Lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại huyện Đan Phượng, Hà Nội (2001-2012)

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh đảng bộ huyện đan phượng hà nội lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 2001 đến năm, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2015

146
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐAN PHƯỢNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2008

1.1. Một số khái niệm có liên quan

1.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (1998-2008)

1.3. Khái quát chung về huyện Đan Phượng

1.4. Tình hình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Đan Phượng trước năm 2001

1.5. Chủ trương của Đảng bộ huyện Đan Phượng về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (2001-2008)

1.6. Quá trình Đảng bộ huyện Đan Phượng chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 2001 đến năm 2008

1.7. Tác động của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đối với sự phát triển ổn định của huyện Đan Phượng (2001-2008)

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐAN PHƯỢNG TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ (2008-2012)

2.1. Những yêu cầu mới đặt ra đối với Đảng bộ huyện Đan Phượng trong lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (2008-2012)

2.2. Đảng bộ huyện Đan Phượng lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 2008 đến năm 2012

2.3. Chủ trương của Đảng bộ huyện Đan Phượng về tiếp tục thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (2008-2012)

2.4. Quá trình Đảng bộ huyện Đan Phượng chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 2008 đến năm 2012

2.5. Tác động của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đến phát triển kinh tế-xã hội huyện Đan Phượng từ năm 2008 đến năm 2012

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Một số nhận xét

3.2. Một số hạn chế

3.3. Một số kinh nghiệm

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở huyện Đan Phượng 2001 2012

Lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở huyện Đan Phượng từ năm 2001 đến 2012 là một quá trình quan trọng trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Quy chế dân chủ cơ sở không chỉ là một chính sách mà còn là một phương thức quản lý, giúp nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo của Đảng bộ huyện. Trong giai đoạn này, huyện Đan Phượng đã có những bước tiến đáng kể trong việc thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước về dân chủ cơ sở.

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của quy chế dân chủ

Quy chế dân chủ là một khái niệm quan trọng trong hệ thống chính trị Việt Nam, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân. Nó không chỉ giúp người dân tham gia vào các quyết định liên quan đến cuộc sống mà còn tạo ra một môi trường chính trị minh bạch và công bằng.

1.2. Lịch sử hình thành quy chế dân chủ ở Đan Phượng

Quy chế dân chủ ở huyện Đan Phượng đã được hình thành và phát triển từ những năm đầu của thế kỷ 21, với sự chỉ đạo sát sao của Đảng bộ huyện. Những văn bản chỉ đạo và chính sách đã được ban hành nhằm cụ thể hóa các mục tiêu dân chủ cơ sở.

II. Những thách thức trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở Đan Phượng 2001 2012

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng việc thực hiện quy chế dân chủ ở huyện Đan Phượng cũng gặp không ít thách thức. Những khó khăn này chủ yếu đến từ nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về quy chế dân chủ, cũng như sự thiếu đồng bộ trong triển khai các chính sách.

2.1. Nhận thức của cán bộ và nhân dân về quy chế dân chủ

Một trong những thách thức lớn nhất là nhận thức của một bộ phận cán bộ và nhân dân về quy chế dân chủ còn hạn chế. Điều này dẫn đến việc thực hiện quy chế đôi khi mang tính hình thức, không phát huy được hiệu quả.

2.2. Thiếu sự đồng bộ trong triển khai chính sách

Việc thiếu sự đồng bộ trong triển khai các chính sách từ cấp trên xuống cấp dưới đã gây khó khăn trong việc thực hiện quy chế dân chủ. Nhiều chính sách chưa được cụ thể hóa thành các hành động thiết thực tại cơ sở.

III. Phương pháp lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở Đan Phượng 2001 2012

Đảng bộ huyện Đan Phượng đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo khác nhau để thực hiện quy chế dân chủ. Những phương pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo mà còn tạo ra sự đồng thuận trong nhân dân.

3.1. Tăng cường công tác tuyên truyền về quy chế dân chủ

Công tác tuyên truyền được coi là một trong những phương pháp quan trọng nhất. Đảng bộ huyện đã tổ chức nhiều buổi tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân về quy chế dân chủ.

3.2. Xây dựng cơ chế giám sát và phản biện xã hội

Việc xây dựng cơ chế giám sát và phản biện xã hội đã giúp người dân tham gia vào quá trình quản lý nhà nước. Điều này không chỉ nâng cao tính minh bạch mà còn tạo ra sự tin tưởng giữa nhân dân và chính quyền.

