Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62 22 56 01) của tác giả Nguyễn Minh Tuấn, với đề tài "Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010", được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Mậu Hãn.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nông nghiệp đóng vai trò trọng yếu trong việc cung ứng lương thực, thực phẩm cho xã hội và nguyên liệu cho công nghiệp. Tại Việt Nam, quá trình đổi mới bắt đầu từ nông nghiệp, đưa lĩnh vực này thành nền tảng bảo đảm ổn định kinh tế, chính trị và xã hội. Sau 25 năm đổi mới (1986 - 2010), sản phẩm nông nghiệp nước ta đã hội nhập sâu rộng, song sản xuất nông nghiệp cả nước nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng vẫn đối mặt với tình trạng manh mún, phân tán, sức cạnh tranh hạn chế, đời sống nông dân còn nhiều khó khăn.
Sau khi tái lập tỉnh vào năm 1997, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã vận dụng đường lối của Trung ương để lãnh đạo phát triển nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và nâng cao giá trị sản xuất. Mặc dù đạt được những kết quả cụ thể, nông nghiệp Thái Nguyên vẫn bộc lộ những bất cập: tiềm năng chưa được khai thác tương xứng, lãng phí tài nguyên đất đai, ứng dụng khoa học kỹ thuật chậm, thị trường tiêu thụ thiếu ổn định. Trước yêu cầu phát triển mới, việc tổng kết quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn 1997 - 2010 là đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn và lý luận. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn 1997 - 2010.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010; qua đó rút ra các nhận xét và đúc kết kinh nghiệm thực tiễn phục vụ sự phát triển của kinh tế nông nghiệp địa phương.
Nhiệm vụ nghiên cứu được tác giả xác định gồm 3 nội dung:
- Làm rõ những căn cứ để Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên xác định chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010.
- Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trong lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010.
- Phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và rút ra những kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên trong quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, chủ trương và quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu kinh tế nông nghiệp theo cả nghĩa rộng (gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản) và nghĩa hẹp (trồng trọt, chăn nuôi), tập trung vào sự lãnh đạo đối với trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản cùng các yếu tố phục vụ sản xuất nông nghiệp.
- Phạm vi thời gian: Trọng tâm từ năm 1997 đến năm 2010, trải qua 3 nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh: khóa XV (1997 - 2000), khóa XVI (2001 - 2005) và khóa XVII (2006 - 2010). Đồng thời, tác giả khảo cứu thêm các dữ liệu trước năm 1997 và sau năm 2010 để bảo đảm tính liên tục lịch sử.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Thái Nguyên gồm 9 đơn vị hành chính trực thuộc: thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công và 7 huyện (Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phổ Yên).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được phân chia thành ba nhóm công trình:
Nhóm công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Các công trình phản ánh thực trạng, chính sách và tiến trình phát triển nông nghiệp cả nước:
- Nguyễn Sinh Cúc với Thực trạng nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam 1976 - 1990 (1991).
- Cuốn Lịch sử nông nghiệp Việt Nam (1994) khái quát các chặng đường kỹ thuật, tổ chức và quản lý nông nghiệp.
- Lê Nghiêm và Nguyễn Đình Nam với Kinh tế nông thôn; Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang với Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam; Ngô Đức Cát với Phân tích chính sách nông nghiệp, nông thôn; Lê Đình Thắng với Chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị.
- Nguyễn Đình Hợi với giáo trình Kinh tế nông nghiệp; Trương Thị Tiến với Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam; Nguyễn Trọng Phúc với Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
- Viện Thông tin khoa học Xã hội với Nông thôn trong bước quá độ sang kinh tế thị trường (tập 1) (1999); Nguyễn Đình Hương với Thực trạng, giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Đặng Hùng Võ với bài viết về tập trung ruộng đất trong mô hình kinh tế trang trại.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với cuốn sách Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam (2002); Đinh Thị Thu Cúc (2005); Nguyễn Hữu Khải với chuyên khảo về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và xuất khẩu nông sản; Nguyễn Xuân Thảo với Góp phần phát triển bền vững nông thôn Việt Nam; Nguyễn Kế Tuấn với Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam con đường và bước đi; Nguyễn Văn Bích với ấn phẩm năm 2007.
