Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo kinh tế đối ngoại từ năm 1991 đến năm 2010" của tác giả Nguyễn Phương Hải thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62 22 03 15), được bảo vệ năm 2017 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Ngô Đăng Tri.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng trong xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa, cách mạng khoa học - công nghệ làm biến đổi nền sản xuất, đặt kinh tế đối ngoại thành động lực của sự phát triển nhằm tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đối với Việt Nam, kinh tế đối ngoại là đòi hỏi tất yếu khách quan để khắc phục hạn chế của một nền sản xuất nhỏ, tích lũy nội bộ thấp. Thành phố Hải Phòng giữ vị trí chiến lược của vùng duyên hải Bắc Bộ, là đầu mối giao thông và cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc. Trong giai đoạn 1991 - 2010, Đảng bộ thành phố Hải Phòng đã đề ra nhiều chủ trương nhằm phát huy lợi thế địa kinh tế của thành phố cảng. Tuy vậy, thực tiễn hoạt động kinh tế đối ngoại của địa phương chưa tương xứng với tiềm năng, việc hoạch định chủ trương và chỉ đạo còn bộc lộ những hạn chế. Lịch sử nghiên cứu trước đây chưa có công trình nào tái hiện có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu dưới góc độ khoa học lịch sử Đảng về quá trình lãnh đạo của Đảng bộ thành phố đối với lĩnh vực này. Do đó, việc nghiên cứu đề tài là yêu cầu cần thiết nhằm cung cấp căn cứ khoa học cho thực tiễn lãnh đạo kinh tế đối ngoại của Hải Phòng.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong phát triển kinh tế đối ngoại; rút ra các nhận xét và kinh nghiệm chủ yếu có giá trị khoa học và thực tiễn.
Luận án triển khai 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu, làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế đối ngoại của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1991 đến năm 2010.
- Phân tích chủ trương phát triển kinh tế đối ngoại của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1991 đến năm 2010.
- Trình bày quá trình Đảng bộ thành phố Hải Phòng chỉ đạo thực hiện các hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 1991 đến năm 2010.
- Nhận xét những thành tựu, hạn chế trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế đối ngoại ở Hải Phòng; rút ra những nhận xét và kinh nghiệm từ quá trình thực tiễn Đảng bộ thành phố Hải Phòng hoạch định chủ trương, triển khai thực hiện hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 1991 đến năm 2010.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong phát triển kinh tế đối ngoại từ năm 1991 đến năm 2010.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:
- Về nội dung khoa học: Luận án tập trung vào 4 lĩnh vực hoạt động gồm: (1) Hoạt động xuất, nhập khẩu; (2) Hoạt động hợp tác kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài; (3) Các hoạt động hợp tác, chuyển giao công nghệ với nước ngoài; (4) Các hoạt động dịch vụ quốc tế.
