Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC TIẾP CẬN RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Các khái niệm rủi ro kiểm toán và chiến lược tiếp cận rủi ro kiểm toán 1.1 Khái niệm rủi ro Khái niệm về rủi ro có thể chia thành hai trường phái lớn là trường phái tiêu cực và trường phái trung hòa.1 Theo trường phái tiêu cực Theo trường phái tiêu cực, rủi ro được xem là sự không may, sự tổn thất, sự mất mát, nguy hiểm… Theo Từ điển tiếng Việt, “rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”. Một số các khái niệm tương tự được đưa ra như: “rủi ro là sự bất trắc, gây ra mất mát, hư hại” hay “rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắc chắn”. Nhìn chung, theo quan điểm này, rủi ro được được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của công ty, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một công ty.2 Theo trường phái trung hòa Trường phái trung hòa có một số định nghĩa như sau: “rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” (Frank Knight) hoặc “rủi ro là sự bất trắc có liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi” (Alan Willett) hay “rủi ro là một tổng hợp những ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất” (Irving Preffer). Theo trường phái này, rủi ro là điều không mong muốn xảy ra ngoài tầm kiểm soát của con người.
Rủi ro có thể mang đến thiệt hại, nhưng cũng mang đến cơ hội. Đây là cách nhìn nhận rủi ro một cách khách quan hơn. Trong đó, rủi ro được xem là sự sai lệch giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng; sai lệch càng lớn, rủi ro càng nhiều.2 Rủi ro kinh doanh và rủi ro kiểm toán 1.1 Rủi ro kinh doanh (RRKD) Định nghĩa rủi ro kinh doanh theo VSA RRKD “là rủi ro phát sinh từ các điều kiện, sự kiện, tình huống, việc thực hiện hay không thực hiện các hành động có ảnh hưởng đáng kể mà có thể dẫn đến ảnh hưởng bất lợi tới khả năng đạt được mục tiêu và thực hiện được chiến lược kinh doanh của đơn vị, hoặc là rủi ro phát sinh từ việc xác định mục tiêu và chiến lược kinh doanh không phù hợp” (VSA 315 – đoạn 4b). Cụ thể, rủi ro kinh doanh của tổ chức là nguy cơ không đạt được các mục tiêu kinh doanh của tổ chức do các tác động từ yếu tố bên ngoài và bên trong đến khả năng sinh lời, sự phát triển, và đôi khi là sự hoạt động liên tục của tổ chức.
Điều này được xem xét từ quan điểm hệ thống về sự liên kết không thể tách rời giữa môi trường bên ngoài, chiến lược kinh doanh, và môi trường nội bộ của tổ chức đó. Do đó, bất kỳ yếu tố bên trong hoặc bên ngoài làm suy yếu liên kết giữa tổ chức và môi trường bên ngoài của nó gây ra một rủi ro kinh doanh. Ngày nay, môi trường bên ngoài được mở rộng ra không chỉ là môi trường địa phương, nơi tổ chức hoạt động, và còn là môi trường kinh doanh toàn cầu.1 bên dưới miêu tả môi trường kinh doanh toàn cầu trong đó các tổ chức đang hoạt động. Các vòng tròn đồng tâm đại diện cho một hệ thống thứ bậc của ba lớp môi trường; trong đó, các rủi ro tương ứng của từng môi trường được phân tích chi tiết.
11 Rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp – Quan điểm doanh nghiệp đang tham gia vào một hệ thống toàn cầu Cạnh tranh trực tiếp Toàn cầu Thị trường lao động địa phương Địa phương Các quy định lỏng lẻo ở nước ngoài Tổ chức Tài nguyên thiên nhiên Môi trường nội bộ doanh nghiệp Cấu hình Văn hóa Năng lực Lợi thế quá trình Cạnh tranh toàn cầu Truyền thông Lợi thế về văn hóa Môi trường Mối quan hệ giữa khách Sự đổi mới của đối thủ cạnh Môi trường hàng / nhà cung cấp tranh Hình 1.1 Rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp – Quan điểm doanh nghiệp đang tham gia vào một hệ thống toàn cầu Các nhà quản lý thận trọng liên tục kiểm tra ba môi trường sau để phát hiện các dấu hiệu của các rủi ro kinh doanh sẽ đe doạ việc đạt được các mục tiêu kinh doanh của tổ chức. Ba môi trường này bao gồm môi trường bên trong tổ chức, môi trường hoạt động bên ngoài địa phương, và môi trường kinh doanh toàn cầu rộng lớn hơn. Từ mô hình trên, rủi ro kinh doanh xuất hiện từ ba môi trường sau: • các yếu tố trong môi trường nội bộ của tổ chức; • các yếu tố ngành; và • các yếu tố môi trường vĩ mô. Phần lõi thể hiện môi trường bên trong của tổ chức.