- Nghiên cứu so sánh và hội nhập: Phùng Hữu Phú và Nguyễn Viết Thông (đồng chủ biên) với Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn - Kinh nghiệm Việt Nam và Trung Quốc; Đặng Kim Sơn; Nguyễn Từ.
- Các công trình chuyên ngành Lịch sử Đảng: Nguyễn Ngọc Hà với Đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2011); Nguyễn Thị Tố Quyên (2012); Vũ Quang Hiển (chủ biên) với Đảng với vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn (1930 - 1975); Luận án tiến sĩ của Lê Quang Phi (2000), Đặng Kim Oanh (2006); các bài viết của Nguyễn Tấn Dũng, Phạm Văn Búa.
Nhóm công trình nghiên cứu theo vùng, miền và địa phương
Các nghiên cứu làm rõ sự vận dụng chủ trương của Đảng tại từng địa bàn:
- Vùng Nam Bộ và Tây Nguyên: Lâm Quang Huyên với Nông nghiệp, nông thôn Nam Bộ hướng tới thế kỷ XXI; Phạm Hùng với công trình về miền Đông Nam Bộ; Lê Anh Vũ với luận án tiến sĩ kinh tế về nông thôn Tây Bắc (2004).
- Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ: Mai Thị Thanh Xuân; Trương Minh Dục; Nguyễn Đăng Bằng với luận án tiến sĩ về Bắc Trung Bộ; Nguyễn Văn Vinh với luận án về Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (1986 - 2005).
- Vùng đồng bằng sông Hồng: Đặng Văn Thắng và Phạm Ngọc Dũng; Nguyễn Thị Tố Uyên; Nguyễn Văn Thông với luận án về Hải Phòng (1996 - 2010); Vũ Quang Ánh (1997 - 2010); Trần Thị Thái về Nam Định (1997 - 2005); Lê Thị Hồng về Thái Bình (2001 - 2010); Nguyễn Văn Khánh; Tô Duy Hợp.
Nhóm công trình nghiên cứu về tỉnh Thái Nguyên
Nhiều tác giả đã tiếp cận nông nghiệp và kinh tế Thái Nguyên dưới các khía cạnh kinh tế, xã hội, lịch sử địa phương:
- Phạm Thị Lý với luận án tiến sĩ kinh tế về cây chè ở Thái Nguyên; Đỗ Thị Thúy Phương với đề tài nghiên cứu cấp Bộ về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chè Thái Nguyên; Đàm Thanh Thủy với luận án về biến động lao động và đất sản xuất chè, lúa đến năm 2020.
- Lê Quang Dực với luận án về tác động của Nhà nước chuyển kinh tế hộ sang sản xuất hàng hóa; Dương Quỳnh Phương với nghiên cứu sử dụng tài nguyên đất rừng gắn với phát triển bền vững (2007); Phạm Thị Nga về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành; Nguyễn Tiến Long nghiên cứu tác động của FDI; Nguyễn Thị Yến về nông nghiệp với giảm nghèo; Lưu Thái Bình nghiên cứu chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ rau.
- Về lịch sử và tổng hợp địa phương: Hoàng Thị Mỹ Hạnh với luận án tiến sĩ lịch sử về chuyển biến kinh tế Thái Nguyên (1997 - 2010); Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên với sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên 1965 - 2000; Tỉnh ủy Thái Nguyên với Địa chí Thái Nguyên (2009); Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh với Lịch sử ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên (1945 - 2010); Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên với ấn phẩm đánh giá 15 năm tái lập tỉnh (1997 - 2012).
Khoảng trống luận án giải quyết
Mặc dù các tài liệu trên đã phản ánh nhiều khía cạnh về đường lối của Đảng hoặc phân tích kinh tế vi mô, kỹ thuật ngành tại Thái Nguyên, song chưa có công trình nào dựng lại đầy đủ tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010 trên cả 4 lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách tổng kết quá trình hoạch định, chỉ đạo thực hiện và đúc kết các bài học lịch sử của địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Luận án được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong thời kỳ đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận của khoa học lịch sử:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh theo trình tự thời gian khách quan qua các nhiệm kỳ đại hội, gắn với từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể của tỉnh Thái Nguyên.
