Luận văn thạc sĩ về lãnh đạo phát triển nông nghiệp tỉnh Nam Hà từ năm 1965 đến năm 1975

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của Đảng bộ tỉnh Nam Hà trong phát triển nông nghiệp giai đoạn 1965-1975, cung cấp cái nhìn sâu sắc về lịch sử.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2017

119
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

5. Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu

6. Đóng góp của đề tài

7. Kết cấu luận văn

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ TỈNH NAM HÀ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 1965 - 1968

1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp của tỉnh Nam Hà và tình hình nông nghiệp của tỉnh trước năm 1965

1.1.1. Quá trình hình thành tỉnh Nam Hà

1.1.2. Điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội

1.1.2.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.2.2. Điều kiện xã hội

1.2. Đảng bộ tỉnh Nam Hà lãnh đạo về phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1965 đến năm 1968

1.2.1. Bối cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nam Hà về phát triển kinh tế nông nghiệp

1.2.2. Thực hiện cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã, đưa quy mô hợp tác xã bậc thấp lên hợp tác xã bậc cao

1.2.3. Đẩy mạnh sản xuất trong điều kiện thời chiến, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH NAM HÀ LÃNH ĐẠO KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 1968 - 1975

2.1. Đảng bộ tỉnh Nam Hà lãnh đạo khôi phục và phát triển nông nghiệp từ năm 1968 đến năm 1972

2.1.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nam Hà về phát triển nông nghiệp

2.1.2. Đảng bộ chỉ đạo chuyển hướng phát triển kinh tế nông nghiệp

2.1.2.1. Quy hoạch vùng sản xuất và tiếp tục thực hiện cải tiến kỹ thuật trong nông nghiệp
2.1.2.2. Chỉ đạo tích cực sản xuất, giành thắng lợi lớn trên mặt trận nông nghiệp

2.2. Đảng bộ tỉnh Nam Hà lãnh đạo khôi phục và phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1973 đến năm 1975

2.2.1. Chủ trương của Đảng và Đảng bộ tỉnh Nam Hà

2.2.2. Đảng bộ tỉnh Nam Hà chỉ đạo thực hiện khôi phục và phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1973 đến năm 1975

2.2.2.1. Tăng cường xây dựng nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp
2.2.2.2. Khôi phục và phát triển nông nghiệp toàn diện

2.3. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Một số nhận xét

3.2. Một số kinh nghiệm

3.3. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo phát triển nông nghiệp tỉnh Nam Hà 1965 1975

Giai đoạn 1965-1975 là thời kỳ quan trọng trong lịch sử phát triển nông nghiệp của tỉnh Nam Hà. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, tỉnh đã thực hiện nhiều chính sách nhằm phát triển nông nghiệp, khắc phục khó khăn do chiến tranh. Nông nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu lương thực mà còn góp phần vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ. Những thành tựu đạt được trong giai đoạn này đã tạo nền tảng cho sự phát triển nông nghiệp sau này.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Nam Hà

Tỉnh Nam Hà được thành lập vào năm 1965, bao gồm các huyện của tỉnh Nam Định và Hà Nam. Sự hình thành này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, nhờ vào điều kiện tự nhiên và xã hội phong phú.

1.2. Vai trò của lãnh đạo Đảng bộ trong phát triển nông nghiệp

Lãnh đạo Đảng bộ tỉnh Nam Hà đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và chỉ đạo phát triển nông nghiệp. Các chính sách được ban hành đã giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

II. Những thách thức trong phát triển nông nghiệp tỉnh Nam Hà 1965 1975

Trong bối cảnh chiến tranh, tỉnh Nam Hà phải đối mặt với nhiều thách thức trong phát triển nông nghiệp. Các yếu tố như thiên tai, thiếu thốn về vật tư, và sự tàn phá của chiến tranh đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, nhờ vào sự lãnh đạo kiên quyết của Đảng bộ, tỉnh đã tìm ra những giải pháp hiệu quả để vượt qua khó khăn.