- Về không gian: Hoạt động lãnh đạo phát triển kinh tế đối ngoại của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
- Về thời gian: Từ năm 1991 (thời điểm Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ X) đến năm 2010 (Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XIV). Đồng thời, luận án có sử dụng một số tư liệu trước năm 1991 và sau năm 2010 để đảm bảo tính liên tục, hệ thống.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã khảo cứu và phân loại các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan theo ba nhóm nội dung cơ bản:
Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về kinh tế đối ngoại nói chung:
- Nghiên cứu quốc tế: Cuốn sách "Công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu: kinh nghiệm của ASEAN" (1992) của Mohamed Ariff và Hal Hill phân tích quá trình các nước ASEAN chuyển đổi chiến lược từ thay thế nhập khẩu sang hướng về xuất khẩu; bài viết "Tự do hoá với bên ngoài và kết quả hoạt động kinh tế của các nước đang phát triển" (2001) của Lance Taylor phân tích tính tất yếu của xu hướng tự do hóa kinh tế; tác phẩm "Trung Quốc và WTO" của Supachai Panitchpakdi và Mark L. Clifford đánh giá cơ hội và thách thức của Trung Quốc khi tham gia tổ chức thương mại đa phương; tác phẩm "Chiến lược cạnh tranh" (1996) của Michael Porter và sách dịch "Bàn về cạnh tranh toàn cầu" (2002) của Bạch Thụ Cường phân tích hệ thống lý luận cạnh tranh quốc tế và chính sách thương mại.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Cuốn sách "Kinh tế đối ngoại Việt Nam" (2007) của Phan Huy Đường hệ thống hóa lý luận và thực trạng hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2007; tác phẩm "Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam - thực trạng và giải pháp" (2005) của Trần Xuân Tùng; sách "Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam" (2004) do Ngô Văn Điểm chủ biên; cuốn "Kinh tế đối ngoại của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (2005) của Trương Sỹ Quý. Bên cạnh đó là các luận án tiến sĩ kinh tế của Hà Văn Vấn (2000), Lê Nguyên Đương (2002), Nguyễn Hồng Hải (2009); cùng nhiều bài báo chuyên ngành của Võ Đại Lược (2003), Nguyễn Trọng Xuân (1995), Nguyễn Thị Thơm (2008), Đặng Quốc Tuấn (2008), Nguyễn Như Bình (2007), Từ Quang Phương (2007), Ngô Văn Hiền (2007), Võ Hùng Dũng (2011).
Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế đối ngoại:
- Sách chuyên khảo "Đổi mới và hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại" (1996) do Lưu Văn Đạt chủ biên; công trình "Đổi mới kinh tế Việt Nam và chính sách kinh tế đối ngoại" (1995) của Viện Nghiên cứu Kinh tế Thế giới; cuốn "Quản lý kinh tế đối ngoại của Việt Nam" (2001) của Thế Đạt; sách "Kinh tế đối ngoại những nguyên lý và vận dụng tại Việt Nam" (2007) của Hà Thị Ngọc Oanh.
- Luận án tiến sĩ lịch sử của Nguyễn Đình Quỳnh (2014) với đề tài "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 1986 đến năm 2006"; đề tài nghiên cứu của Nguyễn Văn Trình (2005) về kinh tế đối ngoại thành phố Hồ Chí Minh; các bài báo của Hoàng Ngọc Hòa (2005), Nguyễn Việt Hà (2007), Nguyễn Thị Thùy (2009), Phạm Thị Túy (2010).
Nhóm thứ ba gồm các công trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế và kinh tế đối ngoại thành phố Hải Phòng:
- Sách tổng kết lịch sử - kinh tế: "Đảng bộ Hải Phòng - những thành tựu 5 năm đầu thế kỷ XXI" (2005) của Thành ủy Hải Phòng; "Hải Phòng - thế và lực mới trong thế kỷ XXI" (2003) do Chu Viết Luân chủ biên; "Kinh tế Hải Phòng 50 năm xây dựng và phát triển (1955 - 2005)" (2005) của Phạm Vũ Cầu và Đan Đức Hiệp; "Kinh tế Hải Phòng 25 năm đổi mới và phát triển (1986 - 2010)" (2010) của Đan Đức Hiệp.
- Các luận án tiến sĩ: Luận án tiến sĩ kinh tế của Phạm Thị Thúy (2008) về thị trường dịch vụ ở Hải Phòng; luận án tiến sĩ lịch sử của Nguyễn Thị Anh (2014) về sự lãnh đạo của Đảng bộ Hải Phòng đối với kinh tế biển giai đoạn 1996 - 2010.
