phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 2 ch- ơng và 8 tiết. NỘI DUNG CHUONG 1: QUAN DIEM CUA DANG CONG SAN VIỆT NAM VE PHAT TRIEN KINH TE TU NHAN VA THUC TRANG PHAT TRIEN KINH TE TU NHAN O NUOC TA HIEN NAY 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN DE DANG CONG SAN VIET NAM DE RA QUAN DIEM VE PHAT TRIEN KINH TE TU NHAN 1.Co sở lý luận. Kinh tế thị trường (giai đoạn cao của kinh tế hàng hoá) là nền kinh tế dựa vào thị trường dé vận động va phát triển, là một kiểu tổ chức kinh tế phản ánh trình độ phát triển nhất định của sản xuất xã hội. Nói đến kinh tế thị trường người ta thường nghĩ ngay tới CNTB.
Kinh tế thị trường ton tại và phát triển chủ yếu dưới CNTB, là một nhân tố quan trọng bậc nhất, quyết định sự tổn tại va phát triển của CNTB. Kinh tế thị trường TBCN thực ra có lịch sử từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn trước đó, nhưng có một sự khác biệt rất lớn: Kinh tế hàng hoá giản đơn vận động theo công thức H — T — H (bán hàng lấy tiền dé mua hàng), còn nền kinh tế thị trường TBCN vận động theo công thức T - H — T (lấy tiền mua hàng, bán hàng lay được tiền nhiều hơn số tiền đã mua). Công thức này phản ánh bản chất của nền kinh tế thị trường TBCN là bóc lột giá trị thặng dư của lao động làm thuê mà biểu hiện của nó dưới hình thức lợi nhuận. Kinh tế hàng hoá giản đơn đưới sự tác động của quy luật giá trị dẫn đến phân hoá những người sản xuất nhỏ, hình thành mầm méng của quan hệ sản xuất tư ban chủ nghĩa.
Kinh tế thị trường TBCN không chỉ chịu sự tác động của quy luật giá tri mà còn chịu sự tac động của quy luật giá trị thặng dư, là quy luật kinh tế cơ bản, hay tuyệt đối (theo Mac) và tồn tại trong hệ thong các quy luật kinh tế khác của CNTB. CNTB nhờ biết tận dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường nên đã thúc đây được các mục tiêu phát triển tiềm năng kinh doanh, tìm kiếm lợi nhuận, từ đó thúc day LLSX của xã hội phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, kinh tế thị trường đã phát triển tới giai đoạn kha cao va phon thịnh ở các nước TBCN. Mặc dù kinh tế thị trường tồn tại và phát triển chủ yếu dưới CNTB, tuy nhiên, thực tiễn ở các nước XHCN đã cho thấy, kinh tế thị trường vẫn có thể tồn tại và phát triển.
Kinh tế thị trường XHCN tuy vẫn chịu tác động của quy luật giá 9 trị (quy luật chung của kinh tế thị trường), nhưng đồng thời cũng chịu tác động của quy luật kinh tế cơ bản (quy luật quy định mục đích khách quan của nền sản xuất XHCN là không ngừng phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội) và các quy luật kinh tế khác của xã hội XHCN. Ở đây, Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản có vai trò rất quan trọng. Nhà nước định hướng nền kinh tế thị trường bằng những chính sách kinh tế vĩ mô và luật pháp, thực hiện các chương trình phát triển kinh tế xã hội trên cơ sở vận dụng các quy luật giá trị và quy luật phát triển có kế hoạch, cân đối toàn bộ nền kinh tế quốc dân; đưa những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất, không ngừng nâng cao năng suất lao động, làm ra nhiều sản pham chất lượng cao, giá rẻ, có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Trên cơ sở đó, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá cho mỗi thành viên và mỗi cộng đồng, củng cô và phát triển vững chắc chế độ XHCN.
Đối với nước ta, do đang ở giai đoạn đây mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH nên phải xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Mô hình kinh tế này được Đảng và Nhà nước ta xác định là chủ trương, chính sách lâu dài của đất nước mà nội dung chính của nó là phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phan, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng XHCN. Đảng ta coi đó là mô hình tổng quát trong thời kỳ quá độ ở nước ta. Đó là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế Kinh tế tư nhân gắn chặt với sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hoá, đồng thời, sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hoá lệ thụôc vào sự phát triển của kinh tế tư nhân.
Đây là mối quan hệ song hành, gắn bó chặt chẽ với nhau, chế định lẫn nhau, thúc đây nhau phát triển. Trong nền kinh tế hàng hoá, kinh tế tư nhân là loại hình kinh tế tổn tại và phát triển dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, vốn và kết quả sản xuất kinh doanh. Ở nước ta cho đến trước Đại hội X của Đảng vẫn có nhiều quan niệm khác nhau về nội hàm khái niệm kinh tế tư nhân. Và khái niệm kinh tế tư nhân không đồng nhất với khái niệm thành phần kinh tế tư nhân.
