mở đầu công cuộc xây dựng và phát triển nền giáo dục dân tộc, dân chủ nhân dân “vị nhân sinh”. Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí: “Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà thực dân Pháp dùng để cai trị chúng ta. Hơn 90% đồng bào ta mù chữ…Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” {70, tr. Chính vì vậy “muốn giữ vững độc lập, muốn làm dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ” {70, tr.
Cùng với BDHV, GDPT cũng được chú ý. Các trường tiểu học trong toàn tỉnh được ổn định. 400 hương trường được giải tán. Ngành giáo dục phát lệnh chiêu sinh trở lại để chuẩn bị cho năm học mới.
01/10/1945, các trường cả trường quốc lập, dân lập, tư thục trong tỉnh cùng các trường trên toàn toàn quốc khai giảng năm 1945-1946. Bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, với tinh thần “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, Thanh Hoá thực hiện tiêu thổ kháng chiến, làm “vườn không nhà trống”, nhân dân bắt đầu tản cư về các vùng nông thôn. Chính trong quá trình chiến đấu gian khổ và ác liệt đó, công tác giáo dục đã không ngừng phát triển, phục vụ kịp thời và đắc lực cho nhu cầu ngày càng cao của kháng chiến. Với truyền thống hiếu học vốn có, tinh thần LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học tập của nhân dân được nâng cao từ sau cách mạng thành công, lại được Hồ Chủ tịch, Đảng và Chính phủ ra sức động viên, kêu gọi, giáo dục Thanh Hoá đã nhanh chóng ổn định và phát triển.
Việc tổ chức bậc học cơ bản với thời hạn 4 năm cho trẻ từ 7 tuổi trở lên, mở thêm trường lớp ở các thôn xã, tuyển dụng giáo viên… được đẩy mạnh. Từ năm 1950, cuộc cải cách giáo dục đã đổi hệ thống trung học cũ thành trường phổ thông cấp III. Theo đề án cải cách giáo dục, nền giáo dục của nước VNDCCH là nền giáo dục của nhân dân, do dân, vì dân được xây dựng theo nguyên tắc: Dân tộc, khoa học, đại chúng. Mục tiêu đào tạo: Giáo dục thế hệ trẻ thành công dân trung thành với Tổ quốc, có năng lực và phẩm chất phục vụ đất nước.
Phương châm giáo dục: Học đi đôi với thực hành, lý luận gắn với thực tiễn. Một điều đặc biệt là thời kỳ này, giáo dục gắn chặt với công cuộc kháng chiến, cùng bước phát triển với kháng chiến. Ngành giáo dục Thanh Hoá đã tổ chức đợt ủng hộ vật chất, xung phong vào giúp giáo dục Bình-Trị-Thiên và vùng cao (gọi là Xung Thiên, Xung Thượng), tham gia quyên góp, may áo rét cho bộ đội. Đặc biệt, một bộ phận giáo viên, học sinh đã trực tiếp gia nhập quân đội, trực tiếp đánh giặc cứu nước.
Năm 1949, trong số 595 học sinh trường Đào Duy Từ đã có 514 học sinh tình nguyện tòng quân 64 học sinh đã có lệnh nhập ngũ {86, tr.143} Năm 1954, khi toàn tỉnh dốc sức, dốc người cho chiến trường, ngành giáo dục Thanh Hoá đã tổ chức một đoàn xe thồ chở gạo lên Điện Biên để phục vụ chiến dịch. Trong số học sinh, chiến sĩ có người trở thành anh hùng. Từ cuối năm 1947 đầu 1953, do tính chất của cuộc chiến tranh, do đặc điểm của một thị trấn vùng hậu phương nên dân cư lúc co cụm nơi này, khi dời đến nơi khác. Vì vậy, việc học tập không tránh khỏi những biến động.
Tuy nhiên, có thể khẳng định trong kháng chiến chống Pháp, Thanh Hoá không những chú trọng đẩy mạnh phát triển giáo dục của địa phương mà còn là mảnh đất “cưu mang” giáo dục khu III. Khu giáo dục và gần hết các trường khu III (Hà Đông, Thái Bình, Hà Nam, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nam Định, Ninh Bình) đều chuyển vào Thanh Hoá, đóng rải rác trên các huyện của tỉnh. Khu giáo dục và Trường Nguyễn Huệ (Hà Đông cũ) đóng ở Thiệu Yên; Trường Nguyễn Thượng Hiền - chuyên khoa chung cho toàn Liên khu, Trường Lê Quý Đôn (Ninh Bình) đặt tại Triệu Sơn; Trường Nguyễn Khuyến (Nam Định cũ) đóng ở Đông Sơn; Nguyễn Biểu (Hà Nam cũ) ở Thiệu Yên…Trường Sư Phạm Trung cấp liên khu III chuyển vào chiêu sinh tại Thanh Hoá từ năm học 1951- 1952. Do các trường Liên khu III dời vào Thanh Hoá nên các sinh hoạt chuyên môn, trại hè bồi dưỡng giáo viên, trao đổi giáo viên chấm thi giữa các trường Trung học Liên khu III và Trường Trung học quốc gia Lam Sơn trở nên thường xuyên và mang lại nhiều kết quả tốt.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục đào tạo cán bộ phục vụ công cuộc kháng chiến ngày càng cao cũng như phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước trong tương lai, Bộ Quốc gia giáo dục đặt một lớp Đại học văn khoa ở Thanh Hoá (năm 1949) có 11 sinh viên do giáo sư Đặng Thai Mai giảng dạy. Năm 1950, trường Trung cấp ngoại giao (khoảng 20 người) do Bộ Ngoại giao mở lớp và tuyển sinh ở Thanh Hoá. Trường Sư phạm sơ cấp liên khu IV (đào tạo giáo viên cấp I) từ năm học 1950-1951 cũng được thành lập. Từ năm 1952, những lớp dự bị Đại học cũng được đặt ở Thanh Hoá.