- Các đề tài khoa học, tham luận hội thảo: Chuyên đề của Đỗ Cường Thanh (2005) về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2001 - 2005; chuyên đề nghiên cứu của Sở Ngoại vụ Hải Phòng giai đoạn 2006 - 2010; chuyên đề nghiên cứu của Đan Đức Hiệp về mở rộng không gian kinh tế đến năm 2010; các tham luận tại Hội thảo khoa học năm 2011 về tác động hội nhập quốc tế của Đan Đức Hiệp, Bùi Quang Tuấn và Lê Văn Hùng, Nguyễn Thanh Long, Đặng Văn Tâng; chuyên đề phát triển du lịch của Trần Trung Dũng.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trên tiếp cận kinh tế đối ngoại từ góc độ kinh tế học, tập trung phân tích số liệu thực trạng hoặc đề xuất giải pháp chính sách, hoặc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng trên bình diện quốc gia. Các công trình viết về Hải Phòng chủ yếu tiếp cận theo từng mảng riêng rẽ như kinh tế biển, thị trường dịch vụ, hoặc chỉ khái quát trong thời đoạn ngắn. Luận án này là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống theo tiến trình lịch sử Đảng về sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với lĩnh vực kinh tế đối ngoại trong trọn vẹn hai thập niên 1991 - 2010.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận là các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế đối ngoại trong thời kỳ đổi mới đất nước.
Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án thuộc hướng tiếp cận định tính của chuyên ngành Lịch sử Đảng:
- Phương pháp lịch sử: Được sử dụng chủ yếu trong Chương 2 và Chương 3 để phân kỳ hai giai đoạn phát triển (1991 - 2001 và 2001 - 2010), tái hiện quá trình hình thành, phát triển các chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng theo trật tự thời gian khách quan, làm rõ tính kế thừa và điều chỉnh của các quyết sách.
- Phương pháp lôgíc: Được áp dụng xuyên suốt toàn bộ 4 chương nhằm liên kết các sự kiện, văn kiện, nghị quyết, làm sáng tỏ sự chuyển biến trong nhận thức lý luận và tư duy kinh tế đối ngoại của Thành ủy Hải Phòng; phương pháp này là công cụ chủ yếu trong Chương 4 để nhận xét ưu điểm, phân tích nguyên nhân của hạn chế và khái quát các bài học kinh nghiệm.
- Các phương pháp bổ trợ: Phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê lịch sử và phương pháp chuyên gia được kết hợp sử dụng để xử lý hệ thống tư liệu, kiểm chứng các số liệu lưu trữ và bảo đảm tính khách quan của các nhận định khoa học.
Nguồn tư liệu thực hiện luận án gồm ba bộ phận chủ yếu:
- Văn kiện chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế thời kỳ đổi mới (các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị).
- Hệ thống văn kiện lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng: Các Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố khóa X, XI, XII, XIII, XIV; Nghị quyết của Ban Thường vụ Thành ủy (Nghị quyết số 05-NQ/TU năm 1992, Nghị quyết số 02-NQ/TU năm 1992, Nghị quyết số 20/NQ-TU năm 1995...); các Chỉ thị, Quyết định, Báo cáo tổng kết công tác kinh tế đối ngoại của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thành phố cùng các sở, ban, ngành liên quan (lưu trữ tại Văn phòng Thành ủy, Sở Nội vụ, Sở Ngoại vụ, UBND thành phố Hải Phòng).
- Các công trình nghiên cứu chuyên khảo, bài báo, đề tài khoa học đã được công bố của các tác giả trong nước và quốc tế liên quan đến kinh tế đối ngoại Việt Nam và kinh tế Hải Phòng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 khái quát tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về kinh tế đối ngoại, sự lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế đối ngoại và thực tiễn phát triển kinh tế đối ngoại tại thành phố Hải Phòng. Tác giả phân tích những kết quả nghiên cứu đã đạt được của các học giả đi trước, chỉ rõ những tư liệu và góc nhìn lý luận có thể kế thừa. Đồng thời, chương này xác định rõ các nhiệm vụ khoa học mà luận án tập trung giải quyết: làm rõ tiềm năng, lợi thế của thành phố; hệ thống hóa chủ trương lãnh đạo; dựng lại quá trình chỉ đạo thực tiễn và đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử của Đảng bộ thành phố Hải Phòng trong hai thập niên 1991 - 2010.
