Tổng quan luận án

Công tác tư tưởng giữ vị trí, vai trò trọng yếu trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp tạo lập sự thống nhất về nhận thức, ý chí và hành động trong Đảng và xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Giáo dục tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng là việc quan trọng nhất của Đảng, phải kiên quyết chống cái thói xem nhẹ tư tưởng". Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, công tác tư tưởng là một bộ phận của công tác tư tưởng của Đảng, là nội dung cơ bản hàng đầu của công tác đảng, công tác chính trị nhằm xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần, bảo đảm hệ tư tưởng của Đảng giữ vai trò chủ đạo, xây dựng quân đội tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Giai đoạn 1986 - 1996 là mười năm đầu đất nước tiến hành công cuộc đổi mới trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều biến động sâu sắc. Sự khủng hoảng và sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô khiến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lâm vào thoái trào; các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình"; tình hình tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông diễn biến phức tạp. Ở trong nước, công cuộc đổi mới toàn diện đạt thành tựu bước đầu nhưng khủng hoảng kinh tế - xã hội còn gay gắt, đặt ra nhiều thách thức đối với công tác chính trị, tư tưởng. Đảng bộ Quân đội đã đề ra các chủ trương lãnh đạo đúng đắn, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội, song thực tiễn lãnh đạo cũng còn những hạn chế cần tổng kết. Luận án tiến sĩ lịch sử của nghiên cứu sinh Bùi Lê Phong với đề tài "Đảng bộ Quân đội lãnh đạo công tác tư tưởng từ năm 1986 đến năm 1996" (chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam) giải quyết khoảng trống học thuật: chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu độc lập, có hệ thống và toàn diện về tiến trình lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng bộ Quân đội giai đoạn này dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ sự lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng bộ Quân đội từ năm 1986 đến năm 1996; đúc rút một số kinh nghiệm để tham khảo, vận dụng vào hoạt động lãnh đạo công tác tư tưởng trong Quân đội hiện nay. Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
  2. Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân đội về công tác tư tưởng từ năm 1986 đến năm 1996 qua hai giai đoạn: 1986 - 1991 và 1991 - 1996.
  3. Trình bày có hệ thống, phân tích, làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân đội về công tác tư tưởng (1986 - 1996).
  4. Nhận xét, đánh giá ưu điểm, hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân; đúc rút một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ Quân đội lãnh đạo công tác tư tưởng (1986 - 1996).

Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung vào hoạt động lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng bộ Quân đội từ năm 1986 đến năm 1996. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể trên ba phương diện:

  • Về nội dung: Khảo sát chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân đội trên 4 nội dung trọng tâm: công tác giáo dục chính trị; công tác tuyên truyền, cổ động, thi đua; công tác văn hóa, văn nghệ; công tác báo chí, xuất bản.
  • Về thời gian: Từ tháng 10-1986 (Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ IV) đến tháng 5-1996 (Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ VI), lấy mốc phân kỳ là Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ V (tháng 4-1991). Luận án cũng sử dụng các dữ liệu trước và sau thời gian này để bảo đảm tính liên tục lịch sử.
  • Về không gian: Toàn bộ phạm vi hoạt động của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu của luận án bao gồm các công trình trong và ngoài nước thuộc ba nhóm chính:

Nhóm nghiên cứu về công tác tư tưởng của các nước trên thế giới: Các tác phẩm của V.I. Lênin và Đảng Cộng sản Liên Xô về công tác đảng, công tác chính trị trong các lực lượng vũ trang khẳng định vai trò của công tác tư tưởng trong xây dựng quân đội bằng chủ nghĩa Mác - Lênin; các sách nghiên cứu về xây dựng văn minh tinh thần trong quân đội Trung Quốc của Trung tâm Thông tin - Công nghệ - Môi trường Bộ Quốc phòng Việt Nam (1998) và cuốn sách "Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới" của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2005) nhấn mạnh 5 trọng điểm gồm xây dựng lý luận, hướng dẫn dư luận, giáo dục tư tưởng, hát vang giai điệu chính và xây dựng đội ngũ; luận án tiến sĩ của Thimsảo Đuôngchămpa (2015) nghiên cứu về nâng cao chất lượng giáo dục chính trị ở các trung đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Lào.

