Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh thái nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ 1997 đến 2005

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng bộ tỉnh thái nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ 1997 đến 2005, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2007

124
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TỪ 1997 ĐẾN 2000

1.1. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở ĐỊA BÀN THÁI NGUYÊN TRƯỚC 1997

1.2. Đặc điểm tỉnh Thái Nguyên ảnh hưởng tới quá trình đề ra chủ trương và thực thi chính sách dân tộc

1.3. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta và việc quán triệt thực hiện chính sách dân tộc ở địa bàn Thái Nguyên trước năm 1997

1.4. Chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên và sự chỉ đạo thực hiện từ 1997 đến 2000

1.5. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên với định hướng lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc

1.6. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo tổ chức thực hiện chính sách dân tộc từ 1997 đến 2000

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TỪ 2001 ĐẾN 2005

2.1. Bối cảnh lịch sử những năm đầu thế kỷ XXI ảnh hưởng tới quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên

2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ 2001 đến 2005

2.3. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên vận dụng và cụ thể hóa chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách dân tộc

2.4. Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo tổ chức thực hiện chính sách dân tộc từ 2001 đến 2005

3. CHƯƠNG 3: THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ KINH NGHIỆM LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ 1997 ĐẾN 2005

3.1. Thành tựu và hạn chế

3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu về lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên

3.2.1. Kết hợp chặt chẽ sự giúp đỡ của Trung ương, tương trợ của các địa phương khác, với tinh thần nỗ lực tự thân trong thực hiện chính sách dân tộc

3.2.2. Phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị địa phương nhất là ở cấp cơ sở trong thực hiện chính sách dân tộc

3.2.3. Phải xác định được trọng tâm, trọng điểm để đầu tư các nguồn lực, tạo ra các bước phát triển đột phá

3.2.4. Mỗi tổ chức Đảng và Đảng viên phải thấm nhuần sâu sắc phương châm hướng về cơ sở, hướng về cộng đồng dân cư trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc

3.2.5. Phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của đồng bào dân tộc thiểu số trong việc thực hiện chính sách dân tộc ở địa bàn cơ sở

Danh mục tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc tại Thái Nguyên 1997 2005

Chính sách dân tộc tại Thái Nguyên từ năm 1997 đến 2005 đã được Đảng bộ tỉnh lãnh đạo thực hiện với nhiều chủ trương và biện pháp cụ thể. Thái Nguyên, với sự đa dạng về dân tộc, đã có những chính sách nhằm phát huy sức mạnh của các dân tộc thiểu số, đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội, kinh tế. Việc thực hiện chính sách này không chỉ nhằm mục tiêu phát triển kinh tế mà còn củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

1.1. Đặc điểm dân tộc và tình hình xã hội tại Thái Nguyên

Thái Nguyên là tỉnh có 8 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất. Các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Dao, Hmông cũng đóng góp vào sự đa dạng văn hóa của tỉnh. Tình hình xã hội tại Thái Nguyên trước năm 1997 có nhiều thách thức, đặc biệt là vấn đề nghèo đói và phát triển kinh tế.

1.2. Vai trò của Đảng bộ tỉnh trong lãnh đạo chính sách dân tộc

Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã có những chủ trương rõ ràng trong việc lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc. Các nghị quyết và chỉ thị của Đảng đã được triển khai đến từng cấp cơ sở, nhằm đảm bảo sự đồng bộ và hiệu quả trong thực hiện chính sách.

II. Những thách thức trong thực hiện chính sách dân tộc tại Thái Nguyên 1997 2005

Mặc dù có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện chính sách dân tộc, Thái Nguyên vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Khoảng cách phát triển giữa các dân tộc vẫn còn lớn, và một số vấn đề xã hội như xói mòn bản sắc văn hóa cũng đang diễn ra.

2.1. Khoảng cách phát triển giữa các dân tộc

Sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh vẫn là một vấn đề lớn. Các chính sách phát triển kinh tế chưa thực sự mang lại lợi ích đồng đều cho tất cả các dân tộc.

2.2. Bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc

Bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số đang bị đe dọa bởi sự phát triển kinh tế và đô thị hóa. Việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống cần được chú trọng hơn trong các chính sách.

III. Phương pháp lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc tại Thái Nguyên 1997 2005

Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo khác nhau để thực hiện chính sách dân tộc. Các phương pháp này bao gồm việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng, phối hợp với các tổ chức xã hội và chính quyền địa phương.

3.1. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Việc khuyến khích cộng đồng dân tộc thiểu số tham gia vào quá trình ra quyết định và thực hiện chính sách là rất quan trọng. Điều này giúp nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân đối với chính sách.