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế đối ngoại của Đảng bộ thành phố Hải Phòng từ năm 1991 đến năm 2001
Trong giai đoạn này, tình hình thế giới có nhiều biến động sâu sắc: toàn cầu hóa kinh tế và cách mạng công nghệ phát triển; hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ làm đảo lộn quan hệ kinh tế truyền thống, khiến 70% giá trị sản lượng hàng hóa của Hải Phòng trước đây tiêu thụ tại thị trường khối Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV) bị mất hoàn toàn, đòi hỏi phải tìm kiếm thị trường mới. Về phía Trung ương, Đảng ban hành các chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại (Đại hội VII, Đại hội VIII, Nghị quyết số 01-NQ/TW ngày 18/11/1996 của Bộ Chính trị về kinh tế đối ngoại 5 năm 1996 - 2000, Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 29/12/1997 của Hội nghị Trung ương 4 khóa VIII, sửa đổi Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000).
Về chủ trương của Đảng bộ thành phố:
- Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ X (1991) đề ra phương châm tập trung ổn định kinh tế, đẩy mạnh 4 chương trình kinh tế - xã hội, trong đó có chương trình xuất, nhập khẩu - kinh tế đối ngoại; xác định định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố lấy kinh tế đối ngoại làm mũi nhọn, đòn xeo.
- Ngày 03/03/1992, Thường trực Hội đồng Bộ trưởng ban hành Thông báo số 67/TB đồng ý về nguyên tắc cho Hải Phòng xây dựng dần là "thành phố mở" về kinh tế.
- Ngày 28/04/1992, Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU về kinh tế đối ngoại. Nghị quyết xác định: "Kinh tế đối ngoại là một ngành kinh tế mũi nhọn, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng bộ và nhân dân Hải Phòng". Nghị quyết chỉ ra 5 nhiệm vụ cụ thể: đẩy mạnh xuất nhập khẩu; mở rộng dịch vụ quốc tế; tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài; phát triển du lịch quốc tế trên trục Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; tranh thủ viện trợ quốc tế.
- Nghị quyết số 20/NQ-TU ngày 25/01/1995 của Thành ủy Hải Phòng về phát triển du lịch thành phố trong tình hình mới.
- Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XI (tháng 5/1996) và Phương hướng, kế hoạch 5 năm 1996 - 2000 tiếp tục khẳng định kinh tế đối ngoại là mũi nhọn, đòn xeo; xác định chỉ tiêu đến năm 2000 đạt kim ngạch xuất khẩu 500 triệu USD, xuất khẩu bình quân đầu người trên 270 USD (chỉ tiêu kế hoạch ghi 278 USD/người), tổng thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt khoảng 2 tỷ USD, nguồn vốn ODA khoảng 200 triệu USD.
Về quá trình chỉ đạo thực hiện:
- Hoạt động xuất, nhập khẩu: Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Nghị quyết số 02/NQ-TU ngày 17/05/1992 về chương trình xuất nhập khẩu 5 năm (1992 - 1996). Thành phố chỉ đạo thành lập Công ty vận tải biển địa phương với 4 con tàu có trọng tải trên 9.000 tấn và có cảng riêng để chủ động năng lực vận chuyển hàng hóa. Chỉ đạo quy hoạch vùng nguyên liệu và đầu tư sản xuất các mặt hàng xuất khẩu chủ lực gồm thủy sản, nông sản, hàng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và gia công may mặc, giày dép; phát triển xuất khẩu tại chỗ và dịch vụ tàu biển (sửa chữa, cạo rỉ, sơn tàu).
- Thu hút đầu tư nước ngoài: Thành phố chỉ đạo thực hiện cơ chế "một cửa", giao Sở Kế hoạch và Đầu tư làm đầu mối giải quyết thủ tục nhằm tạo môi trường thông thoáng; chỉ đạo rà soát đối tác liên doanh, gắn thu hút vốn với chuyển giao kỹ thuật.