- Phương pháp lôgíc: Khái quát, liên kết các sự kiện và văn kiện nhằm làm rõ sự phát triển trong nhận thức, chủ trương của Đảng bộ tỉnh; phân tích nguyên nhân của các ưu điểm, hạn chế và đúc kết kinh nghiệm.
- Phương pháp liên ngành: Tác giả kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu, thống kê so sánh số liệu kinh tế và điều tra khảo sát thực địa tại các địa bàn trong tỉnh.
Nguồn tư liệu
- Tư liệu thành văn: Văn kiện của Trung ương Đảng và Chính phủ; văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (khóa XV, XVI, XVII); các nghị quyết, chỉ thị, chương trình hành động của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên; báo cáo hằng năm và đề án của UBND tỉnh, HĐND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên; Niên giám thống kê tỉnh Bắc Thái và tỉnh Thái Nguyên lưu trữ tại Chi cục Thống kê tỉnh.
- Tư liệu khảo sát thực tế: Các số liệu, biên bản và ghi nhận thực địa do chính tác giả thu thập tại các hợp tác xã, trang trại và cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này dành cho việc hệ thống hóa, phân loại các công trình nghiên cứu đã công bố theo ba nhóm: nhóm công trình về nông thôn Việt Nam, nhóm công trình theo các vùng miền địa phương, và nhóm công trình trực tiếp khảo sát tỉnh Thái Nguyên. Trên cơ sở chỉ rõ những thành tựu của các học giả đi trước, tác giả xác định khoảng trống học thuật mà luận án cần đi sâu giải quyết, xác lập tính cấp thiết và định hình các nhiệm vụ khoa học của đề tài.
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2000
1. Những căn cứ xác định chủ trương
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Thái Nguyên có diện tích tự nhiên 3.541,67 km2, tọa độ từ 21°19’ đến 22°03’ vĩ độ Bắc và 105°29’ đến 106°15’ kinh độ Đông. Địa hình gồm 4 nhóm chính: đồng bằng lượn sóng (30 - 50 m); đồi núi thấp bát úp (50 - 125 m); núi thấp sườn dốc; và địa hình nhân tác với 154 hồ chứa, tiêu biểu là hồ Núi Cốc (diện tích mặt nước 25 km2, dung tích 175 triệu m3 nước, tưới cho 12.900 ha). Hệ thống sông chính gồm sông Cầu (lưu lượng bình quân 135 m3/giây), sông Công, sông Chu, sông Đu, sông Nghinh Tường, sông Khe Mo, sông Đào. Khi tách tỉnh năm 1997, Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính gồm 177 xã, phường, thị trấn (trong đó 110 xã miền núi, 16 xã vùng cao); đến năm 2010 có 181 đơn vị hành chính cơ sở.