IV. Kết quả thực hiện quy chế dân chủ ở Đan Phượng 2001 2012

Kết quả thực hiện quy chế dân chủ ở huyện Đan Phượng trong giai đoạn 2001-2012 đã mang lại nhiều thành tựu đáng kể. Những thành tựu này không chỉ thể hiện qua các chỉ số phát triển kinh tế mà còn qua sự hài lòng của người dân đối với chính quyền.

4.1. Tăng cường sự tham gia của nhân dân

Sự tham gia của nhân dân vào các quyết định của chính quyền đã được nâng cao. Người dân không chỉ được thông báo mà còn có cơ hội đóng góp ý kiến trong các vấn đề quan trọng.

4.2. Cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân

Việc thực hiện quy chế dân chủ đã góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân. Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội được triển khai hiệu quả hơn nhờ sự tham gia của nhân dân.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai của quy chế dân chủ ở Đan Phượng

Kết luận về quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở huyện Đan Phượng từ năm 2001 đến 2012 cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục phát huy và hoàn thiện quy chế này trong tương lai. Những bài học kinh nghiệm từ giai đoạn này sẽ là nền tảng cho việc nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng bộ huyện trong thời gian tới.

5.1. Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn cho thấy rằng việc nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân là rất quan trọng. Cần có những biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình này.

5.2. Định hướng phát triển quy chế dân chủ trong tương lai

Định hướng phát triển quy chế dân chủ trong tương lai cần tập trung vào việc xây dựng cơ chế giám sát hiệu quả và phát huy vai trò của nhân dân trong quản lý nhà nước.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện đan phượng hà nội lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở từ năm 2001 đến năm 2012

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Đan Phượng trong thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (2001-2008). Chương 2: Đảng bộ huyện Đan Phượng tăng cường lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (2008-2012). Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm. ~ 14 ~ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐAN PHƢỢNG TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ (2001-2008) 1.

Một số khái niệm có liên quan Thứ nhất, khái niệm “dân chủ” : Thuật ngữ dân chủ ra đời vào khoảng thế kỷ thứ VI, VII TCN. Theo đánh giá của Arustotle (384 - 322 TCN) thì Solon (khoảng 638 - 559 TCN) là người đầu tiên đặt nền tảng cho nguyên lý dân chủ. Solon mong muốn xây dựng một nhà nước trên cơ sở một nền dân chủ thông qua tuyển cử và hòa nhập sức mạnh với pháp luật. Lý thuyết về dân chủ đã trải qua quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử nhân loại.

Những giá trị của dân chủ là kết quả cuộc đấu tranh bền bỉ của các lực lượng tiến bộ chống lại các thế lực phản động. Việc thực thi nền dân chủ của nhân loại được bắt đầu từ xã hội Athen cổ đại. “Dân chủ” theo gốc tiếng Hy Lạp là "demokratia" nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến cuộc sống, bản thân và xã hội, được tham dự trực tiếp vào hoạt động của nhà nước.

Tuy nhiên, đối tượng người dân được thực thi quyền dân chủ trong xã hội Hy Lạp chỉ bao gồm một bộ phận nhỏ những người có tài sản và là công dân tự do. Dân chủ không dành cho nô lệ, hay dân ngụ cư- vốn là thành phần chiếm số đông trong xã hội. Tương tự như vậy, ở La Mã cổ đại, chỉ tầng lớp hữu sản mới được tham gia đại hội nhân dân. Khái niệm “dân chủ” được hiểu là “một thể chế do dân làm chủ” chỉ xuất hiện trong cách mạng tư sản.

Tại M , cựu Tổng thống Abraham Lincoln tuyên bố “dân chủ” là một chính quyền của dân, do dân và vì dân, đối lập với chế độ độc tài. Tiếp đó, cựu Tổng thống R. Reagan cũng cho rằng: “dân chủ” không chỉ là biện pháp cai trị mà còn là biện pháp giới hạn quyền lực của chính phủ để nó không ngăn cản sự phát triển những giá trị quan trọng nhất mà con người nhận được từ gia đình và nhà trường. Chủ nghĩa Mác- Lênin coi “dân chủ” là một hình thức chính quyền dựa trên nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của công dân.

Tuy nhiên, dân chủ cần được đặt trong mối liên hệ với pháp luật. Pháp luật là điều kiện quan trọng đảm bảo việc thực hiện dân chủ. ~ 15 ~ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dân chủ bao giờ cũng được biểu hiện trong thực tiễn hết sức phong phú, đa dạng với những trình độ, cấp độ rất khác nhau. Nền dân chủ của các xã hội khác nhau có những nét tương đồng nhưng cũng có những nét khác biệt.

