PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đông Nam Á là khu vực có khí hậu, đất đai rất thích hợp với việc phát triển kinh tế nông nghiệp. Ở vị trí trung tâm của Đông Nam Á, ngöôøi Vieät ñaõ sớm choïn nông nghiệp trồng lúa nƣớc laø ngheà chính và đạt đƣợc trình độ thâm canh rất cao. Cũng chính vì thế, xuyên suốt thời kỳ phong kiến, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn tìm cách để duy trì và phát triển kinh tế nông nghiệp với một loạt những chính sách thể hiện rõ tƣ tƣởng trọng nông nhƣ: “ngụ binh ƣ nông”, “trọng nông ức thƣơng”, “phi nông bất ổn”… Những ngƣời làm nông nghiệp thƣờng đƣợc đề cao, coi trọng: “nhất sĩ, nhì nông”.
Khi thực dân Pháp vào xâm lƣợc nƣớc ta thì nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chiếm ƣu thế tuyệt đối với hơn 90% dân số là nông dân làm nông nghiệp. Ở nƣớc ta, Pháp có phát triển một số ngành công nghiệp nhƣng đó là những ngành công nghiệp nhẹ, chủ yếu để phục vụ cho khai thác nên về cơ bản, mặc dù phƣơng thức sản xuất TBCN đã du nhập vào nƣớc ta nhƣng nền công nghiệp Việt Nam rất yếu ớt và què quặt, kinh tế nƣớc nhà nhìn chung vẫn là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định hƣớng đi chiến lƣợc cho cách mạng Việt Nam là làm xong “cách mạng tƣ sản dân quyền” và “thổ địa cách mạng” sẽ tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN. Nhƣng nền kinh tế của CNXH là một nền “đại công nghiệp” quy mô lớn với năng xuất lao động xã hội cao.
Chính vì thế, chúng ta không thể lấy nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu truyền thống để xây dựng CNXH. Vấn đề quan trọng mà 1 Đảng ta cần giải quyết là làm thế nào để có thể cải biến một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp hiện đại? Sau khi giành đƣợc độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đƣa cả nƣớc quá độ lên CNXH. Để tạo cơ sở vật chất cho việc xây dựng chế độ mới, Đảng đã quyết định cải tạo mạnh mẽ nền kinh tế với 3 trọng tâm: Thứ nhất, xây dựng một nền kinh tế tập trung, bao cấp trên phạm vi cả nƣớc. Thứ hai, thực hiện cải tạo một số thành phần kinh tế cơ bản.
Thứ ba, ƣu tiên phát triển công nghiệp nặng. Thực chất của việc ƣu tiên phát triển công nghiệp nặng chính là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế để tạo ra một nền “đại công nghiệp”. Tuy nhiên, do chúng ta quá độ từ một xuất phát điểm thấp, nền kinh tế lại chƣa tạo dựng đƣợc những cơ sở cơ bản, vững chắc cho việc phát triển công nghiệp nặng nên nƣớc ta lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng KTXH kéo dài. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VI (tháng 12/1986) đã đề ra đƣờng lối đổi mới toàn diện đất nƣớc trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế với 3 nội dung lớn: Thứ nhất là chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN.
Thứ hai là bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lại cơ cấu đầu tƣ. Thứ ba là tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế phát triển một cách bình đẳng, tự do. Với đƣờng lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo Đảng đã huy động đƣợc những tiềm năng, thế mạnh ở trong nƣớc kết hợp với điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển KTXH; đẩy mạnh CNH, HĐH đất nƣớc; nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho nhân dân. Tuy nhiên, vì thực tiễn luôn thay đổi nên mô hình tăng trƣởng nào cũng chỉ phát huy đƣợc tác dụng trong khoảng thời gian nhất định.
Sau một thời gian dài 2 kinh tế nƣớc ta đạt đƣợc tốc độ tăng trƣởng cao và ổn định thì đến những năm đầu thế kỷ XXI, nền kinh tế đã có những dấu hiệu suy yếu, không còn phù hợp với thực tiễn. Trong Văn kiện dự thảo trình Đại hội X, Đảng ta nhận định: “tỷ trọng dịch vụ trong GDP giảm, các loại dịch vụ cao cấp có giá trị tăng thêm lớn chưa phát triển mạnh. Trong nông nghiệp, sản xuất chưa gắn kết có hiệu quả với thị trường; việc đưa khoa học, công nghệ vào sản xuất còn chậm; công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn còn lúng túng. Trong công nghiệp, ít sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao; công nghiệp công nghệ cao phát triển chậm; một số sản phẩm công nghiệp có sản lượng lớn còn mang tính gia công, lắp ráp, giá trị nội địa tăng chậm; công nghiệp bổ trợ kém phát triển; tốc độ đổi mới công nghệ còn chậm”1 Các nhà nghiên cứu, các chuyên gia kinh tế, các chiến lƣợc gia đều hy vọng và có cái nhìn rất lạc quan sau khi nƣớc ta gia nhập WTO năm 2007 và cho rằng: đây là “cơ hội vàng cho kinh tế Việt Nam”; tạo cho nền kinh tế Việt Nam những “cú hích”, những “quả đấm thép”; “giúp nền kinh tế Việt Nam cất cánh”…nhƣng trái ngƣợc với những nhận định trên, sau hội nhập, nền kinh tế nƣớc ta càng bộc lộ nhiều những hạn chế, yếu kém nhƣ: Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân, của các doanh nghiệp còn thấp.