Bảng: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên năm 2006
| STT |
Đối tượng sử dụng đất |
Diện tích (km2) |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Rừng tự nhiên |
94,7 |
2,7 |
| 2 |
Rừng trên núi đá vôi |
168,5 |
4,8 |
| 3 |
Đất không còn rừng, cỏ và cây bụi rải rác |
23,5 |
0,7 |
| 4 |
Đất trồng lúa ở đồng bằng |
383,8 |
10,8 |
| 5 |
Đất trồng lúa màu trong các thung lũng giữa núi |
69,9 |
2,0 |
| 6 |
Đất trồng màu, cây công nghiệp, cây dài ngày |
556,5 |
15,7 |
| 7 |
Đất rừng xen nương rẫy trên núi |
1.559,9 |
44,0 |
| 8 |
Đất trồng hoa màu, cây công nghiệp trên các đồi cao và thấp |
551,1 |
15,5 |
| 9 |
Khu dân cư kiểu thành phố |
8,4 |
0,2 |
| 10 |
Khu dân cư kiểu nông thôn |
85,3 |
2,3 |
| 11 |
Khu khai thác khoáng sản |
6,1 |
0,2 |
| 12 |
Sông hồ |
39,5 |
1,1 |
| Tổng số |
|
3.547,2 |
100,0 |
- Thực trạng nông nghiệp Thái Nguyên thời kỳ Bắc Thái (1986 - 1996): Nông nghiệp cơ bản mang tính tự cấp tự túc. Năm 1990, giá trị gia tăng nông nghiệp đạt 198.644 triệu đồng, năm 1995 đạt 766,0 triệu đồng (theo giá so sánh). Trồng trọt chiếm 57 - 66%, chăn nuôi chiếm 30 - 38%. Năng suất lúa năm 1990 đạt 27,1 tạ/ha, năm 1994 đạt 28,8 tạ/ha; lương thực bình quân đầu người năm 1990 đạt 227 kg, năm 1994 đạt 282 kg. Ruộng đất phân tán từ 13 - 18 mảnh/hộ. Mức độ cơ giới hóa làm đất chỉ đạt 20%, khâu thu hoạch đạt 15%, chăn nuôi đạt 5%. Điện nông thôn mới phục vụ được 18% nhu cầu sản xuất.
Bảng: So sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân Thái Nguyên với cả nước giai đoạn 1991 - 1995 (%)
| Chỉ tiêu tăng trưởng |
Cả nước |
Thái Nguyên |
| GDP tổng số |
8,2 |
8,7 |
| - Nông, lâm nghiệp |
4,3 |
4,3 |
| - Công nghiệp - Xây dựng |
12,8 |
10,6 |
| - Dịch vụ |
9,1 |
10,7 |
- Chủ trương của Trung ương: Đảng ban hành Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (1988) giao quyền tự chủ cho hộ xã viên; Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII (1993); Nghị quyết Trung ương 7 khóa VII (1994); Nghị quyết Đại hội VIII (1996); Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về khoa học công nghệ; Nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII (1997) và Nghị quyết 06-NQ/TW của Bộ Chính trị (1998) về phát triển nông nghiệp, nông thôn.
2. Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh (1997 - 2000)
- Chủ trương tại Đại hội XV (11/1997): Định hướng phát triển nông - lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mục tiêu cụ thể: sản lượng lương thực quy thóc đạt bình quân 270.000 tấn/năm; giá trị sản xuất đạt từ 12 triệu đồng/ha trở lên đối với đất ruộng và từ 20 triệu đồng/ha trở lên đối với đất vườn đồi thâm canh; nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 40%; thu hút 75% lao động nông thôn vào sản xuất; phấn đấu đến năm 2000 có trên 11.000 ha chè và trên 10.000 ha cây ăn quả.
- Chương trình 06-CTr/TU ngày 28/7/1998: Tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp; giải quyết việc làm cho 40% thời gian lao động nhàn rỗi ở nông thôn.
- Chỉ đạo thực hiện: Triển khai phát triển kinh tế hộ và kinh tế trang trại; chuyển đổi hợp tác xã cũ theo Luật Hợp tác xã; tăng cường đầu tư 2.027 công trình thủy lợi (như đập Thác Huống, kênh sông Máng, hồ Núi Cốc) bảo đảm tưới cho 33.000 ha lúa vụ mùa, 23.000 ha lúa vụ xuân và 8.000 ha cây vụ đông; mở rộng mạng lưới khuyến nông với 60 cụm khuyến nông cơ sở và các trại giống Tân Thái, Gia Sàng, Cù Vân, An Khánh.
Chương 3: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010
1. Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh
Bước vào thế kỷ XXI, trước tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và các nghị quyết mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và lần thứ X, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XVI (2001 - 2005) và lần thứ XVII (2006 - 2010) đã đề ra các chủ trương tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Trọng tâm chuyển sang phát triển toàn diện, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng tỷ trọng chăn nuôi, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với thị trường tiêu thụ và công nghiệp chế biến.
