Tổng quan nghiên cứu

Sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986 đã mở ra bước ngoặt toàn diện cho nền kinh tế đất nước, trong đó việc phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng bộ cấp huyện giữ vị trí then chốt đối với sự phát triển địa phương. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam của tác giả Dương Kim Huệ, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Đỗ Xuân Tuất tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung làm rõ quá trình Đảng bộ huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo phát triển kinh tế giai đoạn 1997 - 2009. Đây là giai đoạn lịch sử đặc biệt, bắt đầu từ thời điểm tái lập tỉnh Vĩnh Phúc năm 1997 cho đến khi huyện Lập Thạch thực hiện điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập huyện mới Sông Lô theo Nghị định 09/NĐ-CP vào năm 2009.

Mục tiêu trọng tâm của đề tài là phục dựng có hệ thống quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện các chủ trương phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện, phân tích sâu sắc các bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trên cơ sở địa bàn một huyện miền núi bán sơn địa với 39 xã, thị trấn trước năm 2004 và diện tích tự nhiên 32.307,17 ha, nghiên cứu đánh giá toàn diện những thành tựu vượt bậc như tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân đạt 13,92%/năm giai đoạn 2001 - 2005, thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh từ 1,7 triệu đồng năm 2000 lên 4,71 triệu đồng năm 2005. Công trình mang giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp hệ thống luận cứ xác đáng cùng bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác lãnh đạo kinh tế cấp cơ sở trong thời kỳ hội nhập.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế, đặc biệt là quan điểm coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Khung lý thuyết vận dụng đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được khẳng định qua các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII và IX của Đảng Cộng sản Việt Nam. Luận văn tích hợp lý thuyết chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo tinh thần Nghị quyết 06-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành năm 1998 và Nghị quyết 10-NQ/TU năm 2002 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được chuẩn hóa bao gồm: vai trò lãnh đạo kinh tế của Đảng bộ địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, phát triển kinh tế hộ gia đình tự chủ gắn với kinh tế trang trại đồi rừng, và hiện đại hóa kết cấu hạ tầng nông thôn. Luận văn thiết lập mô hình phân tích tác động chính sách đa chiều, kết nối chặt chẽ giữa chủ trương lãnh đạo của Huyện ủy, sự điều hành của Ủy ban nhân dân huyện và tính năng động sản xuất của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn 3 tiểu vùng sinh thái đặc thù gồm vùng núi phía Bắc, vùng trũng ven sông và vùng giữa đồi gò.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm công cụ chủ đạo nhằm tái hiện trung thực, mạch lạc tiến trình lãnh đạo kinh tế của Đảng bộ huyện qua từng thời kỳ từ năm 1997 đến năm 2009. Tác giả kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp bổ trợ như thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh kinh tế - lịch sử và khảo sát thực tiễn. Nguồn tư liệu gốc được khai thác đa dạng và chính xác từ hệ thống Văn kiện Đảng toàn quốc, Nghị quyết của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, các Nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Lập Thạch khóa XV, XVI, XVII, cùng chuỗi Niên giám thống kê huyện Lập Thạch và tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2009.

Về mẫu nghiên cứu, luận văn thu thập toàn bộ dữ liệu kinh tế - xã hội tổng thể tại 39 xã, thị trấn của huyện Lập Thạch giai đoạn 1997 - 2003, 36 xã, thị trấn giai đoạn 2004 - 2008 và 20 đơn vị hành chính sau khi tách lập huyện Sông Lô năm 2009. Phương pháp chọn mẫu toàn diện theo chuỗi thời gian liên tục 12 năm kết hợp khảo sát sâu tại các tiểu vùng kinh tế được lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cao nhất, phản ánh trung thực biến động kinh tế qua các mốc thay đổi địa giới hành chính. Việc kết hợp phân tích định tính từ các chỉ thị, nghị quyết với phân tích định lượng dựa trên hàng trăm chỉ số ngân sách và sản lượng giúp các nhận định đạt tính khách quan, khoa học và thuyết phục tuyệt đối.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã làm sáng tỏ 4 kết quả bứt phá nổi bật trong công tác lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng bộ huyện Lập Thạch giai đoạn 1997 - 2009:

