chương 1 Dự thảo mà quy định trong các nội dung tương ứng tại các chương cụ thể. Về giải thích từ ngữ tại Điều 3 So với 29 từ ngữ được giải thích tại Điều 3 Luật BVMT năm 2014, Điều 3 Dự thảo giải thích 46 từ ngữ. Trong 46 từ ngữ này, có 25 từ ngữ đã được quy định tại Điều 3 Luật BVMT 2014 (có thể có sửa đổi nội dung), 04 thuật ngữ được đưa từ các định nghĩa đã được quy định tại các văn bản hướng dẫn thi hành, 17 từ ngữ mới. Việc bổ sung việc giải thích các thuật ngữ mới phản ánh sự mở rộng nội dung điều chỉnh của Dự thảo.
Thông qua việc bổ sung việc giải thích các từ ngữ mới có thé thay Du thao đã mở rộng nội ham của phạm vi điều chỉnh hơn so với Luật BVMT 2014 ví dụ như đối với các lĩnh vực kinh tế xanh, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên. Tuy nhiên, cũng cần xem lại một số định nghĩa được quy định tại Điều 3 gồm: Khoản 3: thuật ngữ “hoạt động bảo vệ môi trường” cần thêm “khai thác, sử dụng hợp lý, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.” thay vì chỉ có “sử dụng hợp lý bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.” vì khai thác tài nguyên thiên nhiên là một trong những hoạt động rat cân được kiêm soát dé bảo vệ môi trường chứ không chi có việc sử 15 dụng tài nguyên thiên nhiên. Rất nhiều chủ thê khai thác tài nguyên nhưng không sử dụng tài nguyên. Khoản 6 quy định về “ô nhiễm môi trường” nên thay từ “và” bằng từ “hoặc” và thêm cụ từ “bắt buộc áp dụng” sau cụm từ “tiêu chuẩn môi trường”.
Cụ thé dự thảo giải thích: “O nhiễm môi trường là sự biến đối các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật và tự nhiên”. Kiến nghị sửa là “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường hoặc tiêu chuẩn môi trường bắt buộc áp dụng gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật và tự nhiên”. Về các Nguyên tắc bảo vệ môi trường tại Điều 4 Các nguyên tắc BVMT được quy định tại Điều 4 Dự thảo được quy định trên cơ sở các nguyên tắc BVMT đã được quy định tại Điều 4 Luật BVMT 2014 và có thê nói là đã viết cô đọng, xúc tích và rõ ràng hơn. Điều 4 Dự thảo có đưa ra 01 nguyên tắc mới tại khoản 2: “Môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tổ tiên quyết cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và được đặt ở vị trí trung tâm của các quyết định phát triển; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; thực hiện sàng lọc, lựa chọn đầu tư phát triển dựa trên các tiêu chí về môi trường”. Nguyên tắc này đã xác định tầm quan trọng “đặc biệt” của môi trường và BVMT đối với phát triển kinh tế. Nguyên tắc này giải thích rõ hơn quan điểm phát triển bèn vững, quan điểm dé giải quyết mối quan hệ giữa môi trường và phát triển, chống lại xu thế coi nặng van dé phát triển mà có thể bỏ qua van đề môi trường và BVMT hiện nay. Đây là cơ sở để hình thành các cơ chế, chính sách và quy định mới mang tính đột phá, tạo nền tảng pháp lý cho việc hình thành và phát triển các mô hình tăng trưởng bền vững thông qua việc đây mạnh kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế phát thải ít các-bon.
Về Chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường (Điêu 5) Điều 5 Dự thảo bé sung thêm 02 chính sách gồm: 12. Thực hiện sàng lọc dự án đầu tư dựa trên các tiêu chí về môi trường, quản lý môi trường liên thông các giai đoạn từ quy hoạch, chủ trương đến xây dựng và thực hiện dự án. Lồng ghép và thúc đây các mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp trong việc xây dựng và thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, 16 chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội. Việc bổ sung các chính sách này phù hợp với các nguyên tắc được quy định tại Điều 4 Dự thảo và việc mở rộng nội hàm của phạm vi điều chỉnh của Dự thảo.
Những hành vì bị nghiêm cắm (Điều 6 Dự thảo) So với các hành vi bị nghiêm cam quy dinh tai Điều 7 Luật BVMT 2014, Điều 6 Dự thảo đã tập trung vào các hành vi thuộc lĩnh vực BVMT, đã loại bỏ những hành vi đã bi cắm đã được quy định trong các văn bản luật khác (các luật về tài nguyên) và đã chuyển một số hành vi bị cắm trong các quy định cụ thé để quy định trong điều này, ví dụ: Nhập khẩu trái phép phương tiện, may móc, thiết bị đã qua sử dung dé phá đỡ, tái chế (quy định tại Điều 75 Luật BVMT 2014), Tuy nhiên, Điều 6 mới chỉ quy định những hành vi bị nghiêm cam đối với các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc sinh hoạt, mà chưa có những quy định “Cam” trong lĩnh vực quản lý nhà nước về môi trường. Cần bổ sung nhiều quy định cắm trong lĩnh vực quản lý nhà nước, như: Cam lợi dụng chức vụ, quyến han dé làm sai lệch quy hoạch MT, cam trục lợi trong phê duyệt báo cáo DTM vv. 17 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường;.
