chương 1 cho ta cái nhìn bao quát về bài nghiên cứu: bài nghiên cứu viết về vấn đề gì, với lí do tại sao, cách thức thực hiện như thế nào và bố cục của bài viết bao gồm những gì. 6 CHƢƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan các nghiên cứu trƣớc Một số nghiên cứu trong nước gồm có nghiên cứu của Phan Nguyễn Phương Thảo (2022), với đề tài "Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng tại Công ty TNHH Kiểm toán U&I", tác giả trình bày quy trình thực hiện kiểm toán khoản mục nợ phải thu (NPTh) của công ty U&I tại công ty One Direction, đưa ra nhận xét về ưu điểm và hạn chế, đồng thời đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán NPTh của công ty kiểm toán U&I. Trần Minh Tuyết Trinh (2021), với bài nghiên cứu "Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng do Công ty Kiểm toán Tư vấn độc lập IAC thực hiện", tác giả đưa ra quy trình thực hiện kiểm toán thực tế khoản mục NPTh tại một đơn vị khách hàng. Từ đó, rút ra ý kiến nhận xét về ưu và nhược điểm trong quá trình kiểm toán tại đơn vị khách hàng, bên cạnh đó tác giả đưa ra các kiến nghị để hoàn thiện quy trình kiểm toán tại FAC chi nhánh Thừa Thiên Huế.
Lê Thị Hẹ (2020) với nghiên cứu "Tìm hiểu công tác kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng trong chu trình kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Kiểm toán FAC chi nhánh Thừa Thiên Huế", tác giả đưa ra quy trình kiểm toán khoản mục NPTh dưới hình thức trải nghiệm kiểm toán tại một đơn vị khách hàng. Dựa vào đó, nêu lên ý kiến nhận xét và quy trình kiểm toán NPTh, bên cạnh đó tác giả còn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán tại FAC chi nhánh Thừa Thiên Huế. Cao Mai Ngọc Tú (2016) với đề tài "Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục nợ phải thu khách hàng tại SVC", tác giả nghiên cứu quy trình kiểm toán khoản mục NPTh tại một đơn vị được kiểm toán, sau đó nhận xét ưu và nhược điểm trong quá trình kiểm toán, đồng thời đưa ra các đề xuất để hoàn thiện quy trình kiểm toán tại công ty Sao Việt. Nghiên cứu nước ngoài của Lureau, S.
(2020) với bài nghiên cứu "Auditing Accounts Receivable and allowance for Doubtful Accounts at Cardinal 7 Corporation", bài viết trình bày về công tác thực hiện kiểm toán khoản mục NPTh và dự phòng rủi ro phải thu khó đòi tại công ty Cardina. Tóm lại, các nghiên cứu trên trình bày về các nội dung liên quan đến khoản mục nợ PTKH và quy trình kiểm toán thực tế khoản mục này tại một công ty cụ thể, từ đó so sánh giữa lí thuyết và thực tế rồi rút ra nhận xét. Qua các nghiên cứu trên, có thể thấy PTKH là khoản mục quan trọng và thường chiếm tỉ trọng lớn trong BCTC của doanh nghiệp, nhưng các nghiên cứu này chỉ tập trung vào NPTh mà không xét đến khoản người mua trả tiền trước. Ở bài nghiên cứu của mình, tác giả muốn mở rộng phạm vi tìm hiểu quy trình kiểm toán cho khoản mục PTKH ở cả phần tài sản và phần nguồn vốn.2 Cơ sở lí thuyết về kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng 2.1 Nội dung và đặc điểm khoản mục phải thu khách hàng 2.1 Nội dung khoản mục phải thu khách hàng Theo Điều 17 của Thông Tư 200/2014/TT-BTC: "Phải thu của khách hàng gồm các khoản phải thu mang tính chất thương mại phát sinh từ giao dịch có tính chất mua – bán, như: Phải thu về bán hàng, cung cấp dịch vụ, thanh lý, nhượng bán tài sản (tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính) giữa doanh nghiệp và người mua (là đơn vị độc lập với người bán, gồm cả các khoản phải thu giữa công ty mẹ và công ty con, liên doanh, liên kết).
Khoản phải thu này gồm cả các khoản phải thu về tiền bán hàng xuất khẩu của bên giao ủy thác thông qua bên nhận ủy thác." Trên bảng cân đối kế toán, PTKH (số dư Nợ) được chia thành ngắn hạn và dài hạn. Khoản PTKH ngắn hạn được thể hiện tại phần A "Tài sản ngắn hạn", khoản mục dài hạn sẽ được thể hiện ở phần B "Tài sản dài hạn". PTKH được trình bày theo số phải thu gộp, phản ánh giá trị thuần có thể thực hiện được của khoản phải thu, giá trị này là tổng số giữa "Phải thu khách hàng" (giá trị dương) và "Dự phòng phải thu khó đòi" (giá trị âm). Khoản mục PTKH (số dư Có) được thể hiện tại phần 8 C "Nợ phải trả", phản ánh khoản mục "Người mua trả tiền trước", cũng được chia thành ngắn hạn và dài hạn.2 Đặc điểm khoản mục phải thu khách hàng Nợ PTKH là khoản mục có mối quan hệ mật thiết với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Đây một tài sản nhạy cảm, dễ bị khai khống với mục đích làm tăng doanh thu và lợi nhuận của đơn vị. Hơn nữa, khoản mục này dễ xảy ra các rủi ro, gian lận như bị nhân viên làm giả ghi chép để chiếm dụng, tham ô. Khi thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng thương mại, doanh nghiệp sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ, doanh thu tăng lên đáng kể, bên cạnh đó là nhiều rủi ro kèm theo như số lượng nghiệp vụ phát sinh về NPTh tăng cao, khó kiểm soát, dẫn đến nhiều sai sót khi hạch toán. Bên cạnh đó, khi mở rộng chính sách tín dụng, đơn vị phải đối mặt với nguy cơ tăng các khoản nợ xấu không thể thu hồi được, số trích lập dự phòng NPTh cao.