Kinh tế tu nhân được hiểu là một phạm trù dùng đề chỉ một nhóm các thành phan kinh tế dựa trên cơ sở chế 10 độ sở hữu tư nhân về TLSX, tôn tại dưới các hình thức tổ chức kinh doanh như doanh nghiệp, công ty cổ phân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp doanh, các cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ và các bộ phận doanh nghiệp có vốn dau tư nước ngoài Tuy nhiên, theo tinh thần của Đại hội X, kinh tế tư nhân ở nước ta bao gồm các thành phan: kinh tế cá thé, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Kinh tế tư nhân ở nước ta có đặc điểm là phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng và theo sự quản lý của Nhà nước. Song phải thấy rằng, tính chất và trình độ của kinh tế cá thé, tiêu chủ và kinh tế tư bản tư nhân ở nước ta là khác nhau, nhưng chúng có mối liên hệ với nhau: - Kinh tế cá thé, tiểu chủ (của nông dân, thợ thủ công, người làm thương nghiệp và dịch vụ cá thể) bao gồm những đơn vị kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất và hoạt động dựa chủ yếu vào sức lao động của chính họ. Ở thành thị và nông thôn, kinh tế cá thể, tiểu chủ có thể tồn tại độc lập dưới hình thức: xưởng thợ gia đình, công ty tư nhân nhỏ, hộ kinh doanh thương mại - dịch vụ, hộ làm kinh tế trang trại; hoặc có thé tham gia liên kết, liên doanh với cả các tổ hợp kinh tế khác dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cô phan.
- Kinh tế tư bản tư nhân là những đơn vi kinh tế mà vốn do một hoặc một số nhà tư bản góp lại để sản xuất — kinh doanh và có thuê mướn nhân công. Kinh tế tư bản tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và do thuê mướn công nhân nên có sự bóc lột những người lao động làm thuê. Tư bản tư nhân là người sản xuất kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa để thu lợi nhuận, hình thức biểu hiện của giá trị thặng dư, do những người lao động tạo ra. Phát triển KTTN trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một xu thé tất yêu, khách quan, phù hợp với quy luật phát triển của nền sản xuất xã hội.
Đảng ta xác định đây là một chủ trương nhất quán, lâu dai ở nước ta hiện nay. Điều đó xuất phát từ những cơ sở lý luận, nên tảng sau đây. 11 * Quan điểm cua C.Ănghen về van dé xoá bỏ chế độ sở hữu tư nhân trong thời ky qua độ từ CNTB lên chủ nghĩa cộng sản. Qua quá trình nghiên cứu thực tiễn nên sản xuất TBCN, một mặt, Mác va Ănghen thừa nhận vai trò quan trọng của CNTB trong việc thúc đây sự phát triển của LLSX, tạo điều kiện nâng cao khả năng sáng tạo phong phú của con người; nhưng mặt khác, hai ông cũng chỉ ra bản chất của nền sản xuất TBCN là bóc lột giá tri thang dư, gắn liền với tình trạng tha hoá của lao động.
Vì vậy, để xoá bỏ tình trạng áp bức, bóc lột, bất công đó thì hai ông đã chỉ ra biện pháp là phải xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất và xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên các ông cũng chỉ rõ việc xoá bỏ chế độ tư hữu không phải là một hành động tức thời mà phải là một quá trình lâu dài. Do đó, chỉ có thê cải tạo xã hội một cách dần dần và "chỉ khi nào đã tạo nên được một khối lượng TLSX cần thiết cho việc cải tạo đó thì khi ấy mới thủ tiêu được chế độ tư hữu" [23. Sự xoá bỏ chế độ tư hữu trong CNXH không phải là xoá bỏ bang mọi cách, mà đó là "sự xoá bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu" [27.
Trong "Tuyên ngôn của Dang cộng sản", hai ông cũng đã khang định điều này: "Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản pham xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy dé nô dịch lao động của người khác", và "đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xoá bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xoá bỏ chế độ sở hữu tư sản" [23. Tức là ở đây, Mác muốn nói đến bản chất của chủ trương xoá bỏ chế độ tư hữu là xoá bỏ một chế độ kinh tế mà trong đó, một thiểu số người năm TLSX dùng nó để bóc lột , nô dịch đa số những người lao động làm thuê. Sự xoá bỏ đó diễn ra một cách có ý thức, luôn giữ lại tất cả những gì là hợp lý, tiến bộ của sự phát triển trước đó; không phải là xoá bỏ mọi hình thức kinh doanh có trong chế độ tư hữu về TLSX.