Năm 1953, nhằm mục đích đào tạo giáo viên cấp III, Trường Sư phạm cao cấp đã được mở tại đây. Trường Trung cấp Liên khu III đặt ở Thanh Hoá cũng đã chiêu sinh. Học sinh chủ yếu là con em đồng bào và cán bộ theo gia đình tản cư… Tại Thanh Hoá, “các thầy giáo có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc… nhằm mục đích là thật thà phụng sự nhân dân” {32, tr. Nhìn chung, từ sau năm 1945, Thanh Hoá là một trong những địa phương đã hình thành một nền giáo dục cách mạng mới, xóa bỏ hoàn toàn nền giáo dục của nô dịch thực dân phong kiến; một nền giáo dục được xây dựng phù hợp với hoàn cảnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mới thoát khỏi kiếp nô lệ “nền giáo dục của một nước độc lập… đào tạo nên những người công dân có ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các cháu” {70, tr.
Đường lối của Đảng và chủ trương phát triển GDPT của Đảng bộ Thanh Hoá Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi. Cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn phải thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạng là tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thống nhất đất nước. “Chúng ta đã đánh thắng chế độ thực dân và phong kiến. Nhiệm vụ chủ yếu của chúng ta ngày nay là đánh thắng lạc hậu và nghèo nàn, xây dựng CNXH, làm cho nhân dân ta có một đời sống thật sung sướng, tốt đẹp” {65, tr.
Từ sau năm 1954, thời kỳ cách mạng mới đã làm cho nền giáo dục dân chủ nhân dân chuyển hướng mạnh mẽ nhằm góp phần đáp ứng các yêu cầu cách mạng chung của cả nước. Lúc này, miền Bắc có hai hệ thống giáo dục phổ thông. Đó là hệ thống Trung học và Tiểu học 12 năm thuộc vùng chiếm đóng của thực dân Pháp để lại. Hệ thống giáo dục 9 năm xây dựng trong thời kỳ kháng chiến ở vùng tự do có tính chất dân chủ và tiến bộ.
Tình hình đó đòi hỏi ngành giáo dục phải gấp rút tiến hành việc thống nhất hai hệ thống giáo dục. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VII khoá II (3/1955) đã nêu nhiệm vụ phải mau chóng “chấn chỉnh và củng cố giáo dục phổ thông, thống nhất hai hệ thống giáo dục của vùng tự do cũ và vùng mới giải phóng; Chú ý dựa vào dân mà phát huy công tác giáo dục, nhân dân giúp đỡ để phát triển các trường dân lập và tư thục” {40, tr. Tháng 3/1956, Đề án của Bộ Giáo dục về việc sáp nhập hai hệ thống giáo dục hiện có thành hệ thống giáo dục phổ thông duy nhất 10 năm đã được Chính phủ thông qua. Đề án đã chỉ rõ bản chất và mục tiêu của cuộc cải cách giáo dục lần này là: đào tạo, bồi dưỡng thế hệ thanh niên và thiếu nhi trở thành những người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển về mọi mặt, những công dân tốt, trung thành với Tổ quốc, những người lao động tốt, cán bộ tốt của nhà nước, có tài có đức để phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần lên CNXH ở miền Bắc, đồng thời để thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ.
Phương châm giáo dục là liên hệ lý luận với thực tiễn, gắn nhà trường với đời sống xã hội. Nội dung giáo dục với tính chất toàn diện gồm bốn mặt đức, trí, thể, mỹ trong đó coi trí dục là cơ sở, đồng thời tăng cường giáo dục tư tưởng và giáo dục đạo đức trên cơ sở coi trọng việc giảng dạy tri thức có hệ thống. Hệ thống giáo dục phổ thông từ 9 năm nâng lên 10 năm. Cấp I: 4 năm, từ lớp 1 đến lớp 4.
Cấp II: 3 năm, từ lớp 5 đến lớp 7. cấp III: 3 năm từ lớp 8 đến lớp 10. Đây là cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai với nội dung tiến bộ hơn, toàn diện hơn là một bước đi cơ bản ban đầu quan trọng trong quá trình xây dựng nền giáo dục XHCN. Tháng 6/1957, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã triệu tập hội nghị cán bộ Đảng trong ngành Giáo dục để kiểm điểm một năm thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới cải cách.
Hội nghị đã chỉ rõ những tiến bộ đáng kể, những nhược điểm, thiếu sót trong việc thực hiện nội dung chương trình, phương châm giáo dục và việc phát triển giáo dục cho các năm học tiếp theo. Đặc biệt, trong việc giáo dục chính trị tư tưởng, công tác tổ chức, quản lý của nhà trường, công tác Đoàn thanh niên lao động và công tác xây dựng, phát triển Đảng trong nhà trường được coi trọng, nhất là ở các trường phổ thông cấp III. Việc thực hiện cải cách xây dựng hệ thống giáo dục thống nhất lần này cũng là một quá trình tiếp tục đấu tranh, bồi dưỡng tư tưởng và nhận thức, khắc phục cơ bản quan điểm, ảnh hưởng của giáo dục cũ, xác lập đường lối, quan điểm giáo dục XHCN. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.