Thứ nhất, sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, bảo đảm an ninh lương thực vững chắc và nâng cao hiệu quả canh tác. Nhờ đưa các giống lúa lai nguyên chủng vào thâm canh và mở rộng vụ đông, năng suất lúa bình quân toàn huyện tăng từ 29,99 tạ/ha năm 1995 lên 41,7 tạ/ha năm 2000 và đạt 44,67 tạ/ha năm 2005. Tổng sản lượng lương thực có hạt tăng từ 52.241 tấn năm 1995 lên xấp xỉ 68.000 tấn năm 2004, nâng mức lương thực bình quân từ 240 kg/người/năm lên 324 kg/người/năm. Giá trị thu nhập bình quân trên 1 ha đất canh tác tăng trưởng vượt bậc từ 4,45 triệu đồng năm 2000 lên 21,45 triệu đồng năm 2005, gấp gần 5 lần sau 5 năm.

Thứ hai, chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nội ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao tỷ trọng chăn nuôi và kinh tế vườn đồi trang trại. Tỷ trọng giá trị chăn nuôi trong nông nghiệp tăng từ 35,9% năm 2000 lên 42,1% năm 2005. Đàn lợn tăng từ 79.188 con năm 1996 lên 117.308 con năm 2005 với tỷ lệ nạc hóa trên 85%. Đàn bò đạt 40.322 con năm 2005 với tỷ lệ bò lai Sind đạt 30%. Thông qua việc triển khai Nghị quyết 05-NQ/HU năm 1999, toàn huyện đã cải tạo 670 ha vườn tạp, trồng mới 1.665 ha cây ăn quả và xây dựng thành công 156 trang trại quy mô trên 1 ha, góp phần nâng độ che phủ rừng từ 19% lên 28%.

Thứ ba, cơ cấu kinh tế chung chuyển dịch tích cực, giảm tỷ trọng nông nghiệp và gia tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, dịch vụ. Cơ cấu giá trị sản xuất năm 2005 ghi nhận: nông - lâm nghiệp chiếm 58,71% (giảm 6,7% so với năm 2000), tiểu thủ công nghiệp - xây dựng chiếm 22,88% (tăng 7,16%), dịch vụ thương mại chiếm 18,41%. Toàn huyện phát triển được 39 doanh nghiệp và 3.185 cơ sở tiểu thủ công nghiệp sản xuất gạch ngói, khai thác cát sỏi, chế biến gỗ, đưa giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp năm 2005 đạt trên 50 tỷ đồng.

Thứ tư, tạo bước đột phá trong huy động nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Tổng giá trị đầu tư xây dựng cơ bản giai đoạn 2001 - 2005 đạt 365,42 tỷ đồng, tăng gấp 4 lần so với giai đoạn 1996 - 2000 với tốc độ tăng bình quân 28,69%/năm. Huyện đã đầu tư 153,126 tỷ đồng cho 23 công trình thủy lợi, kiên cố hóa 48,2 km kênh mương, bê tông hóa 2 tuyến đê sông Lô và sông Phó Đáy, đồng thời đạt chỉ tiêu 100% số xã có trường học cao tầng và 36/36 xã, thị trấn có trụ sở làm việc kiên cố.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến những thành tựu trên xuất phát từ sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt đường lối đổi mới của Trung ương và Tỉnh ủy Vĩnh Phúc vào đặc thù bán sơn địa của huyện Lập Thạch. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã kịp thời ban hành các nghị quyết chuyên đề trúng và đúng thực tiễn, như Nghị quyết 03-NQ/HU về đổi mới hợp tác xã, Nghị quyết 04-NQ/HU về thủy lợi, và Nghị quyết 05-NQ/HU về phát triển cây ăn quả. Trong thực tế, các chính sách chuyển đổi mô hình hợp tác xã dịch vụ đã giải phóng triệt để sức sản xuất của hộ gia đình, thúc đẩy nhân dân tự nguyện đóng góp 25,15 tỷ đồng cùng ngân sách nhà nước hoàn thiện mạng lưới đường giao thông nông thôn và lưới điện sinh hoạt.

