Chương 1: Cơ sở lý luận về lạm phát 2 Chương 2 : Phân tích diễn biến lạm phát trong nền kinh tế hội nhập tại Việt Nam Chương 3: Áp dụng mô hình kinh tế lượng phân tích một số nhân tố ảnh hưởng lạm phát Việt nam Chương 4: Một số giải pháp nhằm ổn định lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại Việt nam Những đóng góp của luận văn. Tổng hợp và hệ thống hoá cơ sở lý thuyết về lạm phát. Tìm hiểu những nguyên nhân gây lạm phát và đánh giá hoạt động chính sách kinh tế vĩ mô nhằm kiểm soát lạm phát ở nước ta trong một số giai đoạn lạm phát biến động bất thường tại Việt Nam ở thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế mà tập trung chủ yếu vào các giai đoạn 1999-2001 và 2004 - 2007. Áp dụng mô hình kinh tế lượng phân tích một số nhân tố ành hưởng tới lạm phát tại Việt Nam 4.
Đề xuất được một số giải pháp chính sách kìm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên luận án không tránh được những sai sót, bởi vậy em rất mong được sự góp ý của các thầy cô để hoàn thiện. Nhân đây em xin chân thành cảm ơn Viện Đào tạo Sau đại học - Đại học Kinh tế quốc dân, Khoa Kinh tế học, Bộ môn Kinh tế vĩ mô đã tạo điều kiện thuận lợi cho em. Em xin cảm ơn PGS.TS Hoàng Yến đã nhiệt tình hướng dẫn đế em hoàn thành nghiên cứu này.
3 CHƯƠNG 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VÈ LẠM PHÁT 1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT 1. Khái niệm về lạm phát Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phổ biến nhưng việc định nghĩa về lạm phát thì không đơn giản, về mặt lịch sử thì lạm phát là hiện tượng xuất hiện đồng hành với sự ra đời của tiền tệ hoặc những vật dụng có tính chất như tiền xuất hiện trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Lạm phát từng xảy ra trước cả khi tiền pháp định (tiền do Nhà nước phát hành) được sử dụng rộng rãi.
Nó không phải là hiện tượng “riêng có” của hệ thống tiền pháp định tức là nó có thể không liên quan đến việc lạm dụng chức năng phát hành tiền của Ngân hàng Trung ương. Trước khi có sự xuất hiện của hệ thống tiền pháp định thì người ta đã thấy có lạm phát xảy ra với biểu hiện là sự tăng giá cả của hàng hoá và dịch vụ sinh hoạt so với những vật trao đổi có tính chất tương tự tiền trong lưu thông trong một thời kỳ nhất định. Theo nhà kinh tế học Samuelson thì “lạm phát biểu thị sự tăng lên của mức giả chung và lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi p h í tăng lên Mức giá chung được hiểu theo hai cách đó là mức giá của giỏ hàng hoá hoặc mức giá là thước đo giá trị của tiền. Khi mức giá tăng, người dân phải trả nhiều tiền hơn cho những hàng hoá và dịch vụ mà họ mua, nói một cách khác giá trị của tiền giảm hay đó chính là sự giảm sức mua của đồng tiền.
Đại diện xuất sắc của phái tiền tề, M. Friedman cho rằng “Lạm phát là một điều kiện trong đó có sự dư cầu nói chung tức là lượng tiền trong nền kinh tế quả nhiều để theo đuổi một khổi lượng hàng hoá có hạn ” hay “Lạm 4 phát bao giờ và ở đâu cũng là hiện tượng tiên tệ. và nó chỉ có thê xuât hiện một khi lượng tiền tăng nhanh hơn sản lượng”1. Quan điểm của M.
Friedman được sự tán thành của đa số các nhà kinh tế học thuộc phái tiên tệ và cả trường phái Keynes. Holzmann cho rằng lạm phát là lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền được đo lường bởi tỷ giá hối đoái, bởi giá vàng. Cách đê cập này xét lạm phát của một loại tiên tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu. Lạm phát được đo lường bởi sự biến động trong tỷ giá hối đoái, một phưomg pháp thích họp cho nền kinh tế mở dưới các điều kiện nhất định.
Lạm phát được thừa nhận theo các cách định nghĩa như trên nhưng nhìn chung, lạm phát được chấp nhận rộng rãi là sự gia tăng liên tục của mức giá chung. Khi xác định nền kinh tế có lạm phát hay không, người ta quan tâm đến xu hướng tăng giá chung chứ không phải dao động đột ngột trong mức giá chung. Các phương pháp đo lường lạm phát Để đo lường mức độ lạm phát trong nền kinh tế người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đổi của mức giá chung: pt _ p t-l r ì= ------------------ X 1 0 0 % p t-1 Trong đó: tỷ lệ lạm phát của thời kỳ t mức giá chung của thời kỳ t mức giá chung của thời kỳ t- 1 1 F rie d m a n , 1 9 7 0 :2 4 5 Hiện nay, hai chỉ số giá thông dụng nhất hay được sử dụng để đo lường mức giá chung, đó là chỉ số giá tiêu dùng (CPI - Comsumer Price Index) và chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator). Ngoài ra, ứng với mỗi mục đích cụ thể của các hoạt động nghiên cứu thì người ta còn sử dụng các chỉ số khác để phản ánh mức giá như là chỉ số giá sản xuất (PPI), chỉ số giá bán buôn, chỉ số giá bán lẻ , chỉ sổ lạm phát cơ bản.