Hiễn pháp năm 2013; NCa¬%ĐK2nI®. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005;. Luật Bao vệ môi trường nam 2014;. Luật Biển Việt Nam năm 2012;.
Luật Hàng không dân dụng năm 2006;. Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đôi;. Trần Hữu Duy Minh, Các vùng trời: Vùng trời quốc gia, không phân quốc tế, vùng thông bao bay (FIR) va vùng nhận dạng phòng không (ADIZ), Bài trình bày tại Hội thảo khoa học “Những vấn dé pháp lý và thực tiễn về vùng nhận dạng phòng không trong luật quốc tế”, do Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức, Hà Nội, ngày 17/5/2017. 18 Chuyên đề 3 QUY ĐỊNH VE UNG PHO VỚI BIEN DOI KHÍ HẬU VÀ KIÊN NGHỊ HOÀN THIỆN TS.
Tran Lệ Thu Trường Dai học Tài nguyên và Moi trường Ha Nội Email: tomphuongthao@gmail.com Điện thoại: 0902210733 Tóm tắt Ứng phó với biến đổi khí hậu hiện nay không còn là van đề quốc gia mà là van đề toàn cầu. đặt ra nhu cầu bức thiết là phải tìm cho được giải pháp thích hợp dé thích ứng, giảm nhẹ những biến đổi khí hậu (BDKH) Trong những năm gần đây, Việt Nam là quốc gia có sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế-xã hội, nhưng đồng thời cũng là một trong những quốc gia dễ, đang va sẽ tiếp tục bị ton thương nhất trước tác động của BĐKH. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đã được ban hành và điều chỉnh về ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cau phát triển kinh tế - xã hội trong nước và quá trình hội nhập quốc tế.
Từ khóa: Ứng phó với biến đổi khí hậu, kiến nghị hoàn thiện I. Khái niệm ứng phó với biến đối khí hậu: Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu (BĐKH). Thích ứng là một khái niệm rất rộng và khi áp dụng vào lĩnh vực BDKH nó được dùng trong rất nhiều trường hợp và được khái niệm khác nhau: - Theo Ủy ban Liên chính phủ về Biến đối khí hậu (IPCC) cho rang: Khả năng thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động, xử lý, cau trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thé xảy ra hay thực sự đã va đang xảy ra của khí hậu. Sự thích ứng có thé là tự phát hay được chuẩn bị trước.
Như vậy, ở đây van đề thích ứng được nói đến chính là mức độ điều chỉnh với biến đổi cả về tính tự phát hay chuẩn bị trước. - Nghiên cứu của Burton (1998) lại cho rang: Thích ứng với khí hậu là một quá trình mà con người làm giảm những tác động bât lợi của khí hậu đên sức khỏe, đời 19 sống và sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại. Ở đây thích ứng là làm thé nào giảm nhẹ tác động BDKH, tận dụng những thuận lợi nếu có thể. - Theo Thomas (2007) lại cho rằng: Thích ứng có nghĩa là điều chỉnh hoặc thụ động, hoặc phản ứng tích cực, hoặc có phòng bị trước, được đưa ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH.
Như vậy, thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị ton thương do dao động và BDKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại. Thích ứng với khí hậu hiện nay không đồng nghĩa với thích nghi BDKH trong tương lai. Tóm lại: Dé thích ứng với BDKH cần hiểu rõ khái niệm thích ứng, đánh giá các công nghệ và biện pháp khác nhau nhăm phòng tránh những hậu quả bất lợi của BDKH băng cách ngăn chặn hoặc hạn chế chúng, bang cách nhanh chóng tạo ra một sự thích ứng với BĐKH và phục hồi có hiệu quả sau những tác động hoặc băng cách lợi dụng những tác động tích cực. Khí hậu đã và đang biến đổi và có những tác động tiềm tàng, bất lợi đến phát triển, vì thế thích ứng với BĐKH trở nên ngày càng quan trọng.
Thực trạng biến đối khí hậu ở VN Việt Nam là quốc gia có sự tăng trưởng nhanh chóng trong lĩnh vực kinh tế-xã hội, nhưng đồng thời cũng là một trong những quốc gia dé bị tổn thương nhất trước tác động của BDKH, bao gồm nước biến dâng, hạn han gia tăng về thời gian cũng như cường độ, lũ lụt và bão nhiệt đới.