CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG TRONG KIỂM TOÁN BCTC 1.1 Tổng quan về kiểm toán BCTC 1. Khái niệm kiểm toán BCTC “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các KTV đủ năng lực và độc lập”. Căn cứ theo mục đích kiểm toán thì kiểm toán được chia thành: Kiểm toán hoạt động, Kiểm toán tuân thủ và Kiểm toán BCTC.
Trong đó, kiểm toán báo cáo tài chính là một hoạt động đặc trưng của kiểm toán, với mục tiêu cụ thể là“đưa ra ý kiến xác nhận rằng Báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan, có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không” Đối tượng trực tiếp của kiểm toán Báo cáo tài chính là các Bảng khai tài chính, Báo cáo tài chính được định nghĩa trong Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 300(Ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính) như sau: “Báo cáo tài chính là hệ thống các báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tinh kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị. Mục tiêu …… Kiểm toán BCTC nhằm hướng đến hai mục tiêu: Làm cơ sở giúp KTV đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không? Làm cơ sở giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị [4]. Vai trò Đối với đơn vị được kiểm toán, kiểm toán BCTC góp phần nâng cao độ tin cậy BCTC của đơn vị và nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị. Phạm Thị Thu An 5 2021 Khóa luận tốt nghiệp BCTC là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận nhằm trình bày bức tranh thông tin về kế toán tài chính chủ yếu của đơn vị.
Việc lập BCTC là trách nhiệm của đơn vị. Kiểm toán BCTC được thực hiện bởi các KTV đủ năng lực và độc lập nhằm đưa ra ý kiến về BCTC. Do đó, báo cáo kiểm toán chấp nhận toàn phần sẽ góp phần nâng cao độ tin cậy của thông tin trên BCTC. Trong quá trình kiểm toán, KTV cũng sẽ phát hiện những thiếu sót, những điểm tồn tại của bộ máy kế toán tài chính của đơn vị.
Từ đó, kiểm toán viên sẽ góp ý nhằm hoàn thiện bộ máy này nhằm nâng cao chất lượng thông tin kế toán tài chính của đơn vị. Đối với người sử dụng thông tin, kiểm toán BCTC là căn cứ quan trọng để những người sử dụng thông tin BCTC có thể đưa ra các quyết định kinh tế chính xác. Dựa vào BCTC đơn vị, các đối tượng sử dụng thông tin tài chính của đơn vị như chủ nợ, ngân hàng, nhà đầu tư, cơ quan chức năng. đưa ra các quyết định kinh tế quan trọng như tiếp tục cho vay vốn, mua cổ phiếu, thu thuế.
Đối với tổng thể nền kinh tế, kiểm toán BCTC góp phần củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động kế toán tài chính nói riêng và quản lý kinh tế nói chung. Hoạt động kế toán tài chính bao gồm rất nhiều mối quan hệ kinh tế đa dạng và phức tạp, thường xuyên biến đổi và cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể. Để hướng các nghiệp vụ này theo các chuẩn mực và quy định hiện hành, ngoài việc định hướng và thực hiện tốt các định hướng thì cần phải thường xuyên thực hiện việc soát xét quá trình thực hiện để hướng các nghiệp vụ vào quỹ đạo mong muốn. Khái quát về một qui trình kiểm toán BCTC Quy trình kiểm toán BCTC có thể phân thành ba giai đoạn chính là chuẩn bị, thực hiện và hoàn thành kiểm toán: Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán bao gồm: -Tiền kế hoạch là quá trình kiểm toán tiếp cận với khách hàng nhằm thu thập những thông tin cần thiết nhằm giúp cho họ hiểu về nhu cầu của khách hàng, đánh giá khả năng phục vụ.
Theo đó, hai bên ký hợp đồng kiểm toán hoặc thư cam kết kiểm toán. -Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm thu thập thông tin về đặc điểm hoạt động kinh doanh, tìm hiểu HTKSNB, đánh giá rủi ro, xác lập mức trọng yếu. để lập kế Phạm Thị Thu An 6 2021 Khóa luận tốt nghiệp hoạch và chương trình kiểm toán, nhờ đó sẽ nâng cao tính hữu hiệu và hiệu quả của cuộc kiểm toán. - Ở giai đoạn này, chủ yếu công ty kiểm toán thực hiện tìm hiểu thông tin và đánh giá khách hàng cũng như tầm quan trọng và tính chất của một thông tin cần thu thập khi thực hiện kiểm toán tại công ty khách hàng, do vậy kĩ thuật Quan Sát và Xác nhận được vận dụng nhiều trong giai đoạn này.
Giai đoạn thực hiện kiểm toán là quá trình thực hiện kế hoạch và chương trình kiểm toán nhằm thu thập những bằng chứng đầy đủ và thích hợp nhằm làm cơ sở cho ý kiến nhận xét của KTV. Phương pháp được KTV sử dụng trong giai đoạn này bao gồm Điều tra Phỏng vấn, Phân tích, Quan Sát. Trong giai đoạn này, KTV thực hiện chủ yếu hai loại thử nghiệm: -Thử nghiệm kiểm soát nhằm thu thập bằng chứng nhằm đánh giá tính hữu hiệu của HTKSNB. -Thử nghiệm cơ bản nhằm thu thập bằng chứng nhằm phát hiện các sai sót trọng yếu trong BCTC.