2.1. Thiên tai và ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

Thiên tai như lũ lụt và hạn hán đã gây ra nhiều thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp. Đảng bộ tỉnh đã có những biện pháp ứng phó kịp thời nhằm giảm thiểu thiệt hại.

2.2. Tác động của chiến tranh đến nông nghiệp

Chiến tranh đã làm gián đoạn sản xuất nông nghiệp, gây khó khăn cho việc cung cấp lương thực. Đảng bộ đã phải tìm cách khôi phục sản xuất trong điều kiện khó khăn.

III. Phương pháp lãnh đạo phát triển nông nghiệp hiệu quả tại Nam Hà

Đảng bộ tỉnh Nam Hà đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo sáng tạo để phát triển nông nghiệp. Các chương trình cải cách và chính sách hỗ trợ đã được triển khai nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

3.1. Cải cách quản lý hợp tác xã nông nghiệp

Đảng bộ đã thực hiện cải cách quản lý hợp tác xã, nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua việc chuyển đổi từ hợp tác xã bậc thấp lên hợp tác xã bậc cao.

3.2. Đẩy mạnh sản xuất trong điều kiện thời chiến

Các biện pháp đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp trong điều kiện chiến tranh đã được thực hiện, giúp nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác.

IV. Kết quả đạt được trong phát triển nông nghiệp tỉnh Nam Hà 1965 1975

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, tỉnh Nam Hà đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển nông nghiệp. Năng suất lúa tăng cao, nhiều mô hình sản xuất mới được áp dụng, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho tỉnh và hỗ trợ cho chiến trường miền Nam.

4.1. Năng suất lúa và các sản phẩm nông nghiệp

Năng suất lúa đạt 5 tấn/ha, nhiều mô hình sản xuất hiệu quả được triển khai, tạo ra nguồn lương thực dồi dào cho tỉnh.

4.2. Đóng góp của nông nghiệp vào kháng chiến

Sản xuất nông nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu trong tỉnh mà còn góp phần quan trọng vào việc chi viện cho chiến trường miền Nam.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nông nghiệp tỉnh Nam Hà

Kết thúc giai đoạn 1965-1975, tỉnh Nam Hà đã có những bước tiến quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Những bài học kinh nghiệm từ giai đoạn này vẫn còn giá trị cho việc phát triển nông nghiệp trong tương lai.

5.1. Bài học kinh nghiệm từ lãnh đạo phát triển nông nghiệp

Các bài học từ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nam Hà có thể được áp dụng trong các giai đoạn phát triển nông nghiệp tiếp theo.

5.2. Triển vọng phát triển nông nghiệp trong thời kỳ mới

Với những nền tảng đã được xây dựng, nông nghiệp tỉnh Nam Hà có nhiều cơ hội để phát triển bền vững trong tương lai.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh nam hà lãnh đạo phát triển nông nghiệp từ năm 1965 đến năm 1975

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Đảng bộ tỉnh Nam Hà lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển nông nghiệp giai đoạn 1965 - 1968 Chương 2: Đảng bộ tỉnh Nam Hà lãnh đạo phát triển nông nghiệp giai đoạn 1968 - 1975 Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ TỈNH NAM HÀ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 1965 - 1968 1. Các yếu tố ảnh hƣởng đến kinh tế nông nghiệp của tỉnh Nam Hà và tình hình nông nghiệp của tỉnh trƣớc năm 1965 1. Quá trình hình thành tỉnh Nam Hà Nam Định và Hà Nam vốn là vùng đất lâu đời với bề dày truyền thống lịch sử văn hóa. Thời Hùng Vương, nơi đây thuộc bộ Giao Chỉ.