Nhóm nghiên cứu chung về công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam: Các công trình tiêu biểu gồm Trần Trọng Tân (1995) với cuốn "Góp phần đổi mới công tác lý luận - tư tưởng"; Lê Khả Phiêu (1997) với "Quốc phòng, an ninh trong công cuộc đổi mới đất nước"; Đào Duy Tùng (1999, 2015) với các tác phẩm về công tác tư tưởng và công tác tư tưởng trong thời kỳ đổi mới; Lương Khắc Hiếu (chủ biên, 2008) với giáo trình "Nguyên lý công tác tư tưởng"; Đào Duy Quát (chủ biên, 2010) với công trình "Công tác tư tưởng"; Nguyễn Danh Tiên (chủ biên, 2010) với "Đảng lãnh đạo công tác tư tưởng trong thời kỳ đổi mới"; Trần Thị Anh Đào (2014) về đào tạo cán bộ tư tưởng; Trần Thị Anh Đào và Phan Sỹ Thanh (đồng chủ biên, 2020) về chất lượng lãnh đạo công tác tư tưởng của Đảng.

Nhóm nghiên cứu về công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam: Bao gồm các bài viết, bài nói của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (1990) trong tác phẩm "Mấy vấn đề về quân sự và quốc phòng trong sự nghiệp đổi mới"; luận án của Trần Ngọc Tuệ (1996) về công tác lý luận trong quân đội; các công trình nghiên cứu và tổng kết của Tổng cục Chính trị (2000, 2002, 2020), Cục Tư tưởng - Văn hóa (2006), Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự Bộ Quốc phòng (2007), Đảng ủy Quân sự Trung ương (2008), Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam (2011), Cục Tuyên huấn (2014); các công trình chuyên khảo của Lê Minh Vụ (2008), Đinh Xuân Dũng (2016), bài viết của Nguyễn Trọng Nghĩa (2018) về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, và luận án tiến sĩ của Vũ Thành Trung (2020) khảo sát sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân đội giai đoạn 1960 - 1968.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết: Phần lớn các công trình đã công bố tiếp cận công tác tư tưởng dưới góc độ triết học, văn hóa học, khoa học quân sự hoặc tổng kết lịch sử công tác đảng, công tác chính trị qua các chặng đường dài (1944 - 2000, 1975 - 2005, 1975 - 2020), hoặc tập trung vào giai đoạn chiến tranh giải phóng. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về quá trình Đảng bộ Quân đội lãnh đạo công tác tư tưởng trong thời kỳ 10 năm đầu đổi mới (1986 - 1996) dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng và xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân. Luận án vận dụng định nghĩa của Từ điển Công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam, xác định công tác tư tưởng trong quân đội bao gồm nghiên cứu phát triển lý luận, giáo dục truyền bá lý luận chính trị, tuyên truyền cổ động thi đua, văn hóa văn nghệ, báo chí xuất bản, xây dựng nhân cách quân nhân cách mạng và dự báo tư tưởng. Khung phân tích của luận án tập trung vào 4 nội dung: giáo dục chính trị; tuyên truyền, cổ động, thi đua; văn hóa, văn nghệ; báo chí, xuất bản.

Cơ sở thực tiễn của đề tài là toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Quân đội và sự chỉ đạo của các cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp trong toàn quân giai đoạn 1986 - 1996, được phản ánh qua hệ thống văn kiện, nghị quyết của Đảng, chỉ thị, kết luận của Đảng ủy Quân sự Trung ương, hướng dẫn của Tổng cục Chính trị, Cục Tuyên huấn và báo cáo thực tế của các đơn vị.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp lịch sử và phương pháp logic:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện khách quan, chân thực hoàn cảnh lịch sử, quá trình phát triển nhận thức, hoạch định đường lối và sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân đội theo trình tự thời gian qua hai giai đoạn: 1986 - 1991 và 1991 - 1996.
  • Phương pháp logic: Khái quát bản chất của tiến trình lịch sử, làm rõ quy luật vận động, hệ thống hóa các luận điểm, phân tích mối quan hệ giữa chủ trương lãnh đạo và kết quả chỉ đạo thực tiễn, từ đó rút ra các nhận xét về ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và đúc kết các bài học kinh nghiệm.
  • Các phương pháp bổ trợ: Phân tích, tổng hợp tư liệu văn kiện, so sánh lịch sử và thống kê tư liệu thực chứng để đối chiếu nhận thức và hành động qua từng thời kỳ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhóm chuyên đề, đồng thời đánh giá giá trị khoa học của các tài liệu đã công bố trên các mặt: nguồn tư liệu thực chứng, phương pháp tiếp cận và nội dung lý luận - thực tiễn. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước đã làm rõ vị trí, vai trò, nguyên tắc tính đảng, tính khoa học của công tác tư tưởng, cũng như tính tất yếu khách quan của công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. Tuy nhiên, các công trình chưa dựng lại bức tranh toàn diện về sự chuyển dịch trong nhận thức, chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ Quân đội đối với từng mặt của công tác tư tưởng trong mười năm đầu đổi mới (1986 - 1996). Trên cơ sở đó, chương 1 khẳng định tính cần thiết của đề tài và xác định các vấn đề trọng tâm cần tập trung nghiên cứu: các yếu tố tác động thuận lợi và khó khăn, nội dung chủ trương, sự chỉ đạo thực tế của Đảng bộ Quân đội qua hai giai đoạn phân kỳ, đánh giá ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và đúc kết 4 kinh nghiệm lịch sử.

Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân đội về công tác tư tưởng (1986 - 1991)

Chương 2 trình bày bối cảnh lịch sử và thực tiễn công tác tư tưởng trong Quân đội giai đoạn 1986 - 1991. Tình hình quốc tế giai đoạn này chịu tác động nặng nề bởi sự khủng hoảng trầm trọng dẫn đến sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô, cùng sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại. Ở trong nước, nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường bộc lộ các hiện tượng tiêu cực như buôn lậu, làm hàng giả, trốn thuế, suy giảm mức sống của người hưởng lương, trong đó có quân nhân; văn hóa phẩm độc hại xâm nhập xã hội.

Trước năm 1986 và trong những năm đầu đổi mới, quân đội đối mặt với nhiều khó khăn gay gắt về tư tưởng và tổ chức biên chế. Tác giả dẫn chứng số liệu lịch sử cụ thể phản ánh thực trạng tư tưởng, kỷ luật và quá trình tinh giản biên chế giai đoạn này:

Chỉ số / Sự kiện thực tế Số liệu ghi nhận trong văn bản luận án
Tỷ lệ vi phạm kỷ luật trung bình toàn quân (1981 - 1985) 7%/năm
Vụ việc bắn, giết người nghiêm trọng (1981 - 1985) 900 vụ
Số vụ tự sát (1981 - 1985) 600 vụ
Số vụ và số quân nhân trốn ra nước ngoài (1981 - 1985) 675 vụ với 860 quân nhân
Đảng viên vi phạm kỷ luật (1981 - 1985) 6,4 vạn đảng viên (~4% tổng số đảng viên hằng năm)
Đảng viên bị xử lý kỷ luật và khai trừ (1981 - 1985) Xử lý trên 2,5 vạn; khai trừ 6.100 đảng viên (có 12 cán bộ cao cấp, 972 cán bộ trung cấp)
Điều chuyển, hợp nhất đầu mối đơn vị (trong 2 năm 1987 và 1988) 41 đơn vị thuộc cơ quan quân khu, quân đoàn và tổng cục
Giải thể các đầu mối từ cấp tiểu đoàn đến sư đoàn (1987 - 1988) 71 đầu mối
Quy mô hội diễn nghệ thuật quần chúng chào mừng 30 năm Điện Biên Phủ và 40 năm Quốc khánh 47 đoàn nghệ thuật, 1.500 diễn viên tham gia

Về chủ trương lãnh đạo, Đảng bộ Quân đội đã quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12-1986), Nghị quyết số 05-NQ/TW (6-1988) về xây dựng Đảng, Nghị quyết số 06-NQ/TW (3-1989) xác định các nguyên tắc chỉ đạo đổi mới, Nghị quyết số 07-NQ/TW (8-1989) về công tác tư tưởng trước tình hình quốc tế cấp bách, Nghị quyết số 08A-NQ/HNTW (3-1990) và Nghị quyết số 8B-NQ/HNTW (3-1990). Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ IV (10-1986) và Hội nghị Quân chính toàn quân (12-1990), Đảng bộ Quân đội xác định phương hướng: kiên định sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, đổi mới tư duy, lấy xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp. Luận án chỉ rõ 5 mục tiêu cụ thể: nâng cao sự nhất trí với đường lối đổi mới của Đảng; bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và tinh thần sẵn sàng chiến đấu; đổi mới giáo dục chính trị về nội dung, hình thức và phương pháp; đấu tranh chống biểu hiện hoài nghi, dao động tư tưởng; loại trừ tàn dư phong kiến, tư sản và lối sống thực dụng.