Khi so sánh với các địa bàn đồng bằng như Yên Lạc hay Vĩnh Tường, năng suất cây trồng của Lập Thạch có phần thấp hơn, như lúa cả năm 2005 đạt 44,03 tạ/ha so với 58,98 tạ/ha của Yên Lạc do đất đai chủ yếu là đất bạc màu và đất đồi xói mòn. Tuy nhiên, Lập Thạch lại vượt trội về tốc độ phát triển chăn nuôi đại gia súc và mô hình trang trại đồi rừng. Các phát hiện và số liệu chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 - 2010 được hệ thống hóa qua bảng so sánh năng suất liên huyện và trực quan hóa bằng biểu đồ cơ cấu giá trị gia tăng cùng biểu đồ phân bổ lao động theo ngành. Các biểu đồ này minh chứng rõ nét xu hướng chuyển dịch lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, khẳng định mô hình phát triển kinh tế nông - lâm kết hợp là hướng đi đúng đắn, mang tính đột phá của một huyện nghèo miền núi.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực tiễn giai đoạn 1997 - 2009, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững cho địa phương trong các giai đoạn tiếp theo:

Thứ nhất, đẩy mạnh quy hoạch và phát triển nông nghiệp hàng hóa ứng dụng công nghệ cao gắn với kinh tế trang trại sinh thái. Ban Chấp hành Đảng bộ và Ủy ban nhân dân huyện cần ban hành cơ chế khuyến khích dồn điền đổi thửa, phấn đấu nâng giá trị thu hoạch bình quân đạt trên 50 triệu đồng/ha/năm trong giai đoạn 2010 - 2015, đưa tỷ lệ bò lai Sind đạt trên 50% và đàn lợn hướng nạc đạt trên 90% tổng đàn gia súc toàn huyện.

Thứ hai, mở rộng hạ tầng các cụm công nghiệp tập trung và khôi phục các làng nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống. Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện chủ trì phối hợp với các ban ngành liên quan hoàn thiện quy hoạch cụm công nghiệp vật liệu xây dựng và chế biến nông lâm sản, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng lên trên 35% trong cơ cấu kinh tế địa phương giai đoạn 2010 - 2018, thu hút từ 50 đến 70 doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ.

Thứ ba, tăng cường đầu tư nâng cấp mạng lưới giao thông kết nối liên vùng và hệ thống thủy lợi chủ động. Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo các phòng chức năng triển khai dự án kiên cố hóa 100% các tuyến đường giao thông nông thôn liên xã và 80% kênh mương nội đồng trong giai đoạn 2010 - 2016, nâng cấp hệ thống trạm bơm ven sông Lô và sông Phó Đáy nhằm kiểm soát 95% diện tích ngập úng mùa lũ.

Thứ tư, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ và chuẩn hóa chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở. Ban Tổ chức Huyện ủy phối hợp Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện xây dựng đề án đào tạo năng lực quản lý kinh tế thị trường cho 100% cán bộ chủ chốt cấp xã và bí thư chi bộ thôn giai đoạn 2010 - 2020, đồng thời giải quyết đào tạo nghề phi nông nghiệp cho khoảng 5.000 lao động dôi dư hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật sâu rộng, phù hợp với 4 nhóm đối tượng người đọc chính:

Thứ nhất, cấp ủy và chính quyền địa phương cấp huyện, xã. Lãnh đạo các địa phương có thể vận dụng luận văn làm tài liệu tham khảo thực chứng để xây dựng các nghị quyết chuyên đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và điều hành ngân sách cơ sở hiệu quả.

Thứ tư, cán bộ quy hoạch và chuyên viên phát triển nông thôn. Những người làm công tác quản lý tài nguyên, quy hoạch vùng có thể khai thác các giải pháp chuyển đổi đất đai, bảo vệ rừng và bố trí tiểu vùng kinh tế bán sơn địa để áp dụng vào các đề án phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Thứ ba, học viên, sinh viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng, Khoa học Chính trị và Quản lý công. Luận văn cung cấp khung phương pháp luận chuẩn mực về xử lý nguồn tư liệu lịch sử Đảng và cách thức đánh giá chính sách phát triển kinh tế địa phương trong thời kỳ Đổi mới.

Thứ hai, các nhà khoa học, giảng viên lý luận chính trị và chuyên gia kinh tế. Công trình là nguồn tư liệu tham khảo giá trị phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình lịch sử địa phương và lịch sử kinh tế Việt Nam đương đại.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Đảng bộ huyện Lập Thạch xác định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong giai đoạn 1997 - 2005? Xuất phát từ thực tế hơn 70% dân số sống bằng nghề nông và cơ sở hạ tầng còn nhiều thiếu thốn, Đảng bộ huyện ưu tiên phát triển nông nghiệp nhằm giải quyết dứt điểm bài toán an ninh lương thực và tạo nguồn vốn tích lũy ban đầu. Kết quả thực tế là sản lượng lương thực quy thóc tăng từ 52.241 tấn năm 1995 lên xấp xỉ 68.000 tấn năm 2004, tạo nền tảng vững chắc để chuyển dịch lao động sang công nghiệp và dịch vụ.