Các cư dân cùng nhau đoàn kết cải tạo tự nhiên, đấu tranh với thú dữ, phòng chống thiên tai để sinh cơ lập nghiệp. Khi dân cư ngày một đông, diện tích canh tác ngày càng mở rộng, người dân bắt đầu khai hoang xuôi theo triền sông, suối để lập ấp, tạo dựng nơi cư trú. Thời thuộc Đường, Nam Định thuộc huyện Chu Duyên, đời Trần gọi là lộ Thiên Trường. Thời thuộc Minh, vùng đất này chia làm 3 phủ: Trấn Nam, Phụng Hóa, Kiến Bình.

Năm 1469, Lê Thánh Tông đặt thừa tuyên làm đơn vị hành chính, sau đổi thừa tuyên thành xứ, Nam Định thuộc xứ Sơn Nam. Năm 1741, xứ Sơn Nam tách thành Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ bao gồm cả phần đất Thái Bình. Năm Minh Mệnh thứ 3 (năm 1822), Sơn Nam Hạ đổi là trấn Nam Định, năm 1831, đổi trấn lập tỉnh với 4 phủ, 18 huyện bao gồm phần đất tỉnh Thái Bình hiện nay. Năm 1890, tỉnh Thái Bình tách thành tỉnh riêng.

Nam Định còn lại 2 phủ và 9 huyện. Từ năm 1926, tỉnh Nam Định có 2 phủ, 7 huyện, 78 tổng, 708 xã [31, tr. Theo dòng chảy lịch sử, địa giới địa danh và địa giới của tỉnh Hà Nam đã trải qua nhiều lần tách và sáp nhập. Sau khi thực dân Pháp đặt ách cai trị, ngày 20/10/1890, toàn quyền Đông Dương quyết định đem toàn bộ phủ Liêm Bình, 17 xã của huyện Vụ Bản và huyện Thượng Nguyên (thuộc tỉnh Nam 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Định) nhập với phủ Lý Nhân (gồm 2 huyện Duy Tiên và Kim Bảng) cùng với 2 tổng Mộc Hoàn, Chuyên Nghiệp (huyện Phú Xuyên, Hà Nội) lập thành tỉnh Hà Nam [32, tr 8].

Ngày 24/10/1908, châu Lạc Thủy của tỉnh Hòa Bình sáp nhập vào tỉnh Hà Nam. Ngày 9/3/1910, đặt tỉnh Hà Nam lệ vào tỉnh Nam Định gọi là Đại lý Hà Nam. Đến ngày 31/3/1923, xóa bỏ Đại lý thành tỉnh Hà Nam gồm các huyện Thanh Liêm, Bình Lục, Lý Nhân, Duy Tiên, Kim Bảng, Lạc Thủy và thị xã Phủ Lý với 44 tổng, 390 xã [32, tr. Đến năm 1953, 7 xã miền thượng huyện Nghĩa Hưng sáp nhập vào huyện Ý Yên, đồng thời 3 huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên nhập vào tỉnh Hà Nam.

Đến tháng 3/1956, 3 huyện này lại tách về tỉnh Nam Định như trước [32, tr. Năm 1957, huyện Lạc Thủy tách khỏi tỉnh Hà Nam nhập vào tỉnh Hòa Bình. Tỉnh Hà Nam lúc này còn lại 5 huyện (Lý Nhân, Kim Bảng, Thanh Liêm, Bình Lục, Duy Tiên) và 1 thị xã Phủ Lý. Ngày 21/4/1965, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 103- NQ/TVQH, sáp nhập hai tỉnh Hà Nam và Nam Định thành một đơn vị hành chính mới lấy tên là tỉnh Nam Hà [32, tr.

Tỉnh lỵ đặt tại thành phố Nam Định. Tên Nam Định vẫn tồn tại với tư cách là thành phố Nam Định trực thuộc tỉnh. Lúc này tỉnh Nam Hà có diện tích rộng 2.304km2 có trên 2 triệu dân [70, tr. Đến ngày 27/12/1975, Quốc hội khoá V, kỳ họp thứ hai quyết nghị hợp nhất hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình thành một tỉnh mới lấy tên là Hà Nam Ninh [32, tr.

