Lãnh đạo huyện Phú Lương về xóa đói giảm nghèo từ năm 1997 đến 2010

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng bộ huyện phú lương thái nguyên lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm 1997 đến năm, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

103
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

0.6. Những đóng góp về khoa học của luận văn

0.7. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM CHUNG VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO VÀ NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN PHÚ LƯƠNG (THÁI NGUYÊN)

1.1. Quan niệm về chung về xóa đói, giảm nghèo

1.2. Quan niệm về đói nghèo

1.3. Quan niệm về xóa đói, giảm nghèo

1.4. Những thuận lợi, khó khăn trong thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở huyện Phú Lương (Thái Nguyên)

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN PHÚ LƯƠNG (THÁI NGUYÊN) THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

2.1. Chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Phú Lương (Thái Nguyên) thực hiện xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 1997-2005

2.2. Chủ trương của tỉnh Thái Nguyên và Đảng bộ huyện Phú Lương về xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 1997 – 2005

2.3. Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Phú Lương thực hiện xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 1997 – 2005

2.4. Kết quả thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 1997 đến năm 2005

2.5. Chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Phú Lương (Thái Nguyên) thực hiện xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010

2.6. Chủ trương của tỉnh Thái Nguyên và Đảng bộ huyện Phú Lương về xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010

2.7. Quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Phú Lương thực hiện xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 2006 – 2010

2.8. Kết quả thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2006 đến năm 2010

2.9. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

3.1. Một số kinh nghiệm

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo huyện Phú Lương trong xóa đói giảm nghèo 1997 2010

Huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, đã thực hiện nhiều chính sách nhằm xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn từ năm 1997 đến 2010. Trong bối cảnh kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, huyện đã nỗ lực triển khai các chương trình phát triển kinh tế, xã hội nhằm nâng cao đời sống cho người dân. Các chính sách này không chỉ tập trung vào việc hỗ trợ tài chính mà còn chú trọng đến việc nâng cao nhận thức và kỹ năng cho người dân.

1.1. Tình hình kinh tế xã hội huyện Phú Lương trước năm 1997

Trước năm 1997, huyện Phú Lương gặp nhiều khó khăn về kinh tế. Tỷ lệ người nghèo cao, cơ sở hạ tầng yếu kém, và nhiều hộ gia đình không có đủ điều kiện sống tối thiểu. Điều này đã tạo ra áp lực lớn cho chính quyền địa phương trong việc thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo.

1.2. Những chính sách xóa đói giảm nghèo được triển khai

Trong giai đoạn này, huyện Phú Lương đã triển khai nhiều chính sách như hỗ trợ vốn vay, đào tạo nghề, và phát triển nông nghiệp. Những chính sách này đã góp phần quan trọng trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo và nâng cao đời sống cho người dân.

II. Những thách thức trong công tác xóa đói giảm nghèo ở huyện Phú Lương

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng huyện Phú Lương vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong công tác xóa đói giảm nghèo. Những thách thức này bao gồm sự phân bổ nguồn lực không đồng đều, nhận thức của người dân về chương trình còn hạn chế, và sự thiếu hụt về cơ sở hạ tầng.

2.1. Sự phân bổ nguồn lực không đồng đều

Việc phân bổ nguồn lực cho các chương trình xóa đói giảm nghèo chưa được đồng đều giữa các xã trong huyện. Một số xã vẫn còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ.

2.2. Nhận thức của người dân về chương trình

Nhiều người dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của các chương trình xóa đói giảm nghèo. Điều này dẫn đến việc tham gia vào các chương trình hỗ trợ còn hạn chế.

III. Phương pháp và giải pháp chính trong xóa đói giảm nghèo

Để đạt được mục tiêu xóa đói giảm nghèo, huyện Phú Lương đã áp dụng nhiều phương pháp và giải pháp khác nhau. Những giải pháp này không chỉ tập trung vào việc hỗ trợ tài chính mà còn chú trọng đến việc phát triển bền vững.

3.1. Hỗ trợ tài chính và vay vốn

Chính quyền huyện đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ tài chính cho các hộ nghèo, giúp họ có điều kiện phát triển sản xuất và cải thiện đời sống.

3.2. Đào tạo nghề và phát triển kỹ năng

Đào tạo nghề cho người dân là một trong những giải pháp quan trọng. Huyện đã tổ chức nhiều khóa đào tạo nghề nhằm nâng cao kỹ năng lao động cho người dân, từ đó tạo ra việc làm và tăng thu nhập.

IV. Kết quả đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo

Trong giai đoạn từ 1997 đến 2010, huyện Phú Lương đã đạt được nhiều kết quả đáng kể trong công tác xóa đói giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đáng kể, và đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt.

4.1. Tỷ lệ hộ nghèo giảm

Theo số liệu thống kê, tỷ lệ hộ nghèo của huyện đã giảm từ 31,51% vào năm 2006 xuống còn 20% vào năm 2010. Điều này cho thấy sự nỗ lực của huyện trong việc thực hiện các chương trình hỗ trợ.