3.2. Phối hợp với các tổ chức xã hội

Đảng bộ tỉnh đã hợp tác với các tổ chức xã hội để triển khai các chương trình phát triển kinh tế và xã hội cho các dân tộc thiểu số. Sự phối hợp này giúp tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách.

IV. Kết quả thực hiện chính sách dân tộc tại Thái Nguyên 1997 2005

Kết quả thực hiện chính sách dân tộc tại Thái Nguyên trong giai đoạn này đã đạt được một số thành tựu nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững cho các dân tộc thiểu số.

4.1. Thành tựu trong phát triển kinh tế

Nhiều chương trình phát triển kinh tế đã được triển khai, giúp cải thiện đời sống của người dân. Tuy nhiên, cần có những giải pháp mạnh mẽ hơn để đảm bảo sự phát triển đồng đều.

4.2. Đánh giá hiệu quả chính sách

Việc đánh giá hiệu quả của các chính sách dân tộc là cần thiết để rút ra bài học kinh nghiệm cho các giai đoạn tiếp theo. Các chỉ số về phát triển kinh tế, xã hội cần được theo dõi và phân tích thường xuyên.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho chính sách dân tộc tại Thái Nguyên

Kết luận về quá trình thực hiện chính sách dân tộc tại Thái Nguyên từ 1997 đến 2005 cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục cải thiện và điều chỉnh các chính sách để phù hợp với tình hình thực tế. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc phát huy vai trò của các dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế và xã hội.

5.1. Đề xuất giải pháp cho chính sách dân tộc

Cần có những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình phát triển của các dân tộc thiểu số, bao gồm việc đầu tư vào giáo dục, y tế và phát triển kinh tế.

5.2. Tương lai của chính sách dân tộc tại Thái Nguyên

Chính sách dân tộc tại Thái Nguyên cần được điều chỉnh để phù hợp với xu hướng phát triển mới, đồng thời bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh thái nguyên lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ 1997 đến 2005

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TỪ 1997 ĐẾN 2000 1. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở ĐỊA BÀN THÁI NGUYÊN TRƢỚC 1997 1. Đặc điểm tỉnh Thái Nguyên ảnh hƣởng tới quá trình đề ra chủ trƣơng và thực thi chính sách dân tộc Thái Nguyên là tỉnh thuộc khu vực miền núi và trung du Bắc Bộ, là trung tâm của vùng Đông Bắc, có vị trí tiếp giáp với đồng bằng Bắc Bộ và miền núi phía Bắc, là vùng nối giữa thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi phía Bắc.

Trong quá trình lịch sử, địa danh và địa giới Thái Nguyên cũng có nhiều sự thay đổi. Vào thời Hùng Vương vùng đất Thái Nguyên thuộc bộ Vũ Định, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Vào thế kỷ X- thời nhà Đinh, Tiền Lê đã chia đất nước ra làm 10 đạo, đến năm 1010 khi Lý Thái Tổ lên ngôi thay đổi 10 đạo thành 24 lộ, các vùng xa xôi gọi là châu, Thái Nguyên là một trong các châu thời ấy. Tới thời Minh Mạng thứ 12 (1831) đất nước được chia thành các tỉnh hạt, từ đó trấn Thái Nguyên được đổi thành tỉnh Thái Nguyên.

Vào thời thuộc Pháp, năm 1900 chính quyền thực dân cho tách phủ Thông Hóa ra thành tỉnh Bắc Kạn gồm 5 huyện: Na Rì, Chợ Rã, Ngân Sơn, Chợ Đồn và Bạch Thông. Ngày 21/4/1965, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định hợp nhất hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái. Năm 1985 thành lập thêm một đơn vị hành chính là thị xã Sông Công. Ngày 6/11/1996, tại kỳ họp thứ 10, khóa IX Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra nghị quyết về việc phân chia lại địa giới hành chính một số tỉnh và Bắc Thái lại được tách thành hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn.

Kể 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ ngày 1/1/1997, các đơn vị hành chính của tỉnh Thái Nguyên chính thức đi vào hoạt động [3, tr. Ngày 22/12/1996, Bộ Chính trị ra Quyết định 131/QĐNS/TW về việc kết thúc hoạt động của Đảng bộ và Tỉnh ủy Bắc Thái, đồng thời thành lập Đảng bộ Thái Nguyên và chỉ định Ban Chấp hành lâm thời. Đảng bộ Thái Nguyên chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1997. Như vậy, sau 30 năm hợp nhất với tỉnh Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái, năm 1997, tỉnh Thái Nguyên được tái lập với diện tích tự nhiên là 3.11], gồm 9 đơn vị hành chính: các huyện Định Hóa, Võ Nhai, Phú Lương, Đại Từ, Đồng Hỷ, Phổ Yên, Phú Bình, thị xã Sông Công, thành phố Thái Nguyên, với 177 xã, phường, thị trấn (trong đó có 125 xã, thị trấn miền núi, vùng cao, chiếm 71,18%).