Tỉnh lỵ đặt tại thành phố Nam Định. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngày 26/12/1991, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 10 ra Nghị quyết chia tỉnh Hà Nam Ninh thành hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình. Tỉnh Nam Hà có 13 đơn vị hành chính, tỉnh Nam Hà tái lập. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 10 ngày 6/11/1996 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, tỉnh Nam Hà chia thành 2 tỉnh Hà Nam và Nam Định.2 Điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội 1.1 Điềiu kiện tự nhên Nam Hà nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ.

Trên bản đồ hành chính, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hà Tây và Hòa Bình, phía Đông Nam giáp vịnh Bắc Bộ, phía Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Thái Bình và Hải Hưng. Tỉnh Nam Hà có diện tích 2.292km2 trong đó diện tích canh tác là 1.442 km2, chiếm 70% tổng diện tích. Theo điều tra dân số tính đến cuối năm 1965, tỉnh có 1.365 người, bình quân là 740 người/km2. Nếu chia theo diện tích canh tác là 2,7 sào/người [62, tr.

Tỉnh Nam Hà gồm có 12 huyện, 1 thành phố và 1 thị xã. Phía Nam của tỉnh gồm 4 huyện: Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Xuân Thủy, Nam Ninh. Các huyện này thuộc đồng mùa cấy 2 vụ lúa/năm. Còn lại các huyện ở phía Bắc tỉnh thuộc đồng chiêm trũng, trước đây nhân dân thường chỉ cấy 1 vụ chiêm còn vụ mùa thì bấp bênh hoặc là chỉ gieo trồng ở một số vùng nhất định [62, tr.

Dù là tỉnh đồng bằng nhưng địa hình không bằng phẳng mà mấp mô, lượn sóng. Phía Tây Bắc là khu vực bán sơn địa gồm một phần các huyện Thanh Liêm, Kim Bảng, tiếp đến là khu đồng chiêm trũng và sau là khu đồng màu ven biển. Các huyện giáp với tỉnh Hà Tây cao từ 3-4m, đến sông Châu Giang còn từ 1,5-2m, sang bên kia sông Châu Giang độ cao còn khoảng 1,5m, tiến về phía sông Đào (vùng đồng chiêm) cao từ 0,5 - 1,2m, qua sông Đào là 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 0,8m - 1,0m, đến Nam Trực là từ 1,5m - 2m, ra đến biển còn từ 0,6m - 1m. Khu vực đất trũng đồng chiêm có thể nói là chỗ đựng nước của các nơi đổ đến nhất là vùng núi phía Tây Bắc, làm cho đất bị úng hằng năm.

Diện tích đồng bằng ven biển với bãi cát ven biển là 32. Phía Tây tỉnh Nam Hà có vùng rừng núi nối liền với dãy núi đá vôi Ba Vì thuộc tỉnh Hòa Bình và Hà Tây, có độ cao trung bình là từ 200 - 450m chạy từ huyện Kim Bảng đến giáp huyện Ý Yên, dài 39km với diện tích là 406ha [62, tr. Hai huyện Thanh Liêm và Kim Bảng có 511ha rừng rậm, trong đó có rừng bương gồm hàng triệu cây chưa khai thác. Dưới các triền núi là thung lũng làm nơi chăn nuôi gia súc như trâu, bò, dê.

Hai huyện này còn có 3.609ha đồi trọc trồng các loại cây như chè, trẩu, trong đó có các vùng Đồi Thị, Bồng Lạng, Do Lễ là nổi tiếng hơn cả: Ai về Bồng Lạng, Liên Sơn; Uống chè Đồi Thị ngon hơn chè tầu” [87, tr. Ngoài ra, chiếm một phần diện tích đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Hà là khu vực bán sơn địa với diện tích phần nhiều là đồi đất trọc hoặc một số diện tích được người dân canh tác để trồng chè. Khi gió mùa đông bắc tràn về làm nhiệt độ giảm xuống, cùng với ảnh hưởng của núi đá vôi nhiệt độ lại càng xuống thấp hơn, nhất là nơi thung lũng, lòng chảo giam hãm không khí lạnh. Mùa hè thì nóng nực, khô hanh, gây ra thời tiết khô nóng nhất là khu vực đồi trọc.