Có hai loại thử nghiệm cơ bản gồm kĩ thuật phân tích và thử nghiệm chi tiết. -Kĩ thuật phân tích là việc so sánh các thông tin, nghiên cứu xu hướng nhằm phát hiện biến động bất thường. - Thử nghiệm chi tiết là việc kiểm tra số dư và nghiệp vụ bằng các phương pháp thích hợp. Giai đoạn hoàn thành kiểm toán là quá trình tổng hợp và rà soát lại những bằng chứng thu thập được để KTV hình thành nên ý kiến nhận xét trên báo cáo kiểm toán.
Có bốn loại ý kiến nhận xét là: chấp nhận toàn phần, chấp nhận từng phần, không chấp nhận và từ chối nhận xét [2]. Quá trình này, KTV chủ yếu sử dụng tới Kỹ thuật tính toán, kỹ thuật phân tích để rà soát và xác minh tài liệu cũng nhưu tính trung thực hợp lý cho BCTC của công ty, từ đó đưa ra ý kiến của mình.2 Khái quát về bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán BCTC 1. Khái niệm bằng chứng kiểm toán Báo cáo kiểm toán đã đưa ra ý kiến xác nhận về tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính đơn vị được kiểm toán. Để đánh giá, nhận xét và đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính của đơn vị đã được kiểm toán, kiểm toán viên cần thu thập các bằng chứng kiểm toán làm cơ sở cho những kết luận của mình.
BCKT quyết định tính đúng Phạm Thị Thu An 7 2021 Khóa luận tốt nghiệp đắn, chính xác các nhận xét của KTV, quyết định sự thành công của cuộc kiểm toán. Việc thu thập BCKT là trung tâm của cuộc kiểm toán. Theo Chuẩn mực kiểm toán số 500 ban hành theo quyết định số ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chínhvề BCKT ta có khái niệm về BCKT như sau: “Bằng chứng kiểm toán là tất cả những tài liệu, thông tin về cả mặt số liệu và dữ liệu do kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán viên hình thành nên ý kiến của mình”. Như vậy, BCKT bao gồm cả thông tin nhân chứng và thông tin vật chứng mà kiểm toán viên thu thập làm cơ sở cho ý kiến của mình về Báo cáo tài chính được kiểm toán.
BCKT có tính đa dạng. Các loại BCKT khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến việc hình thành ý kiến kết luận kiểm toán. Do đó, kiểm toán viên cần có nhận thức cụ thể về các loại bằng chứng một cách hữu hiệu khi thực hành kiểm toán. BCKT có một vai trò quan trọng, là cơ sở hình thành ý kiến kết luận kiểm toán.
Từ đó, sự thành công của toàn bộ cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thập và sau đó là đánh giá BCKT của kiểm toán viên. Việc kiểm toán gồm có hai chức năng cả hai chặt chẽ đều liên quan đến bằng chứng. Thứ nhất, là chức năng thu thập bằng chứng, thứ hai là đánh giá các bằng chứng. Một khi kiểm toán viên không thu thập đầy đủ và đánh giá đúng các bằng chứng thích hợp thì kiểm toán viên khó có thể đưa ra kết luận xác đáng về đối tượng được kiểm toán.
Do vai trò quan trọng của BCKT, Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 quy định: “Kiểm toán viên và Công ty kiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến của mình về Báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán”. Vai trò của Bằng chứng kiểm toán Bằng chứng kiểm toán có vai trò quan trọng, là cơ sở hình thành kết luận kiểm toán. Các loại bằng chứng kiểm toán khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến việc hình thành ý kiến kiểm toán. Sự thành công của toàn bộ cuộc kiểm toán phụ thuộc vào việc thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán của kiểm toán viên.
Nếu kiểm toán viên không thu thập đầy đủ và đánh giá đúng các bằng chứng kiểm toán thích hợp thì kiểm toán viên đó khó có thể đưa ra một nhận xét xác đáng về đối tượng kiểm toán. Đối với các doanh nghiệp kiểm toán độc lập hoặc cơ quan kiểm toán Nhà nước, cơ Phạm Thị Thu An 8 2021 Khóa luận tốt nghiệp quan pháp lý, bằng chứng kiểm toán còn là cơ sở để giám sát đánh giá chất lượng hoạt động của kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán. Báo cáo kiểm toán cần cung cấp những thông tin đáng tin cậy cho người sử dụng. Kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm về tính trung thực và khách quan của báo cáo tài chính đưa ra.
Do vậy, kiểm toán viên cần thu thập bằng chứng kiểm toán đảm bảo tính thích hợp và đầy đủ.