4.2. Cải thiện đời sống người dân

Nhiều hộ gia đình đã có điều kiện sống tốt hơn, với thu nhập bình quân đầu người tăng lên. Sự cải thiện này không chỉ đến từ các chương trình hỗ trợ mà còn từ sự nỗ lực của chính người dân trong việc phát triển kinh tế gia đình.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho công tác xóa đói giảm nghèo

Kết thúc giai đoạn 1997-2010, huyện Phú Lương đã có những bước tiến quan trọng trong công tác xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, để duy trì và phát triển bền vững, huyện cần tiếp tục cải thiện các chính sách và chương trình hỗ trợ.

5.1. Đề xuất các chính sách mới

Huyện cần xây dựng các chính sách mới phù hợp với tình hình thực tế, nhằm tiếp tục hỗ trợ người nghèo và tạo điều kiện cho họ phát triển.

5.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong các chương trình xóa đói giảm nghèo sẽ giúp nâng cao hiệu quả và tính bền vững của các chương trình này.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện phú lương thái nguyên lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm 1997 đến năm 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 QUAN NIỆM CHUNG VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO VÀ NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG THỰC HIỆN XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN PHÚ LƯƠNG (THÁI NGUYÊN) 1. Quan niệm về chung về xóa đói, giảm nghèo 1. Quan niệm về đói nghèo Đói nghèo là vấn đề xã hội mang tính toàn cầu. Cho đến nay, đói nghèo vẫn là nỗi ám ảnh đối với các quốc gia trên thế giới.

Loài người chúng ta đã chứng kiến những thảm họa của các cuộc chiến tranh tàn sát, thiên tai, dịch bệnh và những hậu quả do nạn đói gây ra vô cùng khủng khiếp. Vấn nạn đói nghèo không những cướp đi nhiều sinh mạng, làm cho hàng triệu người không được hưởng thụ những thành quả của nền văn minh tiến bộ mà còn gây ra hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội đối với sự phát triển, tàn phá môi trường sinh thái. Vấn đề đói nghèo nếu không được giải quyết thì không một mục tiêu nào của thế giới cũng như quốc gia đặt ra như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, ổn định hòa bình, công bằng, bình đẳng, bảo đảm các quyền con người được thực hiện. Rõ ràng vấn đề xóa đói, giảm nghèo trở thành vấn đề toàn cầu phải được quan tâm, chú ý và giải quyết.

Khái niệm đói nghèo có thể tách ra, phân tích và nhận dạng giữa đói và nghèo: Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Sự nghèo khổ, sự bần cùng được biểu hiện là đói là tình trạng con người không có cái ăn, ăn không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động để tái sản xuất sức lao động. Về mặt năng lượng nếu trong một ngày, con người chỉ được thỏa mãn mức 1500calo/ngày thì đó là thiếu đói, dưới mức đó là đói gay gắt. Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến ba tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả.

Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dột nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13kg gạo/người/tháng (tương đương 45. Đói nghèo ở nước ta, ngoài những đặc điểm xét về phương diện kinh tế còn có những đặc điểm về phương diện xã hội. Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức thu nhập thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện: ăn, mặc, ở, vệ sinh, giáo dục, y tế và nhiều nhu cầu khác. Theo cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo.

Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia. Nghèo chia thành nhiều mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như: ăn, mặc, ở, đi lại…Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo, có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét. Nghèo có nhu cầu tối thiểu là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu.

Trên đây là những khái niệm chung nhất, phương pháp đánh giá, nhận diện nét chủ yếu, phổ biến về nghèo đói, trọng tâm của vấn đề là nhu cầu của con người. Tuy vậy, trong khái niệm chưa thể hiện rõ chuẩn mực đánh giá về mặt định lượng, chưa tính đến sự khác biệt, chênh lệch giữa các vùng lãnh thổ, quốc gia, các điều kiện cụ thể; sự phát triển của sản xuất, tăng cường kinh tế làm tăng thêm nhu cầu của đời sống con người, tạo ra những biến đổi của xã hội. Do đó khái niệm về “nghèo” và “đói nghèo” cũng biến động theo nó. Thực tế cho thấy các chỉ số xác định đói nghèo thường được gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội, hiện tượng đói nghèo có tính lịch sử và đang có sự biến động trong sự vận động chung của đất nước.