Chỉ số giá tiêu dùng - CPI Chỉ sổ giá tiêu dùng là chỉ tiêu phản ánh xu hướng và mức độ biến động giá của "rổ" hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng đại diện, khi giá của các mặt hàng, nhóm hàng trong "rổ" có thay đổi. Chỉ sổ giá tiêu dùng là số tương đổi so sánh mức độ biến động giá của các mặt hàng đại diện trong kỳ báo cáo so với kỳ gốc Do vậy, chỉ số giá tiêu dùng không phản ánh mức giá của giỏ hàng hoá và dịch vụ mà đo lường mức độ biến động giá giữa hai khoảng thời gian. Giá của giỏ hàng hoá của kỳ gốc được quy định là 100 và giá của các kỳ khác được biểu hiện so với giá của kỳ gốc. Ví dụ: Chỉ sổ gía tháng 4/2003 so tháng 3/2003 của nhóm hàng "Thiết bị đồ dùng gia đình " là 100,5 và Chỉ số gía nhóm hàng "Dược phẩm,Y tế" là 101,3 không có nghĩa là "hàng y tế "đắt hơn "thiết bị đồ dùng gia đình" mà chỉ là : so với tháng 3, gía các mặt hàng y tế tăng hơn giá các mặt hàng thiết bị đồ dùng gia đình.
Chỉ số giá tiêu dùng được sử dụng để theo dõi sự thay đổi của chi phí sinh hoạt tức là chi phí mà người tiêu dùng mua hàng hoá hoặc chi trả cho các dịch vụ phục vụ trực tiếp cho đời sống hàng ngày theo thời gian. Do vậy, trong thống kê người ta thường cố gắng tính tất cả các loại hàng hoá và dịch vụ mà người tiêu dùng điển hình mua và tìm cách gắn quyền số cho mỗi nhóm hàng hoá và dịch vụ chủ yếu. Đối với mỗi biến động của chỉ số giá tiêu 6 dùng thì người ta có thể thấy các hộ gia đình phải chi tiêu nhiều hoặc ít hơn để duy trì mức sống như cũ. Hiện nay, chỉ số giá tiêu dùng được tính hàng tháng, cho 3 gốc: tháng trước, cùng kỳ năm trước và tháng 12 năm trước.
Ở Việt Nam, chỉ số giá tiêu dùng được tính bằng phương pháp bình quân gia quyền giữa biến động giá của mỗi nhóm hàng hoá với quyền số là tỷ trọng mức tiêu dùng tương ứng của chúng trong tổng mức chi tiêu dùng cho đời sống hàng ngày của người dân (Tỷ trọng này dựa trên kết quả điều tra mức sống hộ gia đình do Tổng cục Thống kê tiến hành). Công thức tính chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam được áp dụng theo thông lệ quốc tế theo công thức Laspeyres như sau: í C PI " ° Trong đó: C P I ‘^ ° : chỉ số giá tiêu dùng kỳ báo cáo t so với kỳ gốc 0 Pi : giá mặt hàng i kỳ báo cáo t; p ữ t là giá mặt hàng i kỳ gốc 0 Wi : tỷ trọng hàng tiêu dùng thứ i trong tông sô hàng tiêu dùng cố định năm 2005 Rổ hàng hoá đại diện bao gồm 494 mặt hàng và dịch vụ thiết yếu được chia thành 10 nhóm với tỷ trọng riêng cho từng nhóm mà đi đầu là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống chiếm tới 42,85% chi tiêu của các hộ gia đình. Đứng thứ hai trong là nhóm nhà ở, điện nước và VLXD chiếm tới 9,99%.1 Tỷ trọng các nhóm hàng tiêu dùng tính CPI của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 TT Các nhóm hàng và dịch vụ Tỷ trọng (%) Tổng chi dùng 100,00 I Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 42,85 Trong đó: 1. Thực phẩm 25,20 II Đồ uống và thuốc lá 4,56 III May mặc, mũ nón, giầy dép 7,21 IV Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD 9,99 V Thiết bị và đồ dùng gia đình 8,62 VI Thuốc và dịch vụ y tế 5,42 VII Giao thông, bưu chính viễn thông 9,04 VIII Giáo dục 5,41 IX Văn hoá, giải trí và du lịch 3,59 X Hàng hoá và dịch vụ khác 3,31 Nguồn: Tổng cục Thống kê Chỉ số giá tiêu dùng bỏ qua sự thay đổi giá cả của hàng đầu tư và hàng hoá do chính phủ mua vào do vậy chỉ số giá tiêu dùng không thể phản ánh được chân thực về giá của một đơn vị GDP điển hình.
CPI chỉ phản ánh giá cả hàng tiêu dùng của các hộ gia đình trong một khoảng thời gian. Một nhược điểm khác của CPI là gắn tỷ trọng ở kỳ gốc cho mỗi nhóm hàng nên nó bỏ qua khả năng thay thế giữa các sản phẩm mà điều này rất 8 quan trọng nếu người tiêu dùng có thể thay thế loại hàng có giá tăng nhiều để chuyển sang sản phẩm có mức giá tăng ít hon. Do đó, CPI có xu hướng đánh giá quá cao mức độ lạm phát thực trong nền kinh tế. Chính vì vậy, người ta thường xuyên khảo sát để điều chỉnh tỷ trọng cho mỗi nhóm hàng trong rổ hàng hóa cho phù họp với thực tế trong một khoảng thời gian.
Hàng hóa và dịch vụ Văn hoá, giải trí và khác du lịch 3.41% Giao thông, bưu chính viễn thông 9.04% Hàng ăn và dịch vụ ăn uống Thuốc và dịch vụ y 42.42% Thiết bị và đồ dùng gia đình 8.62% Nhà ờ, điện, nước, chất đốt và VLXD 9.99% Đồ uống và thuốc lá May mặc, mũ nón, 4.