Nghị quyết số 05-NQ/HU năm 1999 của Huyện ủy đã đem lại bước đột phá nào cho kinh tế địa phương? Nghị quyết số 05-NQ/HU ngày 28/06/1999 chuyên đề về phát triển cây ăn quả đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cải tạo vườn tạp và phát triển kinh tế đồi rừng. Nhờ nghị quyết này, huyện đã cải tạo được 670 ha vườn kém hiệu quả, trồng mới 1.665 ha cây ăn quả đặc sản và hình thành 156 trang trại quy mô trên 1 ha, tạo ra bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế cao.

Quá trình chuyển đổi các hợp tác xã nông nghiệp tại Lập Thạch đạt kết quả ra sao? Thực hiện Luật Hợp tác xã và Chỉ thị 68-CT/TW của Bộ Chính trị, Huyện ủy Lập Thạch đã chỉ đạo quyết liệt việc đổi mới quản lý kinh tế tập thể. Tính đến cuối năm 1999, toàn huyện có 51/55 hợp tác xã tổ chức đại hội xã viên, trong đó chuyển đổi thành công 34 hợp tác xã sang mô hình cung ứng dịch vụ giống, thủy nông, vật tư và giải thể 17 hợp tác xã hoạt động hình thức, giúp kinh tế hộ gia đình phát huy tối đa quyền tự chủ sản xuất.

Việc điều chỉnh địa giới hành chính năm 2004 và 2009 ảnh hưởng như thế nào đến kinh tế huyện? Năm 2004, Lập Thạch chuyển 3 xã sang huyện Tam Đảo và đến năm 2009 tiếp tục tách 17 xã cùng 1 thị trấn để thành lập huyện Sông Lô, khiến diện tích huyện giảm còn 173,1 km2 với 20 xã, thị trấn. Dù địa bàn liên tục thu hẹp, Đảng bộ huyện vẫn chỉ đạo giữ vững ổn định kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân đạt 13,92%/năm giai đoạn 2001 - 2005 và bảo đảm tốt đời sống nhân dân.

Thành tựu nổi bật nhất trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng của huyện giai đoạn 2001 - 2005 là gì? Huyện đã huy động tổng vốn đầu tư xây dựng đạt 365,42 tỷ đồng, tăng gấp 4 lần so với giai đoạn 1996 - 2000. Địa phương đã hoàn thành kiên cố hóa 48,2 km kênh mương, nâng cấp 2 tuyến đê sông Lô và sông Phó Đáy, đạt tỷ lệ 100% số xã có trường học cao tầng và 36/36 xã, thị trấn xây dựng xong trụ sở làm việc khang trang.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Dương Kim Huệ đã phục dựng thành công bức tranh toàn diện và sâu sắc về chặng đường 12 năm Đảng bộ huyện Lập Thạch lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1997 đến năm 2009:

  • Khẳng định tính đúng đắn và sáng tạo trong việc cụ thể hóa đường lối đổi mới của Đảng và Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc vào hoàn cảnh địa phương bán sơn địa.
  • Đánh giá toàn diện những thành tựu kinh tế nổi bật với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 13,92%/năm và mức thu nhập bình quân đầu người tăng gấp 2,77 lần giai đoạn 2000 - 2005.
  • Chỉ rõ những hạn chế khách quan và chủ quan về quy mô tiểu thủ công nghiệp manh mún cùng tính lúng túng trong giai đoạn đầu chuyển đổi mô hình hợp tác xã.
  • Đúc kết hệ thống bài học kinh nghiệm sâu sắc về ban hành nghị quyết chuyên đề, phát huy nội lực nhân dân và kết hợp phát triển kinh tế với củng cố hệ thống chính trị cơ sở.
  • Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử - thống kê phong phú, tin cậy, phục vụ đắc lực cho công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội địa phương trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020 và tầm nhìn dài hạn.

Công trình là tài liệu tham khảo học thuật giá trị cao dành cho các nhà nghiên cứu, cán bộ lãnh đạo và học viên chuyên ngành Lịch sử Đảng. Bạn đọc quan tâm có thể khai thác sâu các phân tích và hệ thống bảng biểu thống kê trong toàn văn luận văn để ứng dụng vào công tác nghiên cứu và thực tiễn quản lý.