Luận văn thạc sĩ ussh đảng cộng sản việt nam lãnh đạo phát triển giáo dục mầm non từ năm 1986 đến năm 1996 0

Luận văn thạc sĩ giáo dục phân tích ussh đảng cộng sản việt nam lãnh đạo phát triển giáo dục mầm non từ năm 1986 đến năm 1996 0, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

106
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG Đ I VỚI GIÁO DỤC MẦM NON TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1990

1.1. Những căn cứ xác định chủ trƣơng và chủ trƣơng của Đảng

1.2. Chỉ đ o thực hiện

1.3. Xây dựng bộ máy và đội ngũ làm giáo dục mầm non

1.4. T tổ chức dạy và học

1.5. Xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị

2. CHƯƠNG 2: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG Đ I VỚI GIÁO DỤC MẦM NON TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 1996

2.1. Hoàn cảnh lịch sử và chủ trƣơng của Đảng

2.2. Hoàn cảnh lịch sử

2.3. Chủ trương của Đảng

2.4. Chỉ đ o thực hiện

2.5. Xây dựng bộ máy và đội ngũ làm giáo dục mầm non

2.6. T tổ chức hoạt động dạy và học

2.7. Phát triển quy mô, mạng lưới trường lớp và xây dựng cơ sở vật chất

2.8. Thực hiện xã hội hóa và công bằng giáo dục

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Một số kinh nghiệm

3.1.1. Không ngừng nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tầm quan trọng của giáo dục mầm non

3.1.2. Đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ trong giải pháp, biện pháp chỉ đạo phát triển giáo dục mầm non

3.1.3. Chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục

3.1.4. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và mọi người dân cho phát triển giáo dục mầm non

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trong giáo dục mầm non 1986 1996

Trong giai đoạn 1986-1996, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những chủ trương quan trọng trong việc phát triển giáo dục mầm non. Đây là thời kỳ đánh dấu sự chuyển mình của nền giáo dục Việt Nam, với nhiều chính sách được ban hành nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Đảng đã nhận thức rõ vai trò của giáo dục mầm non trong việc hình thành nhân cách và phát triển toàn diện cho trẻ em, từ đó tạo nền tảng cho sự phát triển của đất nước.

1.1. Vai trò của giáo dục mầm non trong chiến lược phát triển

Giáo dục mầm non được xem là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và phát triển trí tuệ cho trẻ em. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định rằng, đầu tư cho giáo dục mầm non chính là đầu tư cho tương lai của đất nước.

1.2. Những chính sách giáo dục mầm non trong giai đoạn 1986 1996

Trong giai đoạn này, Đảng đã ban hành nhiều chính sách nhằm phát triển giáo dục mầm non, bao gồm việc xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ giáo viên và nâng cao chất lượng giáo dục. Những chính sách này đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao tỷ lệ trẻ em đến trường và cải thiện chất lượng giáo dục.

II. Những thách thức trong phát triển giáo dục mầm non 1986 1990

Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng giáo dục mầm non vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới. Các vấn đề như thiếu cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên chưa đủ về số lượng và chất lượng đã ảnh hưởng đến sự phát triển của giáo dục mầm non.

2.1. Thiếu hụt cơ sở vật chất và trang thiết bị

Nhiều trường mầm non không có đủ cơ sở vật chất cần thiết để phục vụ cho việc dạy và học. Điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và sự phát triển toàn diện của trẻ em.

2.2. Đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng yêu cầu

Đội ngũ giáo viên mầm non còn thiếu về số lượng và chưa được đào tạo bài bản, dẫn đến việc khó khăn trong việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non một cách hiệu quả.

III. Phương pháp và giải pháp phát triển giáo dục mầm non 1991 1996

Trong giai đoạn 1991-1996, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nhiều phương pháp và giải pháp nhằm phát triển giáo dục mầm non. Những giải pháp này không chỉ tập trung vào việc nâng cao chất lượng giáo dục mà còn chú trọng đến việc xã hội hóa giáo dục.

3.1. Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên mầm non

Đảng đã chú trọng đến việc đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm non, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và chăm sóc trẻ em.

3.2. Xã hội hóa giáo dục mầm non

Xã hội hóa giáo dục mầm non được xem là một trong những giải pháp quan trọng, giúp huy động nguồn lực từ cộng đồng và các tổ chức xã hội để phát triển giáo dục mầm non.

IV. Kết quả và ứng dụng thực tiễn trong giáo dục mầm non 1986 1996

Kết quả của những chính sách và giải pháp trong giai đoạn 1986-1996 đã mang lại nhiều thành tựu đáng kể cho giáo dục mầm non. Tỷ lệ trẻ em đến trường tăng lên, chất lượng giáo dục được cải thiện rõ rệt.

4.1. Tăng tỷ lệ trẻ em đến trường

Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã giúp tỷ lệ trẻ em đến trường mầm non tăng lên đáng kể, góp phần nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực cho đất nước.

4.2. Cải thiện chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục mầm non đã được cải thiện thông qua việc áp dụng các phương pháp giảng dạy mới và nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên.

V. Nhận xét và kinh nghiệm từ quá trình phát triển giáo dục mầm non

Quá trình phát triển giáo dục mầm non trong giai đoạn 1986-1996 đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Những kinh nghiệm này có thể được áp dụng trong việc phát triển giáo dục mầm non hiện nay.

5.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

Sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng là yếu tố quyết định đến sự thành công trong phát triển giáo dục mầm non. Cần tiếp tục phát huy vai trò này trong tương lai.

5.2. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục

Xã hội hóa giáo dục mầm non cần được đẩy mạnh hơn nữa, nhằm huy động sự tham gia của toàn xã hội trong việc phát triển giáo dục.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của giáo dục mầm non

Giáo dục mầm non có vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 1986-1996 là nền tảng vững chắc cho sự phát triển giáo dục mầm non trong tương lai.

6.1. Tầm quan trọng của giáo dục mầm non trong tương lai

Giáo dục mầm non sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.

6.2. Định hướng phát triển giáo dục mầm non trong thời gian tới

Cần có những chính sách và giải pháp đồng bộ để phát triển giáo dục mầm non, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với giáo dục mầm non từ năm 1986 đến năm 1990 Chương 2. Sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển giáo dục mầm non từ năm 1991 đến năm 1996 Chương 3. Nhận xét và kinh nghiệm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG Đ I VỚI GIÁO DỤC MẦM NON TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1990 1.

Những căn cứ xác định chủ trƣơng và chủ trƣơng của Đảng 1. Những căn cứ xác định chủ trƣơng * Tình hình Việt Nam Với Đại thắng mùa Xuân 1975, một kỷ nguyên phát triển mới của cách mạng Việt Nam đã được mở ra: kỷ nguyên cả nước độc lập, thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trong mười năm (1975 – 1985), Việt Nam bắt tay vào xây dựng đất nước trong điều kiện đan xen thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn. Đất nước có một số thuận lợi cơ bản: cả nước hòa bình, độc lập; công cuộc xây dựng CNXH đạt được những thành tựu quan trọng; nhân dân Việt Nam có truyền thống cần cù, thông minh, sáng tạo, có ý chí tự lập tự cường, tinh thần yêu nước; đã xây dựng và bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ có bản lĩnh cách mạng, ý thức trách nhiệm, trình độ và năng lực nhất định.

Đây chính là sức mạnh tiềm tàng, là nguồn nội lực vô tận cho dân tộc bước tiếp chặng đường xây dựng đất nước. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức to lớn. Đó là một nền kinh tế thấp kém lại bị tàn phá bởi mấy chục năm chiến tranh, cơ cấu kinh tế ở cả hai miền chưa đồng nhất; những hậu quả do chế độ thực dân mới của M để lại cũng rất nặng nề: các tệ nạn xã hội còn ph biến, số người mù chữ chiếm tỷ lệ lớn trong dân cư; đất nước vừa phải đối phó với chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc vừa phải ra sức chống phá âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch. Trong tình hình đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (1976) đã xác định phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 1976 – 1980 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là vừa phải giải quyết hậu quả nặng nề của chiến tranh vừa phải t chức lại nền kinh tế, xây dựng một bước nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đặt nền móng cho sự nghiệp công nghiệp hóa nước nhà.

Kế hoạch 5 năm đầu tiên sau khi thống nhất đất nước nhằm hai mục tiêu cơ bản và cấp bách: xây dựng bước đầu cơ sở vật chất k thuật của CNXH, hình thành bước đầu cơ cấu kinh tế mới trong cả nước và cải thiện một bước đời sống nhân dân. Nhằm thực hiện nhiệm vụ trên, kế hoạch 5 năm 1976 – 1980, Việt Nam đã tiến hành củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, thống nhất nền kinh tế theo mô hình chung của thời k quá độ lên CNXH trong phạm vi cả nước. Đại hội V (1982) tiếp tục khẳng định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa trong thời kì quá độ do Đại hội IV đề ra. Tuy nhiên, Đại hội V bắt đầu có sự điều chỉnh, b sung phát triển, cụ thể cho từng chặng đường, từng giai đoạn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

Đại hội xác định thời kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam phải trải qua nhiều chặng đường trong đó chặng đường trước mắt gồm 5 năm (1981 – 1985) và những năm còn lại của thập niên 80 nhằm “ n định tình hình kinh tế và xã hội, đáp ứng yêu cầu cấp bách và thiết yếu nhất của đời sống nhân dân, giảm nh sự mất cân đối trọng của nền kinh tế, khắc phục một bước đáng kể tình trạng không bình thường về phân phối, lưu thông, tăng thêm tiền đề và điều kiện để tiến lên mạnh mẽ và vững chắc hơn trong những năm sau” 46, tr. Thực hiện đường lối trên, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu quan trọng như thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, thiết lập hệ thống chính trị mới cả nước. Nhân dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, bảo vệ vững chắc T quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế với nhân dân Campuchia. Trong lĩnh vực kinh tế cũng đạt được một số kết quả như: nông nghiệp đã góp phần giải 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyết nhu cầu về lương thực trong nước và cải thiện một bước đời sống của nhân dân.

Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế phát triển và có những đóng góp nhất định vào việc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới; nhiều trường lớp được mở ra. Thế nhưng, do tư tưởng chủ quan, nóng vội, muốn tiến nhanh lên CNXH đã dẫn đến việc Việt Nam trong tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội: sản xuất đình đốn, lạm phát tăng vọt, bị bao vây cấm vận kinh tế, đời sống nhân dân khó khăn, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, hiện tương tiêu cực trong xã hội ngày càng nhiều, công bằng xã hội bị vi phạm, pháp luật kỉ cương không nghiêm, quần chúng giảm lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước. Thực tiễn 10 năm xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước càng khẳng định mô hình kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu, bao cấp đã trở thành sức cản lớn đối với sự phát triển của sản xuất, dẫn đến khủng hoảng kinh tế – xã hội. Do đó, Việt Nam cần phải vượt lên, đ i mới căn bản và đồng bộ để đưa đất nước thoát ta khỏi tình trạng đó.

* hực trạng giáo dục mầm non trước năm 1986 Nền giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm 4 bậc giáo dục đó là bậc giáo dục mầm non, bậc giáo dục ph thông, bậc giáo dục chuyên nghiệp và bậc giáo dục đại học. Giáo dục mầm non là bậc giáo dục dành cho trẻ em trước tu i đến trường ph thông (0-6 tu i), là khâu đầu tiên của quá trình giáo dục, là giai đoạn đầu tiên của việc hình thành và phát triển nhân cách con người. Trẻ em trong độ tu i mầm non (0-6 tu i) có sự tăng trưởng rất lớn về cơ thể, trí tuệ và tình cảm; do đó, GDMN có vai trò hết sức quan trọng, đặt nền tảng cho những bậc học tiếp theo. Nhận thức được vai trò của GDMN, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12/1976) đã xác định: Công tác nuôi dạy trẻ ở lứa tu i mầm non là một vấn đề xã hội to lớn, liên quan đến sự nghiệp phát triển kinh tế và 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com văn hóa của đất nước.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội IV của Đảng, ngày 11/1/1979, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 14/NQ-TW về cải cách giáo dục. Nghị quyết đề ra cho ngành giáo dục trong những năm tới phấn đấu đạt được mục tiêu: Làm tốt việc chăm sóc và giáo dục trẻ ngay từ tu i thơ ấu cho đến lúc trưởng thành, nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể. Đặc biệt đối với Giáo dục mầm non, Nghị quyết đã ghi rõ: “Việc chăm sóc giáo dục các em từ tu i sơ sinh cho đến 6 tu i có tác dụng cực kì quan trọng trong sự hình thành con người mới xã hội chủ nghĩa. Cần có kế hoạch dài hạn và biện pháp tích cực động viên và t chức toàn xã hội gánh vác sự nghiệp chăm sóc và giáo dục thế hệ mầm non của dân tộc, phát triển mạng lưới nhà trẻ và lớp mẫu giáo từ thành thị đến nông thôn, xây dựng mạng lưới đó thành một bộ phận khăng khít của hệ thống giáo dục quốc dân ” 64, tr.

Sau Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục, ngày 14/11/1979, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trường Chinh đã kí Pháp lệnh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Pháp lệnh là cơ sở pháp lý đầu tiên của Việt Nam về việc đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em. Việc quản lí GDMN trong giai đoạn này do hai cơ quan Ủy ban Bảo vệ bà m và trẻ trẻ và Bộ giáo dục phụ trách, đến năm 1987 mới thống nhất về Bộ Giáo dục quản lí. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (3/1982) trên cở sở phân tích toàn diện những thành tựu cũng như hạn chế trong công tác giáo dục trong suốt thời gian thực hiện Nghị quyết Đại hội IV, đã xác định nhiệm vụ chiến lược và chủ trương lớn trong chặng đường 5 năm tiếp theo (1981-1985).

Đại hội xác định cần cải cách giáo dục và phát triển sự nghiệp giáo dục một cách tích cực, vững chắc theo bước đi phù hợp với yêu cầu thực tiễn đất nước, ra sức phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thực hiện đường lối của Đảng, trong 10 năm (1975 – 1985), GDMN đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng. Số lƣ ng trẻ mầm non đi học (1976 – 1980) Đơn vị: người Năm học Số lƣ ng Tỷ lệ 1976 – 1977 878.8] Như vậy so với năm học 1976 – 1977, số trẻ đi học trường, lớp mẫu giáo năm học 1979 – 1980 đã tăng 701. Tính đến cuối năm 1984, số lượng trẻ đến lớp không thay đ i (có 1.

Ở miền Bắc, các tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh nơi phát triển số lượng trường lớp mẫu giáo cao, đã có tới 800 ngàn trẻ đến lớp, chiếm trên 50 t ng số trẻ đã đi học mẫu giáo của cả nước. Các tỉnh có GDMN phát triển là Hải Hưng (69 trẻ trong độ tu i đến lớp), Thái Bình (65 ), các tỉnh khác đều đạt tỷ lệ từ 45 trở lên trong đó có các xã đạt tới 90 , 95 số trẻ trong độ tu i tới lớp mẫu giáo 8,tr. Thế nhưng, nếu nhìn vào tốc độ xây dựng bậc học này ở địa bàn miền Nam sẽ thấy một bước tiến khá xa. Trước ngày giải phóng, bậc học mẫu giáo chưa thực sự hình thành, lớp mẫu giáo chủ yếu tập trung ở khu vực Sài Gòn cũ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bạn đang tìm hiểu về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng nền tảng giáo dục cho thế hệ tương lai, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển mình của đất nước? Tài liệu "Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam trong phát triển giáo dục mầm non (1986-1996)" sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về những chủ trương, chính sách và sự chỉ đạo của Đảng đối với giáo dục mầm non trong thập kỷ đầy biến động sau Đổi mới. Nghiên cứu này làm rõ cách các quyết sách đã tác động đến hệ thống giáo dục mầm non, từ đó mang lại bức tranh toàn diện về những nỗ lực và thành tựu trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ thơ. Đây là nguồn tư liệu quý giá giúp bạn hiểu rõ bối cảnh lịch sử, sự phát triển của chính sách giáo dục và tầm quan trọng của giáo dục mầm non tại Việt Nam.

Để mở rộng tầm nhìn và đào sâu kiến thức về sự phát triển giáo dục trên nhiều khía cạnh khác, bạn có thể khám phá thêm các tài liệu liên quan. Nếu bạn muốn tìm hiểu chi tiết về sự phát triển giáo dục ở một địa phương cụ thể trong cùng giai đoạn Đổi mới, tài liệu về Sự phát triển giáo dục tỉnh Kiên Giang từ năm 1986 đến năm 2006 sẽ mang đến một góc nhìn thực tiễn, cụ thể. Tiếp nối giai đoạn trên, để thấy được vai trò lãnh đạo của Đảng bộ địa phương trong việc phát triển giáo dục phổ thông, hãy đọc tài liệu về Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 1996 đến năm 2010. Và để có cái nhìn sâu hơn về thực trạng giáo dục phổ thông tại các vùng đặc thù, những thách thức và thành tựu trong giai đoạn sau, tài liệu về Giáo dục phổ thông ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam 1997 2017 sẽ là một lựa chọn tuyệt vời. Mỗi liên kết này là một cánh cửa giúp bạn đào sâu hơn vào từng khía cạnh, mở rộng hiểu biết và kết nối các mảnh ghép lịch sử giáo dục Việt Nam.