2. Quá trình chỉ đạo thực hiện trên các lĩnh vực
- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và thâm canh: Mở rộng diện tích gieo trồng các giống lúa lai, lúa thuần chất lượng cao, ngô lai; đẩy mạnh sản xuất vụ đông thành vụ sản xuất chính; ứng dụng công nghệ sinh học và kỹ thuật thâm canh tiên tiến.
- Phát triển cây chè mũi nhọn: Tỉnh ủy tập trung lãnh đạo phát triển chè thành cây công nghiệp thế mạnh số một của địa phương. Thực hiện thay thế các giống chè trung du cằn cỗi bằng các giống chè cành mới có năng suất, chất lượng cao (như LDP1, TRI777, Bát Tiên, Phúc Vân Tiên); xây dựng thương hiệu chè Thái Nguyên gắn liền với các vùng chè đặc sản nổi tiếng như Tân Cương (thành phố Thái Nguyên), La Bằng (huyện Đại Từ), Trại Cài (huyện Đồng Hỷ), Tức Tranh (huyện Phú Lương).
- Phát triển chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản: Chỉ đạo chuyển dịch từ chăn nuôi nhỏ lẻ phân tán sang mô hình gia trại, trang trại tập trung xa khu dân cư; nạc hóa đàn lợn, phát triển đàn bò thịt, bò sữa và gia cầm quy mô lớn; phát huy diện tích mặt nước hồ Núi Cốc và hệ thống ao hồ, sông suối để nuôi thả các loại thủy sản có giá trị kinh tế.
- Lâm nghiệp và bảo vệ môi trường: Đẩy mạnh giao đất giao rừng, thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ; kết hợp khoanh nuôi tái sinh rừng phòng hộ đầu nguồn với phát triển rừng kinh tế (keo, mỡ), đưa tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh liên tục tăng qua các năm.
- Xây dựng hạ tầng nông thôn và thể chế chính sách: Chỉ đạo kiên cố hóa kênh mương nội đồng, nâng cấp hệ thống giao thông liên xã, mở rộng lưới điện nông thôn; tạo cơ chế tín dụng ưu đãi cho hộ nông dân vay vốn làm kinh tế trang trại; đẩy mạnh đào tạo nghề nông thôn và bồi dưỡng năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ hợp tác xã, cán bộ cơ sở.
Chương 4: Nhận xét và một số kinh nghiệm
1. Đánh giá ưu điểm và hạn chế
- Ưu điểm: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã quán triệt và cụ thể hóa kịp thời các nghị quyết của Trung ương; lãnh đạo kinh tế nông nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định; cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch đúng hướng; bước đầu hình thành các vùng chuyên canh hàng hóa có thương hiệu (đặc biệt là chè); hạ tầng nông thôn được củng cố, góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo và nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn.
- Hạn chế: Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp nhìn chung còn chậm; kinh tế hộ vẫn chiếm tỷ trọng lớn và mang tính tự phát; liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ chưa chặt chẽ; chất lượng nông sản chưa đồng đều; công tác quản lý tài nguyên đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp ở một số nơi còn sơ hở, lãng phí.
2. Bốn bài học kinh nghiệm
Luận án đúc kết 4 kinh nghiệm lịch sử:
- Nhận thức đúng vai trò của kinh tế nông nghiệp từ đó lựa chọn hướng đi, giải pháp phù hợp với điều kiện của địa phương.
- Phải gắn chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với công nghiệp chế biến và nhu cầu của thị trường.
- Phát triển kinh tế nông nghiệp gắn lợi ích của nông dân.
- Tăng cường xây dựng tổ chức cơ sở Đảng ở nông thôn để đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế nông nghiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về lý luận và thực tiễn
- Về mặt lý luận: Luận án góp phần làm sáng tỏ quá trình nhận thức, phát triển và hoàn thiện đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông dân, nông thôn tại một tỉnh trung du, miền núi phía Bắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Luận án khẳng định tính đúng đắn và tính tất yếu của việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp gắn với thị trường và công nghiệp chế biến.