Địa hình đồi núi phía Tây Bắc có ảnh hưởng lớn đến chế độ mưa.Về mùa hè, khi gió mùa đông nam thổi tới, gặp bức bình phong chắn gió gây ra mưa lớn và thường xuyên có dông, làm cho khu vực đồi núi trở thành trung tâm mưa lớn nhất của tỉnh. Mùa mưa kéo dài tới 7 - 8 tháng [62, tr. Tỉnh Nam Hà có 72km đường ven biển tạo điều kiện cho các huyện phía Nam tỉnh có khí hậu tương đối dễ chịu khi mùa đông trời rét dịu, ấm, mùa hè 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiết trời mát mẻ. Vùng ven biển có gió đất biển thổi từ biển vào và ban đêm gió từ đất liền thổi ra làm cho không khí dễ chịu [62, tr.

Ngoài ra, địa bàn tỉnh có nhiều sông ngòi, phân bố chằng chịt. Sông lớn là sông Hồng và phân lưu của sông Hồng là sông Đáy cùng các sông phụ lưu khác là sông Ninh Cơ, sông Đào, sông Sắt. Đoạn Sông Hồng chạy qua địa bàn tỉnh Nam Hà dài 114km và trở thành ranh giới tự nhiên ngăn cách Nam Hà với các tỉnh Hải Hưng 1, Thái Bình. “Sông Hồng có hàm lượng phù sa nhiều, tăng màu mỡ cho đất đai, đồng ruộng.

Mùa mưa nước sông dâng cao,đã giải quyết vấn đề nước tưới khá tốt cho đồng ruộng các huyện Duy Tiên, Kim Bảng và 4 huyện phía Nam của tỉnh” [62, tr. Trong khi đó, với các khu vực thuộc đồng chiêm trũng, vấn đề tiêu nước gặp khó khăn do nước đồng thấp hơn nước sông. Mùa khô, nước sông xuống khá thấp. Mực nước trung bình là 0,60m, cao nhất là 1,66m, thấp nhất là 0,24m [62, tr.

Sông Đáy là nhánh của sông Hồng chảy vào tỉnh Nam Hà dài 101km, ngăn cách vùng đồng bằng với vùng bán sơn địa và trở thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Ninh Bình và tỉnh Nam Hà. Sông Đáy có tác dụng tiêu nước cho các huyện phía Tây tỉnh. Mùa mưa nước chảy xiết, mực nước sông cao hơn đồng nên gây ra úng thủy cho khu vực đồng chiêm trũng. Mực nước trung bình mùa mưa cao nhất là 1,13m, thấp nhất là 0,36m.

Mùa khô, mực nước hạ xuống trung bình 0,40m, do đó việc tưới tiêu cho các cánh đồng gặp nhiều khó khăn [62, tr. Sông Ninh Cơ là chi lưu của sông Hồng dài 54km, mùa mưa có tác dụng phân lũ sông Hồng, mang nước phù sa bồi đắp cho các huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, tiêu nước cho 2 huyện Nam Ninh, Nghĩa Hưng, tưới nước cho các 1 Tỉnh Hải Hưng nay là 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com huyện Xuân Thủy, Hải Hậu, Trực Ninh. Mực nước trung bình 0,49m, cao nhất 1,66m, thấp nhất 0,53 m [62, tr.

Sông Đào do nhân dân góp công sức xây dựng và có tên gọi khác là sông Nam Định. Sông Đào là một phân lưu của sông Hồng và chi lưu của sông Đáy. Sông đưa một phần nước của sông Hồng đổ vào sông Đáy và chảy ra biển Đông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