Sự chỉ đạo thực tế được triển khai đồng bộ trên 4 lĩnh vực:

  • Công tác giáo dục chính trị: Quán triệt văn kiện Đại hội VI, các chuyên đề lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới, hải đảo và nghĩa vụ quốc tế đối với Lào, Campuchia.
  • Công tác tuyên truyền, cổ động, thi đua: Củng cố mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên; đẩy mạnh thi đua quyết thắng gắn với thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và ổn định đời sống.
  • Công tác văn hóa, văn nghệ: Tổ chức các hội diễn văn nghệ quần chúng quy mô lớn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, ngăn chặn văn hóa phẩm xấu độc.
  • Công tác báo chí, xuất bản: Định hướng dư luận, tuyên truyền gương người tốt, việc tốt, đấu tranh phê phán các luận điệu phủ nhận thành quả cách mạng.

Chương 3: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân đội về tăng cường công tác tư tưởng (1991 - 1996)

Chương 3 luận giải giai đoạn Đảng bộ Quân đội tăng cường công tác tư tưởng trước bối cảnh quốc tế có bước ngoặt căn bản: chế độ xã hội chủ nghĩa tại Liên Xô tan rã hoàn toàn vào cuối năm 1991, chủ nghĩa đế quốc đẩy mạnh âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ và đòi "phi chính trị hóa" quân đội. Ở trong nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6-1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ V (4-1991) và các kỳ hội nghị Đảng ủy Quân sự Trung ương, Đảng bộ Quân đội xác định chủ trương tăng cường công tác tư tưởng: giữ vững bản chất giai cấp công nhân, xây dựng bản lĩnh chính trị kiên định cho cán bộ, chiến sĩ, bảo đảm quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng và chế độ trong mọi tình huống.

Sự chỉ đạo thực tiễn của Đảng bộ Quân đội giai đoạn 1991 - 1996 tập trung vào:

  • Công tác giáo dục chính trị: Triển khai đổi mới căn bản chương trình giáo dục chính trị, lý luận trong các học viện, nhà trường và tại đơn vị cơ sở; quán triệt sâu sắc Cương lĩnh năm 1991, Hiến pháp năm 1992 và các nghị quyết Trung ương; nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên khoa học xã hội nhân văn.
  • Công tác tuyên truyền, cổ động, thi đua: Tập trung tuyên truyền các thành tựu của công cuộc đổi mới; gắn phong trào thi đua quyết thắng với các cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa; phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội đồng quân nhân cơ sở.
  • Công tác văn hóa, văn nghệ: Đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh ở đơn vị cơ sở, tăng cường trang bị sách báo, phương tiện nghe nhìn; chỉ đạo chặt chẽ các đoàn nghệ thuật quân đội giữ vững định hướng chính trị, chống thương mại hóa.
  • Công tác báo chí, xuất bản: Tăng cường lãnh đạo Báo Quân đội nhân dân, Tạp chí Quốc phòng toàn dân và Nhà xuất bản Quân đội nhân dân; mở các chuyên trang, chuyên mục đấu tranh trực diện, sắc bén phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đòi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp và đòi phi chính trị hóa lực lượng vũ trang.

Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm

Chương 4 đưa ra những nhận xét khách quan về ưu điểm, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của quá trình lãnh đạo:

  • Về ưu điểm: Đảng bộ Quân đội đã nắm vững đường lối đổi mới của Đảng, đánh giá đúng tình hình, kịp thời hoạch định các chủ trương, biện pháp công tác tư tưởng phù hợp; chỉ đạo toàn diện 4 mặt công tác tư tưởng, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội; cán bộ, chiến sĩ kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, không bị dao động trước sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu; đánh bại các âm mưu "diễn biến hòa bình", hoàn thành nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và bảo vệ chủ quyền Tổ quốc.
  • Về hạn chế: Công tác tư tưởng ở một số đơn vị có thời điểm còn lúng túng, chậm đổi mới nội dung và phương pháp; tính chiến đấu, tính thuyết phục chưa cao trước những hiện tượng tiêu cực nảy sinh từ cơ chế thị trường; việc nắm, quản lý và dự báo tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ ở cơ sở có lúc chưa kịp thời, dẫn đến tình trạng vi phạm kỷ luật quân đội và pháp luật Nhà nước vẫn còn xảy ra; cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật bảo đảm cho công tác tư tưởng còn thiếu thốn.
  • Về nguyên nhân: Nguyên nhân khách quan do tác động phức tạp của cuộc khủng hoảng hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, mặt trái của kinh tế hàng hóa và đời sống bộ đội còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Nguyên nhân chủ quan là do một số cấp ủy, chỉ huy cơ sở nhận thức chưa đầy đủ về vị trí của công tác tư tưởng; năng lực, phẩm chất và phương pháp của một bộ phận cán bộ chính trị, báo cáo viên còn bất cập so với yêu cầu đổi mới.