- Về mặt thực tiễn: Luận án phục dựng một cách chân thực, khách quan và toàn diện bức tranh kinh tế nông nghiệp tỉnh Thái Nguyên qua 14 năm (1997 - 2010). Công trình cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử, số liệu thống kê lưu trữ được thẩm định xác thực về địa bàn Bắc Thái và Thái Nguyên qua 3 nhiệm kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh.
Đề xuất và kiến nghị
Từ 4 bài học kinh nghiệm được rút ra, tác giả đưa ra các gợi mở chính sách cho cấp ủy, chính quyền địa phương:
- Cần tiếp tục rà soát quy hoạch đất đai nông nghiệp, phát huy lợi thế địa hình từng tiểu vùng sinh thái (vùng đồng bằng phía Nam, vùng bán sơn địa và vùng núi cao).
- Tiếp tục đầu tư khoa học công nghệ, đưa khâu chế biến sâu thành khâu đột phá nhằm nâng cao giá trị thặng dư cho nông sản chủ lực (đặc biệt là cây chè).
- Thực thi đồng bộ các chính sách bảo đảm hài hòa lợi ích kinh tế của người nông dân, hỗ trợ vốn, khoa học kỹ thuật và bảo hiểm rủi ro trong sản xuất nông nghiệp.
- Củng cố năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các chi bộ nông thôn, xem công tác xây dựng Đảng ở cơ sở là nhân tố quyết định hiệu quả thực hiện các chủ trương phát triển kinh tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Do giới hạn về phạm vi thời gian (1997 - 2010) và thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng, luận án chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu đường lối, chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Tỉnh ủy Thái Nguyên, chưa đi sâu phân tích toàn diện các mô hình kinh tế lượng vi mô hoặc đánh giá sinh thái nông nghiệp chuyên sâu.
- Các tư liệu và số liệu khảo sát dừng lại ở mốc tổng kết năm 2010, chưa bao hàm những biến động của giai đoạn đẩy mạnh chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới sau năm 2010.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục mở rộng nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đối với kinh tế nông nghiệp giai đoạn từ năm 2011 đến nay, tập trung vào nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp thông minh.
- Khảo sát chuyên sâu hơn về mối quan hệ giữa công nghiệp hóa nông nghiệp và đô thị hóa tại Thái Nguyên trong điều kiện địa phương trở thành trung tâm công nghiệp lớn của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều đối tượng:
- Cơ quan tham mưu, lãnh đạo và quản lý: Giúp Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, HĐND, UBND tỉnh Thái Nguyên và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thêm luận cứ lịch sử thực tiễn để hoạch định các chủ trương, đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh nhà.
- Giảng viên và nghiên cứu sinh: Cung cấp nguồn tư liệu thành văn, số liệu xác thực phục vụ nghiên cứu, giảng dạy các chuyên đề về Lịch sử Đảng bộ địa phương, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và môn Lịch sử kinh tế Việt Nam tại các trường đại học, cao đẳng (đặc biệt là Đại học Thái Nguyên, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh).
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Chương 2 và Chương 3 chứa đựng hệ thống số liệu chi tiết về hiện trạng đất đai, các công trình thủy lợi, năng suất cây trồng và tiến trình triển khai chính sách cây chè mũi nhọn của địa phương qua các thời kỳ.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao nói Thái Nguyên có điều kiện tự nhiên mang tính chất chuyển tiếp, thuận lợi cho nông nghiệp đa dạng?
Theo luận án, Thái Nguyên nằm ở vị trí cầu nối giữa vùng núi rừng Việt Bắc và đồng bằng châu thổ sông Hồng. Tỉnh có 4 nhóm địa hình rõ nét: đồng bằng đồi thấp phía Nam thích hợp trồng lúa, màu; vùng đồi bát úp cao 50 - 125 m thích hợp trồng chè, cây lấy gỗ; vùng núi cao thích hợp lâm nghiệp; và vùng địa hình nhân tác gồm 154 hồ chứa nước (như hồ Núi Cốc) thuận lợi nuôi trồng thủy sản. Khí hậu chia thành 3 tiểu vùng rõ rệt (phía Tây mưa nhiều; phía Đông lạnh, ít mưa; phía Nam chuyển tiếp đồng bằng), cho phép tỉnh phát triển đa dạng các loại cây trồng ôn đới, nhiệt đới và cận nhiệt đới.