Lợi thế cạnh tranh chậm đƣợc cải thiện và phát huy. Đầu tƣ nhà nƣớc dàn trải, kém hiệu quả, thất thoát lớn. Thu hút công nghệ hiện đại và chuyển giao công nghệ còn chậm. Tín dụng tăng mạnh và bành trƣớng đầu tƣ kéo dài đã khuyến khích đầu cơ đất đai, tài chính ngân hàng.đẩy nƣớc ta rơi vào nền “kinh tế bong bóng”, gây mất ổn định vĩ mô.
Mô hình tăng trƣởng chủ yếu là dựa vào khai thác tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất đai và lao động giá rẻ, chất lƣợng thấp. Chính vì thế, nhu cầu tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trƣởng là một vấn đề bức bách đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm đặc biệt trong những năm gần đây. Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã định hƣớng cho việc chuyển đổi mô hình tăng 1 Văn kiện dự thảo trình bày tại Đại hội X, tháng 9/2005 3 trƣởng, tái cơ cấu lại nền kinh tế ở nƣớc ta trong giai đoạn từ 1911 đến 1920 nhƣ sau: “Lấy cơ cấu lại nền kinh tế làm khuôn khổ chung, lấy liên kết vùng làm trọng điểm, lấy xác định các ngành, sản phẩm, lĩnh vực có hiệu quả cao, đóng góp lớn và sức lan tỏa rộng trong nền kinh tế, nhất là các ngành dựa trên công nghệ và tri thức tiên tiến làm khâu đột phá. Đồng thời, Đảng cũng quán triệt quan điểm chỉ đạo: Thực hiện tăng trưởng hợp lý, bền vững, ưu tiên chất lượng tăng trưởng; gắn cơ cấu lại nền kinh tế với ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội, các giải pháp ngắn hạn, trước mắt, tình thế với các giải pháp trung, dài hạn, mang tính chiến lược; cơ cấu lại nền kinh tế không tách rời với tích cực và chủ động hội nhập quốc tế; gắn cơ cấu lại nền kinh tế với đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên và môi trường; tiến hành cơ cấu lại kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng vừa đồng bộ, tuần tự từng bước, vừa có những bước đột phá, vượt trước.”2 Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học công nghệ và giao dịch quốc tế của cả nƣớc; là nơi có vị trí địa lý thuận lợi, hội tụ nhiều tiềm năng cho sự phát triển nên đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm đầu tƣ xây dựng thành một đô thị hiện đại ở khu vực Đông Nam Á vào năm 2020.
Do nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trƣởng đối với sự phát triển của Thành phố, Đảng bộ Thành phố đã phát huy truyền thống năng động, sáng tạo của nhân dân, đồng thời đẩy mạnh khai thác tiềm năng, thế mạnh của thành phố, kết hợp với điều kiện quốc tế thuận lợi nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng hiện đại. Đại hội IX của Đảng bộ thành phố đã định hƣớng cho việc cơ cấu lại nền kinh tế của thành phố đến năm 2020 nhƣ sau : “…nâng cao chất lượng tăng trưởng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh. Chuyển từ nền kinh tế phát triển theo chiều rộng, tăng quy mô và thâm dụng lao động là chủ yếu sang phát triển theo chiều sâu, lấy chất lượng tăng trưởng là động lực chủ yếu để phát triển các 2 ĐCSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, tháng 01 năm 2011 4 ngành, lĩnh vực có hàm lượng khoa học, công nghệ và giá trị gia tăng cao, ít gây ô nhiễm môi trường, hướng tới phát triển kinh tế tri thức; tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào sự gia tăng chất lượng các yếu tố đầu vào”3. Là một quận nằm gần trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều điều kiện thuận lợi để trở thành động lực mới cho sự phát triển của thành phố nên ngay từ khi thành lập quận vào năm 1997, Đảng bộ Thành phố đã quy hoạch để đƣa Quận 2 thành một quận trung tâm, là một đô thị văn minh, hiện đại của Thành phố.
Để đƣa một vùng đất thuần nông trở thành một đô thị hiện đại trong thời gian ngắn thì vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trƣởng trên địa bàn quận là vấn đề cấp thiết. Trƣớc đây, khi nhắc đến Quận 2 chúng ta thƣờng nghĩ đến một vùng chiêm trũng với kinh tế nông nghiệp là chủ yếu: những cánh đồng lúa bất tận, những đầm sen rộng mênh mông để lấy ngó, những rặng dừa nƣớc sum sê bên cạnh hệ thống kênh rạch chằng chịt. Vậy mà chỉ hơn 10 năm trở lại đây, quận đã có một bộ mặt hoàn toàn mới. Ngày nay, ngƣời ta biết đến Quận 2 nhƣ là một địa bàn có tốc độ tăng trƣởng kinh tế cao, là nơi mà quá trình đô thị hóa diễn ra thuộc hàng nhanh nhất tại TP.