phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: NHẬN THỨC VỀ KINH TẾ TƢ NHÂN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƢỚC NĂM 2006 CHƢƠNG 2: QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƢƠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN GIAI ĐOẠN 2006 – 2017 CHƢƠNG 3: ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ GIAI ĐOẠN 2006 – 2017 11 CHƢƠNG 1: NHẬN THỨC VỀ KINH TẾ TƢ NHÂN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƢỚC NĂM 2006 1. Nhận thức về kinh tế tƣ nhân Nhận thức về thành phần kinh tế Ở Việt Nam, kinh tế tƣ nhân là một trong 5 thành phần kinh tế của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế tƣ nhân đƣợc xem nhƣ một vấn đề chiến lƣợc lâu dài, một nhiệm vụ quan trọng trong đƣờng lối phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa trên cả nƣớc nói chung, tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Thời điểm trƣớc năm 1986, khái niệm “thành phần kinh tế” đƣợc sử dụng để thể hiện cấu trúc kinh tế của một xã hội ở một thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: “kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh và kinh tế khu vực tập thể, cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần kinh tế đó” (GS. Nguyễn Kế Tuấn, 2010, tr.
Khái niệm “thành phần kinh tế” đƣợc sử dụng gắn với quan hệ sở hữu, gắn với “xác định các giai tầng xã hội có lợi ích tƣơng đồng với nhau” (Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, 2009a, tr. Sau năm 1986, khái niệm “thành phần kinh tế” đƣợc sử dụng thƣờng xuyên trong chủ trƣơng, chính sách của Đảng, xác định vị trí của mỗi thành phần kinh tế trong tổng thể phát triển kinh tế của đất nƣớc. Từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội X (2006), số lƣợng và tên gọi của các “thành phần kinh tế” chƣa đƣợc thống nhất, có sự thay đổi ở mỗi kì đại hội Đảng. Đại hội VI (1986) xác định 4 thành phần kinh tế: kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa; kinh tế tƣ bản tƣ nhân; kinh tế tƣ bản nhà nƣớc; kinh tế tự nhiên tự cấp, tự túc).
Đại hội VII (1991) xác định 5 thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tƣ bản tƣ nhân; kinh tế tƣ bản nhà nƣớc. 12 Đại hội VIII (1996) xác định 5 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nƣớc; kinh tế hợp tác mà nòng cốt là các hợp tác xã; kinh tế tƣ bản nhà nƣớc; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tƣ bản tƣ nhân. Đại hội IX (2001) xác định 6 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nƣớc; kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tƣ bản tƣ nhân; kinh tế tƣ bản nhà nƣớc; kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Đại hội X (2006), XI (2011) và XII (2016) xác định 5 thành phần kinh tế: kinh tế nhà nƣớc, kinh tế tập thể, kinh tế tƣ nhân (cá thể, tiểu chủ, tƣ bản tƣ nhân), kinh tế tƣ bản nhà nƣớc, kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
Thực hiện chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc, Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo phát triển 5 thành phần kinh tế, trong đó chú trọng phát triển thành phần kinh tế tƣ nhân. Đảng bộ thành phố đã nhận thức sâu sắc là phải thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế tƣ nhân, tạo những điều kiện cần và đủ cho thành phần kinh tế tƣ nhân ở thành phố Hồ Chí Minh phát triển đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình tổ chức kinh doanh. Thành phần kinh tế tƣ nhân đƣợc phát triển dƣới sự bảo vệ của pháp lý bằng các bộ luật về kinh tế nhƣ: Luật Doanh nghiệp tƣ nhân, Luật Công ty (1990), Luật doanh nghiệp năm 2000, Luật doanh nghiệp năm 2005, sau đƣợc chỉnh sửa, bổ sung thành Luật doanh nghiệp 2014 (có hiệu lực từ năm 2015)… Luật doanh nghiệp 2005 quy định thành phần kinh tế tƣ nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Loại hình “kinh tế cá thể, tiểu chủ” là gồm những đơn vị kinh tế sản xuất dựa trên sở hữu về tƣ liệu sản xuất với quy mô nhỏ; loại hình “kinh tế tƣ bản tƣ nhân” là những doanh nghiệp do các nhà đầu tƣ đăng kí kinh doanh theo Luật doanh nghiệp 2005 với các hình thức doanh nghiệp đa dạng: Doanh nghiệp tập thể, doanh nghiệp tƣ nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần có vốn nhà nƣớc, Công ty cổ phần không có vốn nhà nƣớc và với các ngành nghề khác nhau trên mọi lĩnh vực.