Từ thực tiễn lãnh đạo giai đoạn 1986 - 1996, luận án đúc kết 4 bài học kinh nghiệm:

  1. Thường xuyên quán triệt sâu sắc các quan điểm, nghị quyết của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội.
  2. Bám sát thực tiễn đất nước và quân đội, chủ động đổi mới toàn diện nội dung, hình thức, biện pháp công tác tư tưởng, kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và chính sách.
  3. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, lực lượng, các phương tiện tuyên truyền; chú trọng xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng có phẩm chất chính trị vững vàng và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
  4. Nâng cao tính chủ động, tính chiến đấu trong công tác tư tưởng; kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy "xây" làm chính, chủ động phòng ngừa và đấu tranh làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình" và âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội của các thế lực thù địch.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới cụ thể về mặt khoa học và thực tiễn:

Thứ nhất, luận án góp phần làm rõ thêm các yếu tố tác động tiêu cực đến tư tưởng và công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 1986 - 1996, đặc biệt là những khó khăn bắt nguồn từ sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô, cùng các mặt trái của nền kinh tế thị trường trong nước.

Thứ hai, luận án hệ thống hóa một cách khách quan, toàn diện quá trình hình thành chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Quân đội về công tác tư tưởng qua hai thời kỳ (1986 - 1991 và 1991 - 1996) trên 4 nội dung: công tác giáo dục chính trị; công tác tuyên truyền, cổ động, thi đua; công tác văn hóa, văn nghệ; công tác báo chí, xuất bản.

Thứ ba, luận án đưa ra các nhận xét, đánh giá khách quan về ưu điểm, hạn chế, đồng thời phân tích rõ nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan trong công tác lãnh đạo của Đảng bộ Quân đội giai đoạn 1986 - 1996.

Thứ tư, công trình đúc kết được 4 bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn và lý luận, phục vụ cho việc vận dụng, nâng cao hiệu quả lãnh đạo công tác tư tưởng trong Quân đội hiện nay.

Về ý nghĩa thực tiễn, luận án cung cấp cơ sở dữ liệu và luận cứ khoa học cho các cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trong hoạch định chính sách xây dựng quân đội về mặt chính trị; đóng góp tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Công tác đảng, công tác chính trị tại các học viện, nhà trường; đồng thời là tài liệu tham khảo phục vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở cấp độ lãnh đạo của Đảng bộ Quân đội từ tháng 10-1986 đến tháng 5-1996 và tập trung phân tích 4 nội dung nghiệp vụ công tác tư tưởng chủ yếu. Văn bản chưa đi sâu khảo sát các diễn biến tâm lý cá nhân chi tiết ở từng quân binh chủng kỹ thuật đặc thù hoặc ở các đơn vị làm kinh tế quốc phòng độc lập.

Về hướng nghiên cứu tiếp, các công trình khoa học trong tương lai có thể tiếp tục mở rộng khảo sát giai đoạn sau năm 1996, nghiên cứu so sánh chuyên sâu về hiệu quả công tác tư tưởng giữa các lực lượng (quân chủng, binh chủng, lực lượng cơ động chiến lược và bộ đội biên phòng), hoặc nghiên cứu công tác tư tưởng trong bối cảnh tác chiến không gian mạng và chuyển đổi số quân sự.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Triết học Mác - Lênin, Khoa học Chính trị: Bản luận án là tài liệu chuyên khảo tham khảo về phương pháp tiếp cận lịch sử - logic và cách xử lý nguồn tư liệu văn kiện quân sự trong thời kỳ đổi mới.
  • Đội ngũ cán bộ chính trị, chính ủy, chính trị viên, cán bộ tuyên huấn các cấp trong lực lượng vũ trang: Tham khảo kinh nghiệm chỉ đạo thực tế về công tác tư tưởng trong các giai đoạn chuyển đổi phức tạp, xử lý mối quan hệ giữa công tác tư tưởng và công tác chính sách, giải quyết tư tưởng bộ đội trước các biến động tổ chức biên chế.
  • Cơ quan chỉ đạo và nghiên cứu chiến lược quốc phòng: Cung cấp bài học kinh nghiệm thực tiễn phục vụ nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và phòng, chống chiến lược "diễn biến hòa bình" trong tình hình mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án được xác định gồm những mảng công tác nào?