Một số rủi ro có thể phát sinh trong môi trường nội bộ của tổ chức là: • Cấu hình tổ chức không phù hợp – sự tăng tính phức tạp của tổ chức thách thức các cấu trúc tổ chức hiện tại, ví dụ như các chiến lược và quy trình kinh doanh cốt lõi có thể bị lệch bởi vì một định hướng quản lý chức năng và cấu trúc tổ chức; • Một văn hoá nội bộ không hoạt động - ví dụ như sự không trung thực, tinh thần làm việc và sự trung thành thấp, thiếu sự tin tưởng của nhân viên và các thủ 12 thuật chỉ huy và kiểm soát bởi ban quản lý cấp trên ức chế sự linh hoạt và học tập của nhân viên; • Năng lực kém hơn - những năng lực cốt lõi cần thiết để duy trì lợi thế cạnh tranh không được hiểu rõ, hoặc kém hơn năng lực của đối thủ cạnh tranh; • Không có lợi thế quá trình - đối thủ cạnh tranh có quy trình kinh doanh cốt lõi hiệu quả hơn làm cho họ có khả năng duy trì lợi nhuận ở mức giá cạnh tranh hơn; • Truyền thông nội bộ không hiệu quả - ví dụ như các nhà quản lý che giấu thông tin và tạo ra các rào cản ngăn cản sự tự do và nhanh chóng của dòng thông tin đến với những người cần nó. Các hoạt động quản lý rủi ro truyền thống do các tổ chức thực hiện đã tập trung vào môi trường hoạt động địa phương. Một số rủi ro kinh doanh đáng kể trong môi trường này có thể kể đến là: • Cạnh tranh trực tiếp - các đối thủ cạnh tranh trực tiếp cũng thích ứng liên tục và cải thiện hoạt động, và các đối thủ cạnh tranh mới tham gia vào thị trường tăng cạnh tranh về giá; • Thị trường lao động địa phương - đối thủ cạnh tranh trực tiếp cạnh tranh giành nguồn lực lao động tốt nhất; • Mối quan hệ giữa khách hàng / nhà cung cấp - ví dụ như quy trình phục vụ khách hàng kém; • Sự đổi mới của đối thủ cạnh tranh - công nghệ mới tạo ra lợi thế quá trình cho đối thủ cạnh tranh. Ngày nay, các thế lực đang nổi lên từ bên ngoài môi trường hoạt động địa phương đang gây áp lực đáng kể đến khả năng tạo lợi nhuận và hoạt động liên tục của tổ chức.
Một số trong các yếu tố môi trường vĩ mô này, có thể thúc đẩy sự cần thiết cho các doanh nghiệp để thích ứng chiến lược của nó, là: • Các quy định lỏng lẻo ở nước ngoài - đối thủ cạnh tranh đang sản xuất cùng một sản phẩm hoặc sản phẩm thay thế với chi phí thấp hơn; 13 • Tài nguyên thiên nhiên - một đối thủ cạnh tranh ở nước ngoài hoạt động ở một đất nước giàu nguyên liệu sản xuất hoặc các đối thủ cạnh tranh trực tiếp có mối quan hệ mạnh mẽ hơn với các nhà cung cấp ở các nước này; • Cạnh tranh toàn cầu - cạnh tranh trực tiếp từ những đối thủ tham gia thị trường mới ở nước ngoài hoặc sự đổi mới sản phẩm từ các thị trường khác và ngành công nghiệp thay thế sản phẩm trực tiếp (ví dụ như e-mail có thể buộc ngành bưu điện thay đổi sản phẩm, dịch vụ và quy trình sản xuất); • Lợi thế về văn hoá - ví dụ như đạo đức làm việc mạnh mẽ và mức độ trung thành cao là một phần của nền văn hoá. Đối thủ cạnh tranh chiến lược và các lực lượng bên ngoài liên tục gián đoạn có thể ảnh hưởng đến khả năng một tổ chức đạt được các mục tiêu kinh doanh và duy trì lợi thế cạnh tranh của