Chương 1. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với giáo dục mầm non từ năm 1986 đến năm 1990 Chương 2. Sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển giáo dục mầm non từ năm 1991 đến năm 1996 Chương 3. Nhận xét và kinh nghiệm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG Đ I VỚI GIÁO DỤC MẦM NON TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1990 1.
Những căn cứ xác định chủ trƣơng và chủ trƣơng của Đảng 1. Những căn cứ xác định chủ trƣơng * Tình hình Việt Nam Với Đại thắng mùa Xuân 1975, một kỷ nguyên phát triển mới của cách mạng Việt Nam đã được mở ra: kỷ nguyên cả nước độc lập, thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trong mười năm (1975 – 1985), Việt Nam bắt tay vào xây dựng đất nước trong điều kiện đan xen thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn. Đất nước có một số thuận lợi cơ bản: cả nước hòa bình, độc lập; công cuộc xây dựng CNXH đạt được những thành tựu quan trọng; nhân dân Việt Nam có truyền thống cần cù, thông minh, sáng tạo, có ý chí tự lập tự cường, tinh thần yêu nước; đã xây dựng và bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ có bản lĩnh cách mạng, ý thức trách nhiệm, trình độ và năng lực nhất định.
Đây chính là sức mạnh tiềm tàng, là nguồn nội lực vô tận cho dân tộc bước tiếp chặng đường xây dựng đất nước. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức to lớn. Đó là một nền kinh tế thấp kém lại bị tàn phá bởi mấy chục năm chiến tranh, cơ cấu kinh tế ở cả hai miền chưa đồng nhất; những hậu quả do chế độ thực dân mới của M để lại cũng rất nặng nề: các tệ nạn xã hội còn ph biến, số người mù chữ chiếm tỷ lệ lớn trong dân cư; đất nước vừa phải đối phó với chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc vừa phải ra sức chống phá âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch. Trong tình hình đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (1976) đã xác định phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 1976 – 1980 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là vừa phải giải quyết hậu quả nặng nề của chiến tranh vừa phải t chức lại nền kinh tế, xây dựng một bước nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đặt nền móng cho sự nghiệp công nghiệp hóa nước nhà.
Kế hoạch 5 năm đầu tiên sau khi thống nhất đất nước nhằm hai mục tiêu cơ bản và cấp bách: xây dựng bước đầu cơ sở vật chất k thuật của CNXH, hình thành bước đầu cơ cấu kinh tế mới trong cả nước và cải thiện một bước đời sống nhân dân. Nhằm thực hiện nhiệm vụ trên, kế hoạch 5 năm 1976 – 1980, Việt Nam đã tiến hành củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, thống nhất nền kinh tế theo mô hình chung của thời k quá độ lên CNXH trong phạm vi cả nước. Đại hội V (1982) tiếp tục khẳng định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa trong thời kì quá độ do Đại hội IV đề ra. Tuy nhiên, Đại hội V bắt đầu có sự điều chỉnh, b sung phát triển, cụ thể cho từng chặng đường, từng giai đoạn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Đại hội xác định thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam phải trải qua nhiều chặng đường trong đó chặng đường trước mắt gồm 5 năm (1981 – 1985) và những năm còn lại của thập niên 80 nhằm “ n định tình hình kinh tế và xã hội, đáp ứng yêu cầu cấp bách và thiết yếu nhất của đời sống nhân dân, giảm nh sự mất cân đối trọng của nền kinh tế, khắc phục một bước đáng kể tình trạng không bình thường về phân phối, lưu thông, tăng thêm tiền đề và điều kiện để tiến lên mạnh mẽ và vững chắc hơn trong những năm sau” 46, tr. Thực hiện đường lối trên, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu quan trọng như thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, thiết lập hệ thống chính trị mới cả nước. Nhân dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, bảo vệ vững chắc T quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế với nhân dân Campuchia. Trong lĩnh vực kinh tế cũng đạt được một số kết quả như: nông nghiệp đã góp phần giải 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyết nhu cầu về lương thực trong nước và cải thiện một bước đời sống của nhân dân.
Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế phát triển và có những đóng góp nhất định vào việc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới; nhiều trường lớp được mở ra. Thế nhưng, do tư tưởng chủ quan, nóng vội, muốn tiến nhanh lên CNXH đã dẫn đến việc Việt Nam trong tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội: sản xuất đình đốn, lạm phát tăng vọt, bị bao vây cấm vận kinh tế, đời sống nhân dân khó khăn, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, hiện tương tiêu cực trong xã hội ngày càng nhiều, công bằng xã hội bị vi phạm, pháp luật kỉ cương không nghiêm, quần chúng giảm lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước. Thực tiễn 10 năm xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước càng khẳng định mô hình kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu, bao cấp đã trở thành sức cản lớn đối với sự phát triển của sản xuất, dẫn đến khủng hoảng kinh tế – xã hội. Do đó, Việt Nam cần phải vượt lên, đ i mới căn bản và đồng bộ để đưa đất nước thoát ta khỏi tình trạng đó.