- Khoa học - công nghệ và dịch vụ quốc tế: Từng bước liên doanh nâng cấp hạ tầng cảng, phát triển các dịch vụ kho vận, vận tải hàng hải, viễn thông và dịch vụ du lịch quốc tế.
| Văn kiện / Kế hoạch |
Thời gian ban hành |
Mục tiêu / Chủ trương cốt lõi |
| Thông báo số 67/TB của HĐBT |
03/03/1992 |
Thống nhất nguyên tắc xây dựng Hải Phòng thành phố mở về kinh tế |
| Nghị quyết số 05-NQ/TU của Thành ủy |
28/04/1992 |
Xác định kinh tế đối ngoại là ngành mũi nhọn, đòn xeo của thành phố |
| Nghị quyết số 02/NQ-TU của Thành ủy |
17/05/1992 |
Triển khai chương trình xuất nhập khẩu 5 năm (1992 - 1996) |
| Nghị quyết số 20/NQ-TU của Thành ủy |
25/01/1995 |
Phát triển ngành du lịch Hải Phòng trong tình hình mới |
| Đại hội XI / Kế hoạch 1996 - 2000 |
05/1996 |
Kim ngạch XK đạt 500 triệu USD; FDI 2 tỷ USD; ODA 200 triệu USD |
Chương 3: Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại từ năm 2001 đến năm 2010
Chương 3 tái hiện sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, thực thi các cam kết trong AFTA, APEC, ASEAN và Nghị quyết số 07-NQ/TW năm 2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế.
Về chủ trương: Đảng bộ thành phố Hải Phòng thông qua các kỳ Đại hội XII, XIII và XIV đã điều chỉnh chiến lược theo hướng chuyển từ mở rộng quy mô sang kết hợp mở rộng với nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế đối ngoại. Chủ trương của Thành ủy tập trung vào các định hướng: nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa và doanh nghiệp; đổi mới mô hình quản lý; đẩy mạnh phát triển kinh tế biển và dịch vụ cảng biển quốc tế; gắn phát triển kinh tế đối ngoại với việc mở rộng không gian kinh tế thành phố và liên kết vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Về quá trình chỉ đạo thực hiện:
- Chỉ đạo hoạt động xuất, nhập khẩu: Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu sang các sản phẩm có hàm lượng chế biến sâu, giảm dần tỷ trọng xuất khẩu thô; mở rộng bạn hàng sang các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc; kiểm soát nhập khẩu máy móc, công nghệ phục vụ sản xuất.
- Chỉ đạo thu hút FDI và ODA: Tích cực vận động và tiếp nhận các dự án ODA quy mô lớn từ Ngân hàng Thế giới (WB), Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Phần Lan, Hàn Quốc để nâng cấp hệ thống hạ tầng đô thị, cấp thoát nước và giao thông; tập trung thu hút vốn FDI vào các khu công nghiệp, khu kinh tế; bước đầu triển khai chủ trương khuyến khích thử nghiệm đầu tư ra nước ngoài theo đường lối của Trung ương.
- Chỉ đạo hợp tác khoa học - công nghệ và dịch vụ quốc tế: Đẩy mạnh các dịch vụ hàng hải, logistics theo tiêu chuẩn hàng hải quốc tế (IMS); quy hoạch mở rộng hệ thống cảng biển; gắn kết tuyến du lịch liên tỉnh Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; ứng dụng công nghệ thông tin trong thủ tục hải quan và quản trị doanh nghiệp cảng.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Về nhận xét chung:
- Ưu điểm: Đảng bộ thành phố đã nhạy bén nắm bắt các chủ trương của Đảng, kịp thời cụ thể hóa bằng các nghị quyết chuyên đề sát hợp với thực tiễn thành phố cảng; tạo bước chuyển biến căn bản trong nhận thức của cán bộ, đảng viên về kinh tế đối ngoại; đưa kinh tế đối ngoại trở thành động lực quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao tiềm lực của thành phố và cải thiện đời sống nhân dân.