Đối với việc trích lập dự phòng phải thu khó đòi, đây là ước tính kế toán mang tính chủ quan của Ban Giám đốc và phụ thuộc vào các quy định của công ty, do đó sẽ tồn tại nhiều rủi ro, sai sót và việc kiểm tra sẽ khó khăn hơn. Bên cạnh đó, doanh nghiệp thường cố ý bỏ qua việc lập dự phòng rủi ro để làm giảm chi phí hoạt động trong kì, làm tăng lợi nhuận, KiTV cần phải rà soát tuổi nợ của các khoản phải thu để kiểm tra xem việc lập dự phòng rủi ro có được thực hiện đúng hay chưa. Người mua trả tiền trước là khoản mục dùng để thể hiện số tiền hàng mà khách hàng đã trả trước cho doanh nghiệp để mua hàng hóa, dịch vụ trong tương lai, tại thời điểm người mua chi tiền trả trước thì số hàng hóa, dịch vụ này vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp hoặc chưa hoàn thành dịch vụ và chuyển giao cho khách hàng, do đó khoản mục người mua trả tiền trước được xem là phần nợ phải trả của đơn vị. Khi thực hiện ghi chép sổ kế toán, khoản mục này thường hay bị nhầm lẫn với doanh thu chưa thực hiện, do vậy kế toán cần lưu ý đến việc doanh nghiệp đã chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa hoặc đã hoàn thành chuyển giao dịch vụ hay chưa.3 Nguyên tắc kế toán 9 Theo Điều 18 của Thông Tư 200/2014/TT-BTC, nguyên tắc kế toán khoản mục PTKH như sau: "Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư, tài sản cố định, các khoản đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ.
Tài khoản này còn dùng để phản ánh các khoản phải thu của người nhận thầu xây dựng cơ bản với người giao thầu về khối lượng công tác xây dựng cơ bản đã hoàn thành. Không phản ánh vào tài khoản này các nghiệp vụ thu tiền ngay." Khoản mục PTKH cần được hạch toán riêng cho từng đối tượng, từng nội dung và theo dõi chi tiết kì hạn nợ, ghi sổ kế toán cho từng lần thanh toán. Đối tượng phải thu là các đơn vị, khách hàng có mối quan hệ kinh tế, giao dịch mua bán với doanh nghiệp. Tài khoản này được bên giao ủy thác xuất khẩu ghi nhận khoản NPTh bên nhận ủy thác về tiền bán hàng xuất khẩu.
Nợ PTKH cần phải tiến hành theo dõi và phân loại đúng nhóm nợ để làm căn cứ trích lập dự phòng phải thu khó đòi hoặc đưa ra biện pháp xử lí đối với các khoản nợ không đòi được. Nợ PTKH phải được theo dõi theo từng loại nguyên tệ. Đối với phát sinh NPTh bằng ngoại tệ thì thực hiện theo nguyên tắc: Các nghiệp vụ phát sinh người mua chưa thanh toán (phát sinh bên Nợ) phải được đổi ra tiền Việt Nam, áp dụng theo tỉ giá giao dịch thực tế tại thời điểm phát sinh. Đối với khoản người mua trả tiền trước, khi ghi nhận doanh thu thì hạch toán vào bên Nợ tài khoản 131 với tỉ giá ghi sổ thực tế đích danh cho số tiền đã nhận trước đó.
Khi người mua thanh toán tiền hàng (phát sinh bên Có) thực hiện quy đổi thành tiền Việt Nam, áp dụng theo tỉ giá ghi sổ thực tế đích danh cho từng đối tượng 10 khách hàng. Với các nghiệp vụ nhận trước của khách hàng thì bên Có tài khoản 131 sử dụng tỉ giá giao dịch thực tế tại thời điểm nhận tiền trước. Cuối kì kế toán, đơn vị phải thực hiện đánh giá lại các khoản PTKH có gốc ngoại tệ. Tỉ giá áp dụng là tỉ giá mua ngoại tệ của ngân hàng mà khách hàng được chỉ định thanh toán tại thời điểm lập BCTC.
Nếu doanh nghiệp phát sinh nhiều khoản phải thu tại nhiều ngân hàng khác nhau thì tỉ giá quy đổi sẽ là tỉ giá mua của ngân hàng mà doanh nghiệp phát sinh giao dịch thường xuyên nhất. Đối với các khoản phải thu có gốc ngoại tệ phát sinh liên quan trong nội bộ tập đoàn sẽ được áp dụng tỉ giá chung do công ty mẹ quy định.4 Mục tiêu kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng Kiểm toán khoản mục PTKH nhằm đáp ứng mục tiêu xác định tính tin cậy của BCTC nói chung và thu thập các bằng chứng kiểm toán để làm căn cứ đưa ra đánh giá về độ đáng tin cậy của khoản mục PTKH và xác định việc trình bày khoản mục này trên BCTC là hợp lí, trung thực, đúng theo quy định của các chuẩn mục. Đồng thời, kiểm toán công nợ khách hàng còn giúp cung cấp các thông tin, tài liệu làm cơ sở tham chiếu cho việc kiểm toán các phần hành có liên quan khác.