CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN, CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ SỰ HÀI LÒNG 1.1 Cơ sở lý thuyết kiểm toán 1.1 Khái niệm về kiểm toán Kế toán là công cụ quản lý, cung cấp các thông tin cho nhà quản trị để đặt ra mục tiêu, đưa ra các quyết định đối với doanh nghiệp. Với tính chất quan trọng đó, các số liệu do kế toán cung cấp rất quan trọng, nhưng sai sót trọng yếu có thể ảnh hưởng rất lớn đến định hướng cũng như tầm nhìn của công ty. Do vậy, để kiểm soát các thông tin do kế toán cung cấp, thì các số liệu cần được kiểm toán, để đảm bảo được tính trung thực và hợp lý. Các tổ chức, các nhà nghiên cứu đã lần lượt đưa ra các định nghĩa khác nhau, và sau đây là một số định nghĩa có thể ghi nhận: Định nghĩa 1: Theo Luật Kiểm Toán Độc Lập (2011): “Kiểm toán độc lập là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán.” Định nghĩa 2: Theo A.
Locbbecke (1997) “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập”.2 Đặc điểm của dịch vụ kiểm toán Dịch vụ kiểm toán có những đặc thù riêng, kết quả của báo cáo tài chính không chỉ phục vụ cho chính công ty, mà còn cung cấp thông tin cho các bên có liên quan, đó là các nhà đầu tư, các chủ nợ, các ngân hàng, hay các tổ chức, cá nhân có nhu cầu thực hiện các giao dịch với công ty. Do đó, nội dung trên báo cáo kiểm toán 6 sẽ hỗ trợ cho việc ra quyết định của các bên có liên quan. Vì vậy, mà kiểm toán có các đặc điểm sau: - Khi muốn thành lập công ty kiểm toán, là một ngành đặc thù, nên ngoài những yêu cầu cơ bản về hồ sơ pháp lý, đăng ký vốn… công ty kiểm toán bắt buộc phải có những giấy phép hành nghề riêng, do một tổ chức cung cấp và được công nhận rộng rãi.
Tại Việt Nam, để thành lập công ty kiểm toán, cần có tối thiểu ba thành viên có chứng chỉ hành nghề kiểm toán viên được cấp bởi Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA). - Để đảm bảo chất lượng cho dịch vụ kiểm toán, cuộc kiểm toán cần phải tuân thủ theo các tiêu chuẩn riêng của ngành kiểm toán. Tại Việt Nam, các cuộc kiểm toán phải tuân thủ theo hệ thống chuẩn mực kiểm toán, gồm 37 chuẩn mực kiểm toán. - Đảm bảo cho sự phát triển lâu dài và bền vững, dịch vụ kiểm toán cần có tổ chức nghề nghiệp riêng, là người đại diện cho các công ty kiểm toán, nghiên cứu phát triển và thúc đẩy sự phát triển chung.
Là tổ chức đại diện đưa ra phát biểu cũng như định hướng lâu dài của ngành. - Kiểm toán là một ngành đòi hỏi nhiều về chuyên môn nghiệp vụ. Do đó, các kiểm toán viên cần được đào tạo thường xuyên và liên tục. Các kiểm toán viên phải nắm vững các luật liên quan, đồng thời, thường xuyên tham gia các chương trình tập huấn, cập nhật các thay đổi về luật.
- Trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán, sẽ phát sinh xung đột về lợi ích giữa các nhóm lợi ích. Kiểm toán viên cần đặt lợi ích của số đông lên trên hết, thông qua việc đưa ra ý kiến trung thực và hợp lý. 7 - Đạo đức kiểm toán cũng là một đặc điểm nổi bật. Kiểm toán viên phải luôn trung thực và phản ánh đúng tình hình hiện tại của công ty trong báo cáo kiểm toán, để giúp các bên liên quan có được các thông tin chính xác và đáng tin cậy.3 Mục tiêu tổng thể của kiểm toán Mục tiêu tổng thể của kiểm toán là kiểm tra xem báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn những sai sót trọng yếu do cố ý hoặc do nhầm lẫn không.