- Hạn chế: Sự phát triển của kinh tế đối ngoại chưa tương xứng với tiềm năng và vị thế đầu mối ra biển của miền Bắc; quy mô và tốc độ phát triển một số lĩnh vực có biểu hiện chậm lại so với các địa phương lân cận; chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) chưa được cải thiện vững chắc; thủ tục hành chính còn bất cập; chất lượng nguồn nhân lực làm công tác đối ngoại chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu hội nhập; việc gắn kết kinh tế đối ngoại với bảo vệ môi trường sinh thái còn những điểm hạn chế.
- Nguyên nhân: Nhận thức về kinh tế đối ngoại có lúc chưa theo kịp thực tiễn; công tác quy hoạch tổng thể và xây dựng cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ; việc chuẩn bị bộ máy tổ chức và nhân lực quản lý còn chậm.
Luận án đúc kết 6 kinh nghiệm lịch sử từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng:
- Hoạch định chủ trương phát triển kinh tế đối ngoại trên cơ sở nắm vững quan điểm của Đảng, thực tế của địa phương và xu thế phát triển kinh tế đối ngoại khu vực, thế giới.
- Lãnh đạo phát triển kinh tế đối ngoại gắn kết chặt chẽ và phục vụ sự phát triển chung của kinh tế thành phố.
- Chủ trương phát triển kinh tế đối ngoại phải gắn với yêu cầu đảm bảo an ninh quốc gia và bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái.
- Thường xuyên chỉ đạo nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh tế đối ngoại.
- Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.
- Kết hợp nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại với phát triển kinh tế đối ngoại trong chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt khoa học:
- Luận án đã làm rõ tiềm năng, lợi thế địa lý kinh tế của thành phố Hải Phòng trong mối tương quan với chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và cả nước.
- Hệ thống hóa một cách toàn diện quá trình hình thành, phát triển các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế đối ngoại của Đảng bộ thành phố Hải Phòng qua hai thời kỳ: 1991 - 2001 và 2001 - 2010.
- Tái hiện chân thực, khách quan thực tiễn công tác chỉ đạo thực hiện các hoạt động kinh tế đối ngoại của Đảng bộ thành phố trên các lĩnh vực: ngoại thương, thu hút FDI và ODA, hợp tác chuyển giao công nghệ và dịch vụ cảng biển quốc tế.
- Đưa ra những nhận xét khách quan về ưu điểm, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân; đúc kết 6 bài học kinh nghiệm lịch sử làm luận cứ khoa học cho quá trình hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại địa phương.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử có độ xác thực cao từ các kho lưu trữ địa phương, phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ thành phố Hải Phòng.
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các cơ quan lãnh đạo, quản lý của Hải Phòng trong việc đề xuất các giải pháp, cơ chế nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại thời kỳ hội nhập quốc tế.
- Đóng góp tài liệu tham khảo chuyên khảo phục vụ giảng dạy, nghiên cứu lịch sử Đảng và lịch sử địa phương tại các cơ sở đào tạo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của công trình: Do giới hạn phạm vi nghiên cứu đến năm 2010 (thời điểm tiến hành Đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XIV), luận án chưa thể bao quát các tác động dài hạn của các cam kết hội nhập kinh tế sâu rộng giai đoạn sau năm 2010 đối với kinh tế địa phương. Nguồn tài liệu định lượng chủ yếu phản ánh các số liệu báo cáo hành chính theo niên giám và báo cáo tổng kết của địa phương, chưa có điều kiện khảo cứu sâu các biến số kinh tế vĩ mô phức hợp.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng đối với kinh tế đối ngoại từ năm 2011 đến giai đoạn hiện nay trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA).
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế chính sách xây dựng khu kinh tế tự do, dịch vụ logistics hiện đại và mô hình liên kết vùng duyên hải Bắc Bộ dưới giác độ lãnh đạo của cấp ủy Đảng địa phương.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu học thuật hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam hiện đại, Kinh tế đối ngoại và Quan hệ quốc tế.
