CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU; CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CHUYEN DỊCH CƠ CÁU NGÀNH KINH TE 1. Tống quan tình hình nghiên cứu Cơ cấu kinh tế và chuyền dịch cơ cấu kinh tế dang là van đề thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Những nghiên cứu trong thời gian gần đây của các nhà khoa học đã và đang đóng góp những kết quả nhất định vào sự phát triển kinh tế xã hội từng vùng, từng khu vực trên phạm vi lãnh thổ quốc gia. Ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về cơ cấu kinh tế và chuyền dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Một số công trình nghiên cứu nỗi bật như: “Những vấn đề chủ yếu về kinh tế phát triển ”, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2005 của tác giả Ngô Doãn Vịnh: Tác giả đã trình bày một cách tổng quát cả lý luận và thực tiễn về cơ cấu của nền kinh tế; phân tích khái quát cơ cấu kinh tế Việt Nam trong thời gian trước năm 2005 và đưa ra một số hàm ý cho việc nghiên cứu hình thành cơ cấu kinh tế Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa. “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, H. 2006, chủ biên Bui Tat Thắng: Các tác giả đã tong quan một số vấn đề lý luận về cơ cầu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, làm rõ khái niệm cơ cau kinh tế, chuyền dich cơ cấu ngành kinh tế và những chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Bên cạnh đó, sự phân tích của các tác giả về các nhân tố tác động đến chính sách thúc đầy quá trình chuyền dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa nước ta như: các nhân tố về môi trường kinh tế quốc tế, lợi thế so sánh, sự hình thành cơ chế thị trường, các chức năng kinh tế của nhà nước.
đã bổ sung những van dé lý luận về các nhân tố tác động đến chuyền địch cơ cấu kinh tế. “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nên kinh tế quốc dân”, NXB Chính trị quốc gia, 1994, tập 2, chủ biên Ngô Đình Giao. Trong đó, các tác giả đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và sự cần thiết của chuyên dich cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa — hiện đại hóa, đề xuất phương hướng và biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam. Những vấn đề lý luận về cơ cấu kinh tế, các khía cạnh biểu hiện và quá trình chuyển dich cơ cấu kinh tế được các tác giả làm sáng tỏ một cách hệ thống.
“Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và phát triển các ngành kinh tế trọng điểm mũi nhọn Việt Nam”, NXB khoa học xã hội, 1996, chủ biên Đỗ Hoài Nam. Tác giả đi sâu phân tích quan niệm về chuyền dịch cơ cấu kinh tế trong bối cảnh mới của thời đại; yêu cầu và những yếu tố ảnh hưởng đến việc rút ngắn quá trình công nghiệp hóa- hiện đại và chuyền dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả. Ở Hà Nội, cơ cấu kinh tế là vấn đề được lãnh đạo thành phố quan tâm. Một số công trình nghiên cứu về cơ cấu kinh tế dưới dé tài nghiên cứu khoa học cấp Thành phố như: “Nghiên cứu động thái của cơ cấu kinh té Thủ đô giải đoạn 1991 - 1998 và kiến nghị về các phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô giai đoạn 2000 - 2005”, chủ trì đề tài Lê Văn Hoạt.
Đề tài “Những luận cứ khoa học thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô giai đoạn 2006 - 2010”, chủ tri đề tài Nghiêm Xuân Dat. Đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, viết về lĩnh vực này và đã bảo vệ thành công như: Đào Thị Vân, “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH giải đoạn 1997 - 2003”. Nghiên cứu về day mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của tác giả Trần Tuấn Anh với đề tài “Phuong hướng chuyến dịch cơ cấu ngành kinh tế tinh Tra Vinh đến hết năm 2015” năm 2007, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử Đảng, đã bảo vệ thành công tại Đại học Quốc Gia, Hà Nội, năm 2004; Nguyễn Ngọc Thanh, “Đảng bộ huyện Gia Lâm (Hà Nội) lãnh đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế (1991 - 2000)”, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử Đảng, đã bảo vệ thành công tại Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2004; Đặng Thị Kim Oanh, “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2003”.
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử Đảng, bảo vệ thành công tại Đại học quốc gia, Hà Nội, năm 2005. Qua các công trình nghiên cứu nêu trên có thể thấy: các nghiên cứu về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như chuyển dich cơ cấu ngành kinh tế nêu trên đều đạt được những kết quả nghiên cứu chủ yếu là: - Hệ thống hóa các lý luận về cơ cầu kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, chuyền dịch cơ cấu kinh tế. - Chuyển dich cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, những yêu cầu và nội dung của chuyền dịch cơ cấu kinh tế theo điều kiện thực tế của Việt Nam. - Một số mô hình chuyền dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam trong những năm đổi mới.