Chính những nét tương đồng và những đặc điểm chung làm nên tính phổ quát của dân chủ. Không có một nền dân chủ chung chung, không bản sắc, phù hợp với mọi quốc gia, mọi dân tộc. Do đó, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng không thể mang nền dân chủ của xã hội này làm khuôn mẫu áp đặt cho nền dân chủ của xã hội khác. Thứ hai, về “dân chủ xã hội chủ nghĩa”: Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ, xã hội mới.

Xây dựng nền dân chủ XHCN là một trong những nhiệm vụ lâu dài và trọng yếu của các thể chế đi theo định hướng XHCN, đảm bảo tất cả quyền lực thuộc về quần chúng nhân dân. Như đã nêu ở trên, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, dân chủ là một hiện tượng lịch sử gắn liền với xã hội có giai cấp và được biến đổi dưới nhiều hình thức khác nhau trong điều kiện của các hình thái kinh tế - xã hội. Trong xã hội XHCN, dân chủ có một chất lượng mới, phát triển đầy đủ hơn nội dung quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ XHCN là bước phát triển cao hơn về chất so với các kiển dân chủ trong lịch sử.

Nền dân chủ XHCN dựa trên những cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội vững chắc. Thứ nhất, về kinh tế, dân chủ XHCN dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Thứ hai, mọi người đều được tham gia vào các công việc của nhà nước. Thứ ba, Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội, và là nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh vì nền dân chủ XHCN.

Tuy nhiên, hiện nay, CNXH và nền dân chủ XHCN chưa ở trình độ thuần thục và còn đang trong quá trình hình thành và phát triển để trở thành một hiện thực phổ biến, mang lại những giá trị thực sự cho nhân dân lao động. Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dày công nghiên cứu lý luận về dân chủ và các giải pháp tích cực để phát huy dân chủ. Đảng ta luôn xác định: Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Nhà nước thừa nhận quyền ~ 16 ~ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tự do, bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực.

Quyền làm chủ của nhân dân từng bước được thể chế hóa thành quy định, nguyên tắc tổ chức, vận hành của Nhà nước và thể chế chính trị tạo nên chế độ dân chủ.Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam hơn tám thập niên qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn việc thực thi dân chủ với các mục tiêu chiến lược: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Trong tiến trình cách mạng, ở mỗi chặng đường gắn với nhiệm vụ cụ thể, quan điểm của Đảng về thực thi dân chủ được cụ thể hóa thành các mục tiêu phù hợp. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (1951), trước nhiệm vụ chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng ta xác định: Chính quyền Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam phải là chính quyền nhà nước tiêu biểu cho lợi ích của tất cả các giai cấp, các tầng lớp nhân dân yêu nước và dân chủ. Trước những thời cơ và vận hội mới khi đất nước thống nhất, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) đã đề ra nhiệm vụ xây dựng chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động, sao cho nhân dân xứng đáng là người chủ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và chinh phục tự nhiên.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986), đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới, Đảng đã đặc biệt nhấn mạnh phải thực hiện nề nếp khẩu hiệu dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, tất cả là vì dân và do dân, để nhân dân tham gia quản lý kinh tế, quản lý xã hội; quán triệt quan điểm “Lấy dân làm gốc”, tăng cường quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng. Đại hội VII (1991), Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và xác định: Nhà nước phải liên hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (1996) chỉ rõ: Xây dựng Nhà nước XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng nền dân chủ XHCN là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta.

Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước; thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X (2006) tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ: xây dựng một xã hội dân chủ, xác định các hình thức tổ chức và có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền dân chủ trên các lĩnh ~ 17 ~ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và khẳng định: phát huy dân chủ là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với tiến trình phát triển của đất nước. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011), quan điểm của Đảng về dân chủ và phát huy dân chủ ở Việt Nam tiếp tục là sự kế thừa và phát triển có chọn lọc các giá trị nhân loại, phù hợp với điều kiện của đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam đã quán triệt sâu sắc và hoàn thiện hơn hệ mục tiêu XHCN: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Dân chủ không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực phát triển của đất nước, vì nó phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác, giải phóng năng lực sáng tạo của con người… Dân chủ và phát huy dân chủ, là một nội dung lớn, quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng ta. Đây là kết quả của quá trình tiến hành tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận của Đảng trong suốt quá trình hơn 80 năm lãnh đạo và gần 30 đổi mới đất nước. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đồng thời cũng là nền tảng chống lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế.2, Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (1998-2008) Nhận thức ý nghĩa quan trọng của thực hiện QCDCOCS trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng và thực hiện QCDCOCS. Coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước Trong những năm đầu đổi mới, nền dân chủ XHCN đã được thực thi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