- Cán bộ lãnh đạo, chuyên viên làm công tác tham mưu chính sách tại các cơ quan của thành phố Hải Phòng như Ban Tuyên giáo Thành ủy, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công thương, Sở Ngoại vụ và Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng.
- Các phần có giá trị tham khảo nổi bật gồm: Phần tổng quan tình hình nghiên cứu tại Chương 1 cung cấp danh mục tư liệu phong phú; hệ thống các văn kiện, chỉ tiêu lịch sử của Đảng bộ thành phố giai đoạn 1991 - 2001 (Nghị quyết số 05-NQ/TU, Nghị quyết số 02-NQ/TU) tại Chương 2; cùng hệ thống 6 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn cao tại Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Khó khăn lớn nhất của hoạt động xuất nhập khẩu Hải Phòng khi bước vào đầu thập niên 90 thế kỷ XX là gì?
Khó khăn lớn nhất là sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu làm thị trường truyền thống bị đảo lộn; 70% giá trị sản lượng hàng hóa của Hải Phòng trước đây tiêu thụ tại thị trường các nước SEV bị mất hoàn toàn, trong khi thành phố chưa kịp tìm kiếm thị trường thay thế.
2. Quyết định nào của cơ quan Trung ương đã tạo cơ sở pháp lý cho Hải Phòng thực hiện thí điểm cơ chế "thành phố mở"?
Đó là Thông báo số 67/TB ngày 03/03/1992 của Thường trực Hội đồng Bộ trưởng, xác định đồng ý về nguyên tắc cho thành phố Hải Phòng xây dựng dần là thành phố mở về kinh tế.
3. Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Thành ủy Hải Phòng về kinh tế đối ngoại là văn kiện nào và đề ra định hướng gì?
Đó là Nghị quyết số 05-NQ/TU ban hành ngày 28/04/1992 của Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng. Nghị quyết lần đầu tiên xác định kinh tế đối ngoại là ngành kinh tế mũi nhọn, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng bộ và nhân dân thành phố.
4. Đại hội XI Đảng bộ thành phố Hải Phòng đặt ra mục tiêu gì cho kinh tế đối ngoại đến năm 2000?
Đại hội XI (tháng 5/1996) và kế hoạch 5 năm 1996 - 2000 đề ra mục tiêu: tổng kim ngạch xuất khẩu đạt trên 500 triệu USD, mức xuất khẩu bình quân đầu người đạt trên 270 USD (chỉ tiêu kế hoạch là 278 USD/người), tổng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt khoảng 2 tỷ USD và nguồn vốn ODA khoảng 200 triệu USD.
5. Luận án đã đúc kết được bao nhiêu kinh nghiệm lịch sử từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Hải Phòng?
Luận án đã đúc kết được 6 bài học kinh nghiệm lịch sử tại Chương 4, bao quát từ công tác hoạch định chủ trương, kết hợp mục tiêu kinh tế với quốc phòng - an ninh và môi trường, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, đến công tác cán bộ và sự phối hợp giữa hoạt động đối ngoại với kinh tế đối ngoại.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Đảng bộ thành phố Hải Phòng lãnh đạo kinh tế đối ngoại từ năm 1991 đến năm 2010" của tác giả Nguyễn Phương Hải đã tái hiện một cách hệ thống và khách quan tiến trình lịch sử 20 năm lãnh đạo kinh tế đối ngoại của Đảng bộ thành phố Hải Phòng thời kỳ đổi mới. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử và lôgíc kết hợp khai thác các nguồn văn kiện lưu trữ địa phương, luận án làm rõ quá trình chuyển biến tư duy từ Đại hội X đến Đại hội XIV, khẳng định kinh tế đối ngoại là mũi nhọn kinh tế của thành phố cảng. Công trình chỉ rõ những thành tựu, hạn chế, đồng thời đúc kết 6 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong bối cảnh hội nhập quốc tế.