2. Tình trạng nông nghiệp Thái Nguyên giai đoạn 1986 - 1996 trên địa bàn tỉnh Bắc Thái bộc lộ những điểm nghẽn nào?
Luận án chỉ rõ: nông nghiệp giai đoạn này chủ yếu thuần nông độc canh lúa, hiệu quả thấp; năng suất lúa năm 1990 chỉ đạt 27,1 tạ/ha và năm 1994 đạt 28,8 tạ/ha; lương thực đầu người thấp (năm 1990 đạt 227 kg, năm 1994 đạt 282 kg). Cây chè chỉ chiếm 10% giá trị gia tăng của ngành. Ruộng đất bị chia cắt manh mún từ 13 - 18 mảnh/hộ; cơ giới hóa khâu làm đất chỉ đạt 20%, khâu thu hoạch đạt 15%; mạng lưới điện nông thôn phục vụ sản xuất chỉ đạt 18%.
3. Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ XV (11/1997) đã đề ra những chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp chủ yếu nào cho giai đoạn 1997 - 2000?
Đại hội XV xác định các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2000: sản lượng lương thực bình quân đạt 270.000 tấn/năm; giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác đạt từ 12 triệu đồng trở lên đối với đất ruộng và 20 triệu đồng trở lên đối với đất vườn đồi thâm canh; nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 40%; giải quyết việc làm cho 75% lao động nông thôn; mở rộng diện tích đạt trên 11.000 ha chè và trên 10.000 ha cây ăn quả.
4. Hệ thống hạ tầng thủy lợi phục vụ nông nghiệp Thái Nguyên trong giai đoạn nghiên cứu có quy mô ra sao?
Tỉnh Thái Nguyên có mạng lưới thủy lợi phong phú gồm 2.027 công trình lớn nhỏ. Các công trình tiêu biểu gồm cụm đập Thác Huống, sông Máng và hồ Núi Cốc (dung tích 175 triệu m3 nước, tưới cho 12.900 ha). Hệ thống thủy lợi này bảo đảm năng lực tưới tiêu cho 33.000 ha lúa vụ mùa, 23.000 ha lúa vụ xuân và 8.000 ha cây vụ đông, tạo điều kiện thâm canh tăng vụ lên 2 - 3 vụ/năm.
5. Luận án đúc rút được những bài học kinh nghiệm cốt lõi nào từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh?
Tác giả đã đúc kết 4 bài học kinh nghiệm: thứ nhất là nhận thức đúng vị trí của kinh tế nông nghiệp để lựa chọn hướng đi phù hợp đặc thù địa phương; thứ hai là gắn chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi với công nghiệp chế biến và tín hiệu thị trường; thứ ba là mọi chính sách phát triển phải gắn liền và bảo đảm lợi ích kinh tế trực tiếp của người nông dân; thứ tư là coi trọng xây dựng, nâng cao năng lực tổ chức cơ sở Đảng ở địa bàn nông thôn.
Kết luận
Luận án "Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2010" của tác giả Nguyễn Minh Tuấn là một công trình nghiên cứu lịch sử chuyên khảo có hệ thống về sự lãnh đạo của một đảng bộ địa phương trong lĩnh vực nông nghiệp thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bằng việc phân tích sâu sắc các dữ liệu thành văn của Tỉnh ủy và số liệu thống kê xác thực, tác giả đã tái hiện toàn diện các giai đoạn hoạch định chủ trương, chỉ đạo tổ chức thực tiễn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên sau khi tái lập tỉnh. Bốn bài học kinh nghiệm được công trình đúc kết phản ánh chân thực các quy luật vận động của kinh tế nông nghiệp địa phương, đem lại giá trị khoa học thiết thực cho công tác nghiên cứu Lịch sử Đảng và công tác hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay.