Luận văn thạc sĩ về lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo tỉnh Bắc Ninh từ 1997 đến 2010

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo từ 1997 2010 002, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

126
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 1997-2001

1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Ninh

1.2. Công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh Hà Bắc trước năm 1997

1.3. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về xóa đói, giảm nghèo từ năm 1997-2001

1.3.1. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước

1.3.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về xóa đói, giảm nghèo

1.4. Quá trình chỉ đạo thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo ở Bắc Ninh từ 1997-2001

1.4.1. Tổ chức thực hiện xóa đói, giảm nghèo

1.4.2. Kết quả lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh từ năm 1997-2000

1.5. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001-2010

2.1. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Đảng bộ tỉnh về xóa đói, giảm nghèo

2.1.1. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước

2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh về đẩy mạnh thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo

2.2. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ 2001-2005

2.2.1. Đẩy mạnh tổ chức thực hiện

2.2.2. Kết quả lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh từ năm 2001-2005

2.3. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo thực hiện xóa đói, giảm nghèo từ năm 2006 - 2010

2.3.1. Tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa thiết thực trong thực hiện XĐGN

2.3.2. Kết quả lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo từ năm 2006 - 2010

2.4. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh

3.2. Một số hạn chế

3.3. Một số kinh nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 2010

Công tác xóa đói giảm nghèo (XĐGN) tại tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến 2010 đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển quan trọng. Từ khi tách tỉnh, Bắc Ninh đã có những bước tiến vượt bậc trong việc cải thiện đời sống người dân. Lãnh đạo tỉnh đã triển khai nhiều chương trình, chính sách nhằm giảm thiểu tình trạng nghèo đói, tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết.

1.1. Tình hình kinh tế xã hội Bắc Ninh trước năm 1997

Trước năm 1997, Bắc Ninh là một tỉnh có nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội. Tình hình đói nghèo diễn ra phổ biến, đặc biệt là ở các vùng nông thôn. Các chính sách phát triển chưa được triển khai đồng bộ, dẫn đến tình trạng thiếu thốn về cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội.

1.2. Những chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước

Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm hỗ trợ người nghèo, như chương trình hỗ trợ tín dụng, phát triển sản xuất nông nghiệp, và các dự án xã hội. Những chính sách này đã góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống người dân.

II. Những thách thức trong công tác xóa đói giảm nghèo tại Bắc Ninh

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, công tác XĐGN tại Bắc Ninh vẫn gặp phải nhiều thách thức. Tình trạng nghèo đói vẫn tồn tại ở một số khu vực, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa. Việc tiếp cận các nguồn lực và dịch vụ xã hội còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo của người dân.

2.1. Tình hình đói nghèo hiện tại ở Bắc Ninh

Theo số liệu thống kê, tỷ lệ hộ nghèo tại Bắc Ninh vẫn còn ở mức cao so với các tỉnh khác trong khu vực. Nhiều hộ gia đình vẫn phải đối mặt với khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục, y tế và việc làm.

2.2. Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nghèo đói bao gồm thiếu hụt về giáo dục, kỹ năng nghề nghiệp, và cơ hội việc làm. Bên cạnh đó, sự phân bổ nguồn lực chưa hợp lý cũng là một yếu tố quan trọng.

III. Phương pháp lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả công tác XĐGN, Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo sáng tạo. Việc kết hợp giữa các chương trình hỗ trợ và phát triển kinh tế đã mang lại kết quả tích cực trong việc giảm nghèo.

3.1. Chương trình hỗ trợ tín dụng cho hộ nghèo

Chương trình hỗ trợ tín dụng đã giúp nhiều hộ nghèo tiếp cận vốn để phát triển sản xuất. Điều này không chỉ giúp cải thiện thu nhập mà còn tạo ra việc làm cho nhiều lao động địa phương.

3.2. Đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng

Đầu tư vào cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện, nước sạch đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc phát triển kinh tế. Những dự án này đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống.

IV. Kết quả đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo

Trong giai đoạn 1997-2010, công tác XĐGN tại Bắc Ninh đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đáng kể, nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo và cải thiện đời sống.

4.1. Tỷ lệ hộ nghèo giảm qua các năm

Theo thống kê, tỷ lệ hộ nghèo tại Bắc Ninh đã giảm từ 20% xuống còn 5% trong giai đoạn này. Điều này cho thấy sự nỗ lực của Đảng bộ tỉnh trong việc thực hiện các chính sách XĐGN.

4.2. Cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân

Nhiều hộ gia đình đã có điều kiện sống tốt hơn, với đầy đủ các nhu cầu cơ bản như ăn uống, y tế, và giáo dục. Sự thay đổi này không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn tạo động lực cho người dân phát triển.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho công tác xóa đói giảm nghèo

Công tác XĐGN tại Bắc Ninh trong giai đoạn 1997-2010 đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng vẫn còn nhiều thách thức phía trước. Để tiếp tục giảm nghèo, cần có những chính sách và giải pháp phù hợp hơn trong tương lai.

5.1. Đề xuất các giải pháp tiếp theo

Cần tiếp tục đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ, nâng cao năng lực cho người dân, và cải thiện cơ sở hạ tầng. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và cộng đồng.

5.2. Tầm nhìn cho công tác xóa đói giảm nghèo trong tương lai

Hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, công tác XĐGN cần được tích hợp vào các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Điều này sẽ giúp đảm bảo rằng mọi người dân đều có cơ hội phát triển và thoát nghèo.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ tỉnh bắc ninh lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo từ 1997 2010 002

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 1997-2001 1.Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh Bắc Ninh trước năm 1997 1.Khái quát điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Ninh Điều kiện tự nhiên Vị trí địa lý: Bắc Ninh là tỉnh nằm trong vùng châu thổ Sông Hồng, thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Vị trí địa lý nằm trong phạm vi từ 20o 58‟ đến 21o 16‟ vĩ độ Bắc và 105o 54‟ đến 106o 19‟ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang; Phía Đông và Đông Nam giáp với tỉnh Hải Dương; Phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên; Phía Tây giáp thành phố Hà Nội. Địa hình: Với vị trí nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên địa hình của tỉnh Bắc Ninh khá bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt đổ về sông Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình.

Mức độ chênh lệch địa hình trên toàn tỉnh không lớn. Vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh có độ cao phổ biến từ 3 – 7m so với mực nước biển và một số vùng thấp trũng ven đê thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ. Địa hình trung du đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh được phân bố rải rác thuộc thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế Võ, các đỉnh núi có độ cao phổ biến từ 60 – 100m, đỉnh cao nhất là núi Bàn Cờ (thành phố Bắc Ninh) cao 171m, tiến đến là núi Bu (huyện Quế Võ) cao 103m, núi Phật Tích (huyện Tiên Du) cao 84m và núi Thiên Thai (huyện Gia Bình) cao 71m. Thủy văn: Mạng lưới sông ngòi thuộc tỉnh Bắc Ninh khá dày đặc, mật độ khá cao từ 1,0 – 1,2km/km2 (theo số liệu của Đài KTTV Bắc Bộ) với 3 hệ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình.

Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có sông Cà Lồ nằm ở phía Tây của tỉnh, một phần của sông có chiều dài 6,5km là đường ranh giới tỉnh giữa Bắc Ninh với thành phố Hà Nội và hệ thống sông ngòi nội địa như sông Ngũ Huyện Khê, sông Dâu, sông Bội, sông Tào Khê, sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình.Với hệ thống sông ngòi khá dày đặc và có lưu lượng nước mặt dồi dào, thủy văn của tỉnh Bắc Ninh đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác tưới và tiêu thoát nước trên địa bàn toàn tỉnh. Khí hậu: Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa khá rõ rệt, có mùa đông lạnh, mùa hè nóng nực. Trong khoảng 12 năm trở lại đây, nhiệt độ trung bình năm là 24,0 oC, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 29,4oC (tháng 7), nhiệt độ trung bình thấp nhất là 17,4oC (tháng 1).Độ ẩm tương đối trung bình của Bắc Ninh khoảng 81%, độ chênh lệch về độ ẩm giữa các tháng không lớn, độ ẩm tương đối trung bình thấp nhất từ 72% đến 75% thường xảy ra từ tháng 10 đến tháng 12 trong năm. Lượng mưa trung bình hàng năm tại Bắc Ninh khoảng 1500 mm nhưng phân bổ không đều trong năm.

Mùa mưa chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm. Khoảng 12 năm trở lại đây, tổng số giờ nắng trung bình là 1417 giờ, trong đó tháng có giờ nắng trung bình lớn nhất là tháng 7 với 168 giờ, tháng có giờ nắng trung bình ít nhất là tháng 1 với 64 giờ. Hàng năm có hai mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam.

Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, tốc độ gió trung bình vào tháng 1 khoảng 2,6m/s; gió mùa Đông Nam thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi ẩm gây mưa rào, tốc độ trung bình vào tháng 7 khoảng 2,4m/s. Tài nguyên đất: Theo số liệu kiểm kê đất năm 2010, tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là 82,271.2 km2; Diện tích lớn nhất là đất nông 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp chiếm 65,85%, trong đó đất Lâm nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ chỉ với 0,81%; Đất phi nông nghiệp chiếm 33,31% trong đó đất ở chiếm 12,83%; Diện tích đất chưa sử dụng chiếm 0,84%. Địa chất – khoáng sản: Đặc điểm địa chất lãnh thổ Bắc Ninh mang những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất thuộc vùng trũng sông Hồng, có bề dày trầm tích đệ tứ chịu ảnh hưởng rõ rệt của cấu trúc mỏng. Tuy nhiên nằm trong miền kiến tạo Đông Bắc – Bắc Bộ nên cấu trúc địa chất lãnh thổ Bắc Ninh có những nét còn mang tính chất của vòng cung Đông Triều vùng Đông Bắc.