- Đánh giá cơ chế tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô đối với chuyền dịch cơ cấu kinh tế - Phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp thúc day chuyền dịch cơ cấu kinh tế hợp lý. Các đề tài trên đã tập trung nghiên cứu về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, tuy nhiên ở các mức độ khác nhau và ở từng thời điểm khác nhau trong bối cảnh nước ta đang trong thời kỳ đầu của hội nhập kinh tế quốc tế và nghiên cứu ở tam vĩ mô cấp Thành phó, Trung ương. Các nghiên cứu chưa đề cập sâu về các giải pháp đẩy mạnh chuyên dịch cơ cấu ngành kinh tế của một quận ở cửa ngõ Thủ đô có nhiều tiềm năng lợi thế và trong thời kỳ hội nhập sâu rộng, toàn diện là quận Long Biên. Chính vì lý do đó đã thôi thúc tác giả lựa chọn đề tài “Chuyền dịch cơ cấu ngành kinh tế tại quận Long Biên, thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị của mình.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 1. Cơ cau kinh tế và cơ cấu ngành kinh tế 1. Cơ cau kinh tế Cơ cấu (hay kết cấu) là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng dé chi cách thức tô chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể, nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng, và biến đổi cùng với sự biến đổi sự vật hiện tượng.
Như vậy, có thê thấy có rất nhiều trình độ, nhiều kiểu tổ chức cơ cấu của các khách thé và các hệ thống. Cũng như vậy, đối với nền kinh tế quốc dân, khi xem nó là một hệ thống phức tap thì có thé thấy rất nhiều các bộ phận và các kiểu cơ cấu hợp thành chúng, tuỳ theo cách mà chúng ta tiếp cận khi nghiên cứu hệ thống ấy. Đặc biệt, sự vận động và phát triển của nền kinh tế theo thời gian bao ham trong đó sự thay đổi ban thân các bộ phận cũng như sự thay đổi của các kiểu cơ cấu. Vi vậy có thé thấy rằng, “cơ cầu của nền kinh tế quốc dân là tổng thể những mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành đó trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định” (Vũ Tuấn Anh, 1982, tr18) Mỗi một loại cơ cấu phản ánh những nét đặc trưng của các bộ phận và các cách mà chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân.
Chẳng hạn, trên bình điện vĩ mô, có một số loại cơ cấu sau: + Cơ cấu các quan hệ sản xuất trong nền kinh tế: Loại cơ cấu nay phản ánh các mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất xã hội, trong đó nỗi bật lên hàng dau là quan hệ về sở hữu đối với các tư liệu sản xuất. Xã hội loài người đã từng phát triển qua các hình thái kinh tế - xã hội lần lượt từ thấp đến cao và trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có các cơ cấu quan hệ sản xuất khác nhau. Ở một số nước, những hình thức sở hữu sở hữu cổ xưa không còn nữa; ở một số nước khác, do những hoàn cảnh lịch sử khác, sự đan xen của nhiều loại hình sở hữu cùng tồn tại. Các mối quan hệ này biểu hiện ra bên ngoài bề mặt xã hội với tư cách là các thành phần kinh tế khác nhau.
Do vậy, ngời ta còn gọi cơ cấu các quan hệ sản xuất là cơ cấu các thành phần khác nhau của nền kinh tế quốc dân. Nghiên cứu cơ cầu các quan hệ sản xuất của nền kinh tế quốc dân sẽ cho thấy các xu huớng vận động của từng loại thành phần kinh tế trong quá trình phát triển nền sản xuất xã hội. + Cơ cấu tái sản xuất xã hội: Loại cơ cấu này phản ánh mối quan hệ của các bộ phận cấu thành quá trình tái sản xuất xã hội, bao gồm nhiều yếu tố, nhiều quá trình. Đó là các mối quan hệ của: - Các yếu tố đầu vào (input) của sản xuất: sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu lao động; - Các khâu trong vòng tuần hoàn: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng.
Nếu cơ cấu các quan hệ sản xuất phản ánh mặt xã hội, thì cơ cấu tái sản xuất phản ánh mặt vật chất, kỹ thuật của quá trình hoạt động kinh tế. Và nếu giả định rằng trong những điều kiện xã hội về cơ bản là như nhau thì cơ cấu tái sản xuất (với chất lượng và số lượng của các yếu tố sản xuất hay các khâu của chu trình sản xuất) sẽ quyết định tốc độ tăng trởng kinh tế.