Giúp kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến về việc báo cáo tài chính có được lập và trình bày trung thực và hợp lý hay không. Việc lập báo cáo và đưa ra ý kiến kiểm toán phải tuân thủ các quy định và chuẩn mực hiện hành, đồng thời phải phù hợp với các phát hiện của kiểm toán viên. Trường hợp việc đưa ra ý kiến ngoại trừ của kiểm toán viêc không đảm bảo sự hợp lý của báo cáo kiểm toán, thì theo chuẩn mực kiểm toán, kiểm toán viên cần phải từ chối đưa ra ý kiến hoặc rút khỏi cuộc kiểm toán.4 Các sản phẩm dịch vụ kiểm toán Sản phẩm dịch vụ kiểm toán cơ bản và bao quát trên toàn bộ hoạt động kiểm toán độc lập là Kiểm toán báo cáo tài chính, và sản phẩm này thường cũng có tỷ trọng doanh thu cao nhất trong các nhà cung cấp dịch vụ kiểm toán. Bên cạnh sản phẩm Kiểm toán báo cáo tài chính này, các công ty kiểm toán còn có nhiều sản phẩm dịch vụ khác như: Kiểm toán hoạt động; Kiểm toán tuân thủ; Kiểm toán nội bộ; Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành; Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án; Kiểm toán khoản mục báo cáo tài chính; Kiểm toán thông tin tài chính trên cở sở các thủ tục thỏa thuận trước; Kiểm toán các công việc đặc biệt; Và các sản phẩm kiểm toán khác.2 Cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng 1.1 Khái niệm dịch vụ Các hoạt động dịch vụ diễn ra ngày càng phổ biến và đa dạng ở khắp mọi nơi và trong mọi lĩnh vực.
Chính vì vậy mà có rất nhiều tài liệu nghiên cứu bàn đến các khía cạnh khác nhau của hoạt động dịch vụ. Tuy nhiên, có một thực tế là cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về dịch vụ được thừa nhận trên toàn 8 cầu. Và dưới đây là một số định nghĩa về dịch vụ được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu trong và ngoài và nước. Zeithaml và Britner (2000) cho rằng dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Gronroos (2001) định nghĩa dịch vụ là một hoạt động hoặc một chuỗi những hoạt động ít nhiều có tính vô hình so với bình thường, nhưng không nhất thiết, diễn ra trong sự tương tác giữa khách hàng, nhân viên với nguồn lực hữu hình hoặc hàng hóa, hệ thống của nhà cung cấp dịch vụ nhằm cung cấp giải pháp cho các vấn đề của khách hàng. Các định nghĩa của các tác giả trên, tuy khác nhau về cách trình bày, nhưng cùng nêu ra đặc điểm của cơ bản của dịch vụ. Đó là, dịch vụ chính là “sản phẩm” , là thành quả của một quá trình lao động và sản xuất để nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của khách hàng. Bên cạnh đó, khác với hàng hóa là hữu hình, thì dịch vụ là vô hình, là phi vật thể.
Để hiểu rõ hơn về định nghĩa dịch vụ, chúng ta sẽ cũng nghiên cứu các đặc điểm cơ bản của dịch vụ: Tính vô hình của dịch vụ: Quá trình sản xuất hàng hóa tạo ra những sản phẩm hữu hình có tính chất cơ, lý, hóa học … nhất định, có tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể, vì vậy có thể sản xuất theo tiêu chuẩn hóa. Khác với hàng hóa, sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất (vật phẩm cụ thể), vì vậy không thể xác định chất lượng dịch vụ trực tiếp bằng những chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hóa. Tính không thể tách rời: Quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu thụ thường xảy ra đồng thời: Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hóa tách khỏi lưu thông và tiêu dùng. Vì vậy, hàng hóa có thể được lưu kho để dự trữ, có thể vận chuyển đi nơi khác theo cung, cầu của thị trường.
Khác với hàng hóa, quá trình cung ứng dịch vụ thường gắn liền với tiêu dùng dịch vụ. Trong nhiều trường hợp, việc cung ứng dịch vụ đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa người cung ứng và người tiêu dùng dịch vụ. 9 Tính không đồng nhất: Hoạt động của dịch vụ thường thay đổi từ các nhà cung cấp dịch vụ, từ khách hàng, và chất lượng dịch vụ cung cấp cũng thay đổi theo từng địa điểm, từng ngày tháng và năm kinh doanh. Dịch vụ không thể tồn trữ: Do sản xuất và tiêu dùng dịch vụ thường diễn ra đồng thời nên nói chung không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt và lưu giữ trong kho sau đó mới tiêu dùng.
Với cách hiểu đó, nói chung dịch vụ là sản phẩm không lưu trữ được và trong cung ứng dịch vụ không có khái niệm tồn kho hoặc dự trữ sản phẩm dịch vụ.2 Khái niệm về chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kinh tế, kỹ thuật và xã hội. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu. Và tùy theo hướng tiếp cận mà khái niệm chất lượng có thể được hiểu theo các cách khác nhau mỗi cách hiểu đều có cơ sở khoa học nhằm giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế. Theo Zeithaml (1987), chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể.
Nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được. Edvardsson, Thomsson và Ovretveit (1994) cho rằng chất lượng dịch vụ là dịch vụ đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng và làm thoả mãn nhu cầu của họ. Hay theo Wisniewski và Donnelly (1996), chất lượng dịch vụ là mức độ mà một dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng. Theo ISO 8402, chất lượng dịch vụ là tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng đó khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn.
Có thể hiểu chất lượng dịch vụ là sự thỏa mãn khách hàng được đo bằng khoảng cách giữa chất lượng mong đợi và chất lượng đạt được.