Căn cứ Từ điển Công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam và thực tiễn hoạt động của Quân đội giai đoạn 1986 - 1996, luận án xác định phạm vi nội dung nghiên cứu trên 4 mảng chính: 1) Công tác giáo dục chính trị; 2) Công tác tuyên truyền, cổ động, thi đua; 3) Công tác văn hóa, văn nghệ; 4) Công tác báo chí, xuất bản.

2. Thực trạng tình hình tư tưởng và vi phạm kỷ luật trong Quân đội giai đoạn 1981 - 1985 trước đổi mới được luận án ghi nhận qua các số liệu nào?

Văn bản luận án dẫn chứng số liệu lịch sử 5 năm (1981 - 1985): tỷ lệ vi phạm kỷ luật trung bình toàn quân lên tới 7%/năm; có 900 vụ bắn, giết người; 600 vụ tự sát; 675 vụ với 860 quân nhân trốn ra nước ngoài. Toàn quân có 6,4 vạn đảng viên vi phạm kỷ luật (chiếm khoảng 4% tổng số đảng viên hằng năm), trong đó xử lý kỷ luật trên 2,5 vạn và khai trừ 6.100 đảng viên (gồm 12 cán bộ cao cấp và 972 cán bộ trung cấp).

3. Quy mô điều chỉnh tổ chức lực lượng, tinh giản biên chế trong Quân đội những năm 1987 - 1988 diễn ra như thế nào?

Theo số liệu được luận án trích xuất, thực hiện chủ trương điều chỉnh lực lượng, trong hai năm 1987 và 1988, quân đội đã điều chuyển, hợp nhất 41 đơn vị thuộc cơ quan quân khu, quân đoàn và tổng cục; đồng thời giải thể 71 đầu mối tổ chức từ cấp tiểu đoàn đến sư đoàn và tương đương.

4. Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ IV (tháng 10-1986) xác định mục tiêu chung của công tác tư tưởng là gì?

Mục tiêu chung được xác định là: Công tác tư tưởng góp phần trực tiếp xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; nâng cao trình độ lãnh đạo và sinh hoạt Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo đi đôi với cá nhân phụ trách; tăng cường tính chiến đấu, kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức; làm cho Quân đội kiên định mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và bảo vệ độc lập chủ quyền của Tổ quốc.

5. Luận án đúc kết được bao nhiêu bài học kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Quân đội giai đoạn 1986 - 1996?

Luận án đúc kết được 4 bài học kinh nghiệm lịch sử: 1) Thường xuyên quán triệt quan điểm, nghị quyết của Đảng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; 2) Bám sát thực tiễn, chủ động đổi mới nội dung, phương pháp công tác tư tưởng, kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức và chính sách; 3) Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng vững vàng; 4) Nâng cao tính chủ động chiến đấu, kiên trì kết hợp "xây" và "chống", lấy "xây" làm chính, phòng chống hiệu quả âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội.

Kết luận

Luận án tiến sĩ lịch sử của tác giả Bùi Lê Phong là một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về sự lãnh đạo của Đảng bộ Quân đội đối với công tác tư tưởng trong giai đoạn bước ngoặt lịch sử 1986 - 1996. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic chặt chẽ, luận án đã làm sáng tỏ các yếu tố tác động, quá trình hoạch định chủ trương và sự chỉ đạo thực tiễn trên 4 mặt công tác tư tưởng chủ chốt, đồng thời đưa ra những đánh giá khách quan về ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân. Bốn bài học kinh nghiệm được đúc kết từ công trình không chỉ có giá trị tổng kết lịch sử Đảng trong quân đội mà còn cung cấp cơ sở luận cứ khoa học quan trọng phục vụ công tác xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị trong tình hình hiện nay.