Ở nước ta, việc xác định chuẩn nghèo luôn thay đổi theo từng thời kỳ. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao trách nhiệm nghiên 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cứu và xem xét chuẩn mực nghèo đói của cả nước qua từng thời kỳ. Chuẩn mực nghèo đói là một khái niệm động, phụ thuộc vào phương pháp tiếp cận, điều kiện kinh tế và thời gian, từ đó xác lập được chuẩn mực đói nghèo. Năm 1996 chuẩn mực đói nghèo được đánh giá như sau: Bảng 1: Chuẩn mực đói nghèo năm 1996 Thu nhập bình quân đầu người/tháng Loại hộ Địa bàn Hiện vật Giá trị đồng kg gạo/người Nông thôn miền núi, Dưới 15kg < 60.000 hải đảo Nghèo Nông thôn đồng Dưới 20kg < 80.000 bằng, trung du Thành Thị Dưới 25kg < 100.000 Đói Cả nước Dưới 13kg < 52.000 (Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và xã hội năm 1996) Chuẩn mực đói nghèo năm 1997 được đánh giá tại quy định số 1751/LĐTBXH ngày 20/5/1997 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội như sau: Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13kg, tương đương với 45.000 đồng /người/tháng (tính cho mọi vùng) Hộ nghèo: Là những hộ có mức thu nhập bình quân quy ra gạo: vùng nông thôn miền núi, hải đảo dưới 15kg/người/tháng (tương đương với 70.000 đồng); vùng nông thôn đồng bằng, trung du dưới 20kg/người/tháng; vùng thành thị dưới 25kg/người/tháng (tương đương với 90.

Chuẩn mực này áp dụng đến hết năm 2000. Từ ngày 1/1/2001 nước ta áp dụng chuẩn nghèo mới theo quyết định số 1143/2000 của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội: Vùng nông thôn miền núi và hải đảo: Hộ nghèo là những hộ có thu nhập bình quân dưới 80.000 đồng/người/tháng, tương đương với 960.000 đồng/người/năm. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vùng nông thôn đồng bằng: Hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập dưới 100.000 đồng/người/, tương đương với 1.000 đồng/người/năm. Vùng thành thị: Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân dưới 150.000 đồng/người/tháng, tương tương với 1.000 đồng/người/năm.

Chuẩn mực nghèo đói năm 2003 được đánh giá như sau: Hộ đói: Ở nông thôn là những hộ có thu nhập bình quân dưới 8kg gạo/người/tháng; Ở thành thị là những hộ có thu nhập bình quân dưới 13kg gạo/người/tháng. Hộ nghèo: Ở nông thôn là những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 13kg gạo/người/tháng; Ở thành thị là những hộ có thu nhập bình quân dưới 18kg gạo/người/tháng. Theo quyết định số 170/2005/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ, thì chuẩn nghèo mới được áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010 được áp dụng như sau: Khu vực thành thị: 260.000 đồng/người/tháng. Khu vực nông thôn (cho cả miền núi và đồng bằng): 200.000 đồng/người/tháng.

Chuẩn nghèo đói Việt Nam do Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đưa ra ở các giai đoạn khác nhau, đây là những chuẩn nghèo quốc gia. Chuẩn nghèo được xác định dựa trên nhiều yếu tố nhưng trong đó thu nhập theo đầu người/tháng (được tính bằng VNĐ hoặc tương đương kg gạo) là chỉ tiêu hàng đầu. Bảng 2: Chuẩn nghèo của Việt Nam qua các giai đoạn Thu nhập theo đầu người/tháng Giai đoạn Nông thôn miền Nông thôn đồng Thành phố núi, hải đảo bằng, trung du <55.000 ~ 1996 – 2000 < 15kg gạo < 20kg gạo < 25kg gạo 2001 – 2005 < 80.000 (Nguồn: Tạp chí khoa học, số 2, 2007) 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, chuẩn nghèo đói luôn thay đổi biến động, phụ thuộc vào phương pháp, cách tiếp cận, điều kiện kinh tế - xã hội và thời gian. Đói nghèo là hậu quả của nhiều nguyên nhân, nhưng những nguyên nhân chính gây ra đói nghèo có thể phân chia theo 3 nhóm: Nhóm nguyên nhân do điều kiện kinh tế - xã hội: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, kinh tế chậm phát triển, hậu quả chiến tranh để lại.

Nguyên nhân chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội hay lười lao động. Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn; chính sách khuyến khích sản xuất; vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông – lâm – ngư nghiệp, chính sách trong giáo dục, đào tạo, y tế… Đói nghèo là hiện tượng kinh tế xã hội, nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của cả cộng đồng xã hội, phổ biến ở mọi quốc gia nhưng không hề giải quyết triệt để vấn đề này trong một thời gian ngắn và trên quy mô toàn xã hội. Vì vậy, vấn đề xóa đói, giảm nghèo chỉ có thể giải quyết dần từng bước và là cả một quá trình lâu dài. Quan niệm về xóa đói, giảm nghèo Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử như một lãnh tụ tối cao của Đảng và của dân tộc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, người bạn của các dân tộc bị áp bức và nhân loại của thế kỷ XX.

Lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại sẽ mãi mãi ghi nhớ tên tuổi chói lọi Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Những di sản của Người sẽ sống mãi với thời gian, với cuộc đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, cho quyền được sống và được hưởng tự do, hạnh phúc của các dân tộc, của mỗi con người. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Do đó, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