuôi kết hợp thủy sản quy mô lớn và 6 làng nghề thủ công truyền thống hoạt động hiệu quả.

Thứ ba, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội và chất lượng cuộc sống người dân có sự bứt phá rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt trên 32 triệu đồng/năm vào năm 2014. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ mức 7,6% trước năm 2008 xuống còn dưới 3,57% năm 2014 (giảm 3,72% so với năm 2010). Đến cuối năm 2014, 100% số xã trên địa bàn đạt tiêu chí số 18 (hệ thống chính trị vững mạnh) và tiêu chí số 19 (an ninh trật tự xã hội). Xã điểm Sơn Dương đạt 16/19 tiêu chí, 4 xã đạt 14 tiêu chí (Vĩnh Lại, Cao Xá, Sơn Vi, Thạch Sơn), 2 xã đạt 13 tiêu chí (Tứ Xã, Kinh Kệ), không còn xã nào dưới 9 tiêu chí.

Thảo luận kết quả

Thành công trong sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Lâm Thao bắt nguồn từ việc phát huy tối đa vai trò chủ thể của người dân theo phương châm "dựa vào nội lực là chính, Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ". Minh chứng rõ nét là năm 2010, nguồn vốn đối ứng tự nguyện của nhân dân đạt 4.220 triệu đồng, vượt mức hỗ trợ 3.550 triệu đồng từ ngân sách Nhà nước trong thực hiện các dự án phát triển sản xuất.

Dữ liệu nghiên cứu về sự phân hóa kết quả giữa các nhóm xã có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện mức tăng trưởng thu nhập song song với tốc độ giảm nghèo giai đoạn 2008–2014. Đồng thời, một bảng ma trận thống kê 19 tiêu chí nông thôn mới giữa 12 xã sẽ làm nổi bật sự chênh lệch giữa các xã đồng bằng ven sông Thao (như Cao Xá, Vĩnh Lại) và các xã vùng đồi gò bán sơn địa (như Xuân Lũng, Tiên Kiên).

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại vùng đồng bằng sông Hồng hay một số huyện trung du lân cận, mô hình của Đảng bộ huyện Lâm Thao thể hiện tính ưu việt ở tốc độ dồn điền đổi thửa và khả năng thu hút công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp để giải quyết việc làm tại chỗ, hạn chế tình trạng ly nông ly hương. Tuy vậy, hạn chế tồn tại là khâu xử lý môi trường rác thải sinh hoạt nông thôn và tỷ lệ kiên cố hóa đường trục chính nội đồng ở một số xã vùng sâu còn chậm do áp lực kinh phí đầu tư.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, mở rộng quy mô dồn điền đổi thửa và đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật cao. Ủy ban nhân dân huyện phối hợp với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo mở rộng diện tích cánh đồng mẫu lớn, phấn đấu nâng tỷ lệ cơ giới hóa khâu gieo cấy từ 20% lên trên 50% và khâu thu hoạch đạt trên 80% trong giai đoạn 2015–2020.

Thứ hai, đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho phát triển hạ tầng kỹ thuật nông thôn. Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp huyện và các xã cần xây dựng cơ chế linh hoạt nhằm thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp, lồng ghép hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia để kiên cố hóa 100% hệ thống kênh mương tưới tiêu và nhựa hóa các tuyến đường giao thông liên xã trước năm 2018.

Thứ ba, nâng cao chuỗi giá trị nông sản và phát triển làng nghề bền vững. Các Hợp tác xã nông nghiệp chủ động ký kết hợp đồng tiêu thụ với các siêu thị, nhà máy chế biến nông sản tại Hà Nội và Việt Trì. Ủy ban nhân dân huyện cần hỗ trợ bảo hộ nhãn hiệu tập thể cho 6 làng nghề truyền thống, mục tiêu nâng giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác đạt mốc 150 triệu đồng/năm vào năm 2018.

Thứ tư, đổi mới phương thức đào tạo nghề và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cơ sở. Trung tâm Dạy nghề huyện cùng các tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên) triển khai các khóa tập huấn kỹ năng chuyển đổi nghề phi nông nghiệp cho ít nhất 1.500 lao động mỗi năm, gắn đào tạo với giải quyết việc làm tại các cụm công nghiệp địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ lãnh đạo, cơ quan quản lý Nhà nước và Ban Chỉ đạo nông thôn mới các cấp: Tài liệu cung cấp kinh nghiệm thực tiễn về quy trình xây dựng quy hoạch phân kỳ, kinh nghiệm lựa chọn xã điểm và phương thức phân bổ ngân sách đầu tư hạ tầng có trọng tâm.

Nhóm nghiên cứu viên, giảng viên chuyên ngành Lịch sử Đảng và Xây dựng Đảng: Luận văn là công trình chuyên khảo cung cấp tư liệu lịch sử xác thực, phương pháp luận nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ cấp huyện trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Nhóm học viên cao học, sinh viên ngành Nông nghiệp, Kinh tế phát triển và Xã hội học nông thôn: Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về cấu trúc phân tích số liệu thực địa, kỹ năng đánh giá tác động chính sách kinh tế vĩ mô đến đời sống hộ nông dân.

Nhóm quản lý Hợp tác xã, chủ trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp: Cung cấp góc nhìn thực tế về quy hoạch vùng sản xuất tập trung, mô hình liên kết bốn nhà và các bài học kinh nghiệm phát triển kinh tế tập thể tại địa bàn trung du.

Câu hỏi thường gặp

Thu nhập bình quân đầu người tại huyện Lâm Thao thay đổi như thế nào sau giai đoạn 2008–2014?
Nhờ chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang sản xuất hàng hóa và công nghiệp - dịch vụ, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn của huyện đã tăng từ khoảng 21 triệu đồng năm 2010 lên trên 32 triệu đồng/người/năm vào năm 2014, tức tăng trưởng gấp 1,5 lần sau 4 năm chỉ đạo quyết liệt.

Mức độ cơ giới hóa nông nghiệp của địa phương đạt được kết quả cụ thể ra sao?
Tính đến năm 2014, tỷ lệ cơ giới hóa toàn huyện đạt khoảng 65%. Trong đó, 100% diện tích canh tác được cơ giới hóa khâu làm đất và vận chuyển, tỷ lệ thu hoạch bằng máy đạt 40%, và khâu gieo cấy bằng máy bắt đầu được áp dụng tại các vùng sản xuất tập trung với tỷ lệ đạt 20%.

Xã nào tại Lâm Thao được lựa chọn làm điểm xây dựng nông thôn mới và kết quả đạt được là gì?
Xã Sơn Dương được Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ và Huyện ủy Lâm Thao chọn làm mô hình điểm. Nhờ tập trung nguồn lực và chỉ đạo sát sao, xã Sơn Dương đã nhanh chóng đạt 16/19 tiêu chí vào năm 2014, dẫn đầu phong trào xây dựng nông thôn mới trên toàn huyện.

Chính sách giảm nghèo khu vực nông thôn đạt hiệu quả như thế nào qua các số liệu chứng minh?
Tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện Lâm Thao đã giảm mạnh từ mức 7,6% trước năm 2008 xuống còn 7,29% năm 2010 và tiếp tục giảm sâu xuống dưới 3,57% vào cuối năm 2014, trung bình mỗi năm giảm hơn 0,9% tỷ lệ hộ nghèo.

Phương thức huy động vốn xã hội hóa trong nhân dân tại huyện Lâm Thao có điểm gì đặc thù?
Địa phương thực hiện triệt để nguyên tắc công khai, dân chủ để người dân tự nguyện đóng góp. Điển hình trong năm 2010, vốn đối ứng của nhân dân cho các dự án sản xuất đạt 4.220 triệu đồng, cao hơn 1,18 lần so với vốn ngân sách Nhà nước hỗ trợ (3.550 triệu đồng).

Kết luận

Luận văn đã hệ thống hóa đường lối của Đảng và đánh giá toàn diện tiến trình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ huyện Lâm Thao giai đoạn 2008–2014.

Công trình ghi nhận sự bứt phá vượt bậc về kinh tế nông thôn khi đưa giá trị canh tác đạt 120 triệu đồng/ha/năm và nâng cao năng suất lúa lên 61 tạ/ha.

Nghiên cứu chứng minh sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của người dân từ tâm lý trông chờ sang tinh thần chủ thể kiến thiết nông thôn.

Hệ thống bài học kinh nghiệm được đúc rút có giá trị tham khảo thực tiễn cao cho Đảng bộ tỉnh Phú Thọ và các tỉnh trung du Bắc Bộ trong giai đoạn tiếp theo.

Các bước tiếp theo cần tập trung nghiên cứu hoàn thiện bộ tiêu chí nông thôn mới nâng cao và kiểu mẫu giai đoạn 2016–2020 trên nền tảng kết quả đạt được.

Để tìm hiểu chi tiết toàn bộ số liệu thống kê và mô hình chuyển dịch cơ cấu cây trồng cụ thể của từng xã, độc giả nên đón đọc toàn văn công trình nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương này.