Dân số vào thời điểm cuối năm 1997 là 1.123 người [25, tr.3], thuộc 8 thành phần dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chí, Dao, Hmông, Hoa. Toàn Đảng bộ có 44.449 đảng viên sinh hoạt ở 651 đảng bộ cơ sở [25, tr. Thái Nguyên có giới hạn từ 20020’ vĩ tuyết bắc đến 22003’ vĩ tuyết bắc và từ 105028’ kinh tuyến đông đến 106014’ kinh tuyến đông; có diện tích tự nhiên 3.541,1 km2; Phía Bắc giáp Bắc Kạn, phía Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Đông giáp Lạng Sơn, Bắc Giang, phía Tây giáp Vĩnh Phúc, Tuyên Quang [29, tr. Thái Nguyên nằm gọn trong vành đai nhiệt đới, gần chí tuyến Bắc hơn xích đạo nên có sự khác biệt về hai mùa khá rõ rệt; về độ dài ban ngày, ban đêm; về nhiệt độ trung bình mùa; chịu ảnh hưởng mạnh của khí hậu lục địa châu Á, nhất là về mùa đông, đồng thời vẫn chịu ảnh hưởng mạnh của biển Đông và vịnh Bắc Bộ qua gió mùa mùa hạ và bão.

Thái Nguyên có hình dáng cân đối, đường quốc lộ 3 và sông Cầu gần như trục đối xứng chạy dọc thung lũng suốt từ Bắc xuống Nam tỉnh. Lãnh thổ không có chỗ nào quá hẹp hoặc phình rộng so với lộ trục; địa hình chủ yếu là đồi núi thấp 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chạy theo hướng Bắc- Nam, thấp dần từ Bắc xuống Nam. Bao quanh phía Tây Nam và phía Bắc là những dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn. Nhìn tổng thể, tự nhiên Thái Nguyên phân hóa thành 3 vùng: Vùng núi phía tây và tây bắc tỉnh: gồm Đại Từ, Định Hóa và các xã tây Phú Lương, là khu vực được hình thành sớm.

Các thung lũng sông rộng, giao thông thuận lợi, là vùng núi không quá khó khăn, có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi để khai thác và phát triển kinh tế. Vùng núi phía Đông: Đồng Hỷ, Võ Nhai, địa hình phức tạp, hiểm trở, có nhiều núi đá vôi. Thung lũng sông suối hẹp, sâu, mật độ sông ngòi thưa thớt. Đây là vùng núi cao, giao thông đi lại rất khó khăn, tự nhiên có trở ngại lớn đến phát triển kinh tế- xã hội của vùng.

Vùng có địa hình thấp gồm nam Phú Lương, tây Đồng Hỷ, thành phố Thái Nguyên, Phú Bình, Phổ Yên, Sông Công. Vùng đồi trung du xen với đồng bằng phù sa sông Cầu, sông Công. Đây là vùng dân cư đông đúc, giao thông thuận lợi cả đường bộ, đường sông, đường sắt; vùng có lịch sử tồn tại và phát triển kinh tế- xã hội lâu đời [29, tr. Trải qua hàng ngàn năm với bao biến động thăng trầm của lịch sử, Thái Nguyên đã trở thành mảnh đất hội tụ của nhiều dân tộc với sự đa dạng về văn hóa các tộc người.

Thái Nguyên ngày nay gồm 8 dân tộc chung sống xen kẽ, có dân tộc vốn là người bản địa có mặt từ xa xưa, có dân tộc mới nhập cư, song tất cả đều hòa nhập thành một cộng đồng thống nhất, cùng sống xen kẽ trên một lãnh thổ với một nền văn hóa chung về đặc điểm nhưng đa dạng về hình thái biểu hiện. Điều này do các dân tộc có nhiều nguồn gốc sinh thái, nhân văn hợp lại, cùng chung một tiến trình phát triển lịch sử, văn hóa và kinh tế. Về ngôn ngữ các dân tộc ở Thái Nguyên thuộc vào 4 nhóm: Người Kinh (nhóm ngôn ngữ Việt- Mường), Người Tày, Nùng, Sán 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kết cấu dân tộc ở Thái Nguyên gồm: Kinh 73,49%, Tày 10,15%, Nùng 5,22%, Sán Dìu 3,57%, Sán Chay 2,79%, Hoa 2,24% Dao 2,08%, Hmông 0,46%.