13 Nhận thức về kinh tế tƣ nhân Nhận thức về kinh tế tƣ nhân, có nhiều có nhiều khái niệm khác nhau: “ở các quốc gia châu Á (tiêu biểu là Hàn Quốc, Nhật Bản…) khu vực tƣ nhân đƣợc hiểu là khu vực phi nhà nƣớc (bao gồm tất cả các đối tƣợng không thuộc sở hữu nhà nƣớc, cả trong công nghiệp và nông nghiệp) và doanh nghiệp tƣ nhân trong nƣớc (bao gồm các đối tƣợng không thuộc sở hữu nhà nƣớc nhƣng loại trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài). Ở châu Âu, quan niệm khu vực kinh tế tƣ nhân là đơn vị kinh tế thuộc về: kinh tế hộ gia đình, xí nghiệp tƣ nhân chính thức, xí nghiệp tƣ nhân phi chính thức hoạt động nhƣ một đơn vị “kinh tế ẩn” và thậm chí bất kể sử dụng tài sản của tƣ nhân vào việc hữu ích nào” (Huỳnh Thị Ngọc Anh, 2010, tr. Ở Việt Nam, kinh tế tƣ nhân là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (không bao gồm khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài). Số liệu thống kê hiện nay thƣờng áp dụng cách thức phân loại này với 3 khu vực: kinh tế quốc doanh (kinh tế nhà nƣớc), kinh tế ngoài quốc doanh (kinh tế tƣ nhân), kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
Theo Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa IX (3/2002), “kinh tế tƣ nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tƣ bản tƣ nhân, hoạt động dƣới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tƣ nhân” (ĐCSVN, 2002, tr. Đồng thời, “kinh tế tƣ nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tƣ nhân là vấn đề chiến lƣợc lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành phần định hƣớng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nƣớc trong hội nhập kinh tế quốc tế” (ĐCSVN, 2002, truy xuất: http://tulieuvankien. Văn kiện Đại hội X (2006) xác định: “nền kinh tế nƣớc ta cùng lúc tồn tại nhiều hình thức sở hữu, trên cơ sở đó tồn tại nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nƣớc, kinh tế tập thể, kinh tế tƣ nhân (cá thể, tiểu chủ và tƣ bản tƣ nhân), kinh tế tƣ bản nhà nƣớc, kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài” (ĐCSVN, 2006, truy xuất: http://tulieuvankien.vn/) 14 Kinh tế tƣ nhân ở thành phố Hồ Chí Minh phát triển đa dạng về hình thức sở hữu và loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh, đều dựa trên sở hữu tư nhân và tham gia sản xuất kinh doanh ở mọi lĩnh vực trong xã hội; nhƣng khác nhau ở trình độ, năng lực quản lý và khả năng sản xuất kinh doanh của những ngƣời làm chủ.
Kinh tế tƣ nhân bao gồm 2 loại hình cơ bản: kinh tế cá thể - tiểu chủ và kinh tế tƣ bản tƣ nhân. + Kinh tế cá thể, tiểu chủ: gồm những đơn vị kinh tế sản xuất dựa trên sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất với quy mô nhỏ, chủ yếu sử dụng lao động gia đình, kinh doanh theo kiểu tự thu tự chi, tự chịu trách nhiệm lời, lỗ. Kinh tế cá thể, tiểu chủ tồn tại dƣới các hình thức xƣởng sản xuất quy mô nhỏ và hộ gia đình (xƣởng thợ gia đình; hộ kinh doanh thƣơng mại – dịch vụ; hộ kinh tế trang trại), các hộ có thể liên kết kinh doanh để mở rộng quy mô sản xuất. + Kinh tế tư bản tư nhân: gồm những đơn vị kinh tế sản xuất dựa trên sở hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất với quy mô lớn, có nguồn vốn dồi dào, có thuê mƣớn lao động dƣới hình thức hợp đồng ngắn hạn hay dài hạn.
Loại hình kinh tế này tồn tại dƣới các hình thức doanh nghiệp nhƣ: doanh nghiệp tư nhân, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh. Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005, các loại hình doanh nghiệp kinh tế tƣ nhân đƣợc phân biệt rõ: (Quốc hội, 2005, https://thuvienphapluat.vn/) + Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do 1 cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của minh về mọi hoạt động của doanh nghiệp. + Công ty trách nhiệm hữu hạn: gồm công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn từ 2 thành viên trở lên. Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên là doanh nghiệp do 1 tổ chức làm chủ sở hữu, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ, tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ.
Công ty trách nhiệm hữu hạn từ 2 thành viên trở lên là tổ chức kinh doanh có 15 tƣ cách pháp nhân, trong đó số lƣợng thành viên (có thể là cá nhân hoặc tổ chức) gồm ít nhất là 2 thành viên và nhiều nhất là không vƣợt quá 50 thành viên. + Công ty cổ phần: là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, những ngƣời tham gia là cổ đông và chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. + Công ty hợp danh: là doanh nghiệp mà trong đó ít nhất có 2 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dƣới một tên chung, ngoài hai thành viên hợp danh ra, có thể có thành viên góp vốn, trong đó, ít nhất 2 thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của Công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.