* hực trạng giáo dục mầm non trước năm 1986 Nền giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm 4 bậc giáo dục đó là bậc giáo dục mầm non, bậc giáo dục ph thông, bậc giáo dục chuyên nghiệp và bậc giáo dục đại học. Giáo dục mầm non là bậc giáo dục dành cho trẻ em trước tu i đến trường ph thông (0-6 tu i), là khâu đầu tiên của quá trình giáo dục, là giai đoạn đầu tiên của việc hình thành và phát triển nhân cách con người. Trẻ em trong độ tu i mầm non (0-6 tu i) có sự tăng trưởng rất lớn về cơ thể, trí tuệ và tình cảm; do đó, GDMN có vai trò hết sức quan trọng, đặt nền tảng cho những bậc học tiếp theo. Nhận thức được vai trò của GDMN, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12/1976) đã xác định: Công tác nuôi dạy trẻ ở lứa tu i mầm non là một vấn đề xã hội to lớn, liên quan đến sự nghiệp phát triển kinh tế và 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com văn hóa của đất nước.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội IV của Đảng, ngày 11/1/1979, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 14/NQ-TW về cải cách giáo dục. Nghị quyết đề ra cho ngành giáo dục trong những năm tới phấn đấu đạt được mục tiêu: Làm tốt việc chăm sóc và giáo dục trẻ ngay từ tu i thơ ấu cho đến lúc trưởng thành, nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể. Đặc biệt đối với Giáo dục mầm non, Nghị quyết đã ghi rõ: “Việc chăm sóc giáo dục các em từ tu i sơ sinh cho đến 6 tu i có tác dụng cực kì quan trọng trong sự hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa. Cần có kế hoạch dài hạn và biện pháp tích cực động viên và t chức toàn xã hội gánh vác sự nghiệp chăm sóc và giáo dục thế hệ mầm non của dân tộc, phát triển mạng lưới nhà trẻ và lớp mẫu giáo từ thành thị đến nông thôn, xây dựng mạng lưới đó thành một bộ phận khăng khít của hệ thống giáo dục quốc dân ” 64, tr.
Sau Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục, ngày 14/11/1979, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trường Chinh đã kí Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Pháp lệnh là cơ sở pháp lý đầu tiên của Việt Nam về việc đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em. Việc quản lí GDMN trong giai đoạn này do hai cơ quan Ủy ban Bảo vệ bà m và trẻ trẻ và Bộ giáo dục phụ trách, đến năm 1987 mới thống nhất về Bộ Giáo dục quản lí. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (3/1982) trên cở sở phân tích toàn diện những thành tựu cũng như hạn chế trong công tác giáo dục trong suốt thời gian thực hiện Nghị quyết Đại hội IV, đã xác định nhiệm vụ chiến lược và chủ trương lớn trong chặng đường 5 năm tiếp theo (1981-1985).
Đại hội xác định cần cải cách giáo dục và phát triển sự nghiệp giáo dục một cách tích cực, vững chắc theo bước đi phù hợp với yêu cầu thực tiễn đất nước, ra sức phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thực hiện đường lối của Đảng, trong 10 năm (1975 – 1985), GDMN đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng. Số lƣ ng trẻ mầm non đi học (1976 – 1980) Đơn vị: người Năm học Số lƣ ng Tỷ lệ 1976 – 1977 878.8] Như vậy so với năm học 1976 – 1977, số trẻ đi học trường, lớp mẫu giáo năm học 1979 – 1980 đã tăng 701. Tính đến cuối năm 1984, số lượng trẻ đến lớp không thay đ i (có 1.
Ở miền Bắc, các tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh nơi phát triển số lượng trường lớp mẫu giáo cao, đã có tới 800 ngàn trẻ đến lớp, chiếm trên 50 t ng số trẻ đã đi học mẫu giáo của cả nước. Các tỉnh có GDMN phát triển là Hải Hưng (69 trẻ trong độ tu i đến lớp), Thái Bình (65 ), các tỉnh khác đều đạt tỷ lệ từ 45 trở lên trong đó có các xã đạt tới 90 , 95 số trẻ trong độ tu i tới lớp mẫu giáo 8,tr. Thế nhưng, nếu nhìn vào tốc độ xây dựng bậc học này ở địa bàn miền Nam sẽ thấy một bước tiến khá xa. Trước ngày giải phóng, bậc học mẫu giáo chưa thực sự hình thành, lớp mẫu giáo chủ yếu tập trung ở khu vực Sài Gòn cũ.