Toàn tỉnh có 125 xã, thị trấn miền núi, vùng cao, trong đó có 41 xã đặc biệt khó khăn và An toàn khu. Các dân tộc thiểu số sống xen kẽ, phấn bố không đồng đều trong từng bản, làng, tập trung đông ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa. Có những xóm, bản chỉ có một dân tộc: dân tộc Tày 267 xóm, bản; Sán Chay 64 xóm, bản; Sán Dìu 56 xóm, bản; Dao 57 xóm, bản; Nùng 42 xóm, bản; Hmông 13 xóm, bản [41, tr. Dân tộc Kinh (hay còn gọi là Việt) có tỷ lệ 73,49%.

Đây là dân tộc mang nguồn gốc bản địa, chiếm số lượng đông nhất. Dân tộc Kinh từ trước đây gồm nhiều bộ phận hợp thành: dân bản địa, dân được tuyển mộ vào làm trong các mỏ đồn điền, có bộ phận là người di cư từ các vùng đồng bằng lên. Địa bàn cư trú của người Kinh tập trung ở các huyện phía Nam, như Phú Bình, Phổ Yên, thị xã Sông Công và thành phố Thái Nguyên, đồng thời cũng trải rộng trên các vùng miền và sống xen kẽ cùng các dân tộc khác. Vốn cư trú ở vùng thấp, người Kinh quen với nghề trồng lúa nước, hoạt động nông nghiệp kết hợp chặt chẽ với các nghề thủ công truyền thống, nghề sông nước.

Người Kinh không chỉ giàu tập quán kinh nghiệm sản xuất mà còn có khả năng tiếp thu nhanh các tiến bộ kỹ thuật, do đó trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật trong cộng đồng người Kinh đã có nhiều tiến bộ. Vốn văn hóa truyền thống của người Kinh hết sức phong phú, đặc sắc và luôn được bảo tồn phát huy. Ngày nay, tổ chức làng xã của người Kinh ở Thái Nguyên vẫn mang những nét đặc thù tiêu biểu của cơ cấu xã hội Việt Nam. Dân tộc Tày có tỷ lệ thấp hơn, xếp thứ hai sau dân tộc Kinh, địa bàn cư trú của người Tày rộng khắp trong phạm vi toàn tỉnh, song chủ yếu ở những huyện 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com miền núi, vùng cao: Định Hóa, Phú Lương, Đại Từ, Võ Nhai.

Tổ tiên của người Tày vốn là cư dân bản địa ở Bắc Việt Nam và miền giáp gianh biên giới Việt- Trung. Người Tày có nền nông nghiệp khá phát triển, ngoài việc trồng lúa, đồng bào còn trồng ngô, khoai, sắn, và các loại cây lương thực, rau quả. Bên cạnh đó, người Tày còn rất khéo tay trong các nghề thủ công đan lát mây tre. Người Tày có vốn văn nghệ dân gian truyền thống hết sức phong phú với đủ các loại thơ, ca, múa, nhạc.Tục ngữ, ca dao chiếm một khối lượng đáng kể, các làn điệu dân ca phổ biến nhất là hát lượn, hát đám cưới, ru con.

Dân tộc Nùng ở Thái Nguyên có 54.383 người, chiếm 5,22% dân số toàn tỉnh. Người Nùng có nhiều chi tộc: Nùng Phàn Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh. Phạm vi cư trú của người Nùng ở tất cả các huyện, thị trong tỉnh nhưng tập trung đông nhất là ở Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ. Người Nùng trồng lúa và ngô, ngoài ra còn trồng nhiều cây công nghiệp, cây ăn quả; các nghề thủ công đã phát triển như nghề dệt, mộc, đan lát.

Người Nùng có vốn văn nghệ dân gian đặc sắc phong phú (thơ, truyện thơ, truyện cổ). Dân tộc Dao sống tập trung ở huyện Đại Từ, rồi đến Đồng Hỷ, Phú Lương, Võ Nhai. Ở Thái Nguyên có 4 nhóm Dao chính là: Dao đỏ, Dao Tiền, Dao Lô Gang, Dao Quần chẹt. Người Dao trồng lúa nương và làm ruộng nước, ngoài ra họ còn trồng màu, một số nghề thủ công cũng phát triển: dệt vải, rèn nông cụ, mộc.

Văn hóa Dao có nhiều nét độc đáo đặc biệt là y học dân tộc cổ truyền, vốn văn nghệ đặc sắc. Dân tộc Sán Dìu còn có tên gọi khác là Trại, Trại Đất, Mán Quần Cộc, sống tập trung ở các huyện Đồng Hỷ, Phú Lương, Đại Từ, Phú Bình và thành phố Thái Nguyên. Người Sán Dìu chủ yếu làm ruộng nước, một phần làm nương, soi, bãi, ngoài ra họ chăn nuôi, khai thác lâm sản, làm gạch ngói, đan lát. Thơ ca dân gian của người Sán Dìu rất phong phú, họ dùng thơ ca trong sinh hoạt hát đối nam nữ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Soọng cô”, kể truyện, chủ yếu là chuyện thơ khá đặc sắc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