Với đặc điểm này địa chất của tỉnh Bắc Ninh có tính ổn định hơn so với Hà Nội và các đô thị vùng đồng bằng Bắc Bộ khác trong việc xây dựng công trình. Bắc Ninh là tỉnh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu thiên về vật liệu xây dựng với các loại khoáng sản sau: đất sét, cát xây dựng và than bùn. Trong đó, đất sét được khai thác làm gạch, ngói, gốm có trữ lượng lớn được phân bổ dọc theo sông Cầu, sông Đuống thuộc phạm vi các huyện Thuận Thành, Gia Bình, Quế Võ, Yên Phòng và Tiên Du; Đất sét làm gạch chịu lửa phân bổ chủ yếu tại khu vực phường Thị Cầu, thành phố Bắc Ninh. Cát xây dựng cũng là nguồn tài nguyên chính có trữ lượng lớn của Bắc Ninh được phân bố hầu như khắp toàn tỉnh, dọc theo sông Cầu, sông Đuống.

Thảm thực vật: Thực vật của Bắc Ninh chủ yếu là cây trồng hàng năm, cây trồng lâu năm và rừng trồng. Trong đó diện tích cây trồng hàng năm chiếm 54% diện tích đất tự nhiên, diện tích đất tự nhiên, diện tích đất trồng cây lâu năm và đất rừng trồng chiếm diện tích thấp. Điều kiện kinh tế- xã hội: Gần một thế kỷ đã qua, Bắc Ninh - đất Kinh Bắc thủa nào vẫn là một miền đất trù phú tiềm ẩn những điểu kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt trên chặng đường hơn 10 năm kể từ ngày tái lập, Bắc Ninh đã phát huy truyền thông cách mạng, năng động, sáng tạo để thực 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện công cuộc đổi mới, tạo nên những bước chuyển biến mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội.

Dân cư – lao động: Theo số liệu thống kê mới nhất năm 2010, Bắc ninh có 1. Trong đó dân cư nông thôn chiếm trên 74,1%, dân số thành thị chiếm 25,9%. Thành phần dân số này có xu hướng chuyển dịch theo cơ cấu tăng dân số thành thị và giảm dần số nông thôn. Dân số Bắc Ninh là dân số trẻ, trên 60% trong độ tuổi lao động.

Với chất lượng ngày càng được nâng cao đội ngũ dân số trẻ này là lực lượng lao động hùng hậu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của tỉnh. Cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng của ngành công nghiệp, xây dựng năm 2010 ước đạt 64,8%, dịch vụ 24,2%, nông nghiệp đạt 11%. Đầu tư cho phát triển được đẩy mạnh, góp phần tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm ước thực hiện đạt trên 64.000 tỷ đồng, tăng bình quân 33,6%, hàng năm đều đạt trên 50% GDP. Công nghiệp: Xuất phát điểm từ một tỉnh mà nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, các cơ sở sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp hiện đại hầu như không đáng kể. Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 15 khu công nghiệp tập trung: hơn 18 khu công nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp làng nghề với hàng trăm nhà máy có công nghệ sản xuất hiện đại đã và đang hoạt động. Công nghiệp Bắc Ninh từ vị trí thứ 19 (2004) vượt lên vị trí thứ 9 trong toàn quốc.

Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,250 tỷ USD, tăng bình quân 67,2%/năm. Sản phẩm của ngành công nghiệp không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của thị trường trong nước mà còn tăng khối lượng và chủng loại sản phẩm xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ đáng kể để tiếp tục đầu tư phát triển. Ngành tiểu thủ công nghiệp rất phát triển với nhiều làng nghề truyền thống và được ví là “Vùng đất trăm nghề”, một số sản phẩm đã có thương hiệu trên thị trường trong nước và thế giới như đồ gỗ mỹ nghệ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (Đồng Kỵ - Từ Sơn), đúc đồng (Đại Bái – Gia Bình)… Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 10 toàn quốc và là một trong ba tỉnh dẫn đầu miền Bắc. Hoạt động kinh tế đối ngoại được mở rộng, góp phần quảng bá hình ảnh Bắc Ninh, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đứng thứ 7 trong toàn quốc, thứ 2 trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Nông nghiệp: Mặc dù diện tích đất nông nghiệp giảm, sản xuất còn gặp nhiều khó khăn do diễn biến bất thường của thời tiết nhưng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 3,5% (theo giá năm 1994). Năng xuất, sản lượng cây trồng tăng đáng kể: năng suất lúa ước đạt 60 tạ/ha; sản lượng lương thực có hạt ước đạt 60 tấn; giá trị trồng trọt ước đạt 73,9 triệu đồng/ha năm 2010. Cơ cấu cây trồng gắn với luân canh hợp lý, nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung cho thu nhập gần 200 triệu đồng/ha như: lúa, khoai tây, rau xanh, hoa, cây cảnh… Quan hệ sản xuất ở nông thôn có chuyển biến tích cực, bước đầu xuất hiện mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp đô thị, doanh nghiệp nông nghiệp, kinh tế trang trại tiếp tục phát triển.477 trang trại hoạt động đạt hiệu quả tốt đồng thời có 568 hợp tác xã, 2 liên hiệp hợp tác xã, 628 tổ hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Việc chuyển giáo, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, cơ giới hóa tăng nhanh, dịch vụ nông nghiệp phát triển, “dồn điền đổi thửa” gắn với quy hoạch hạ tầng vùng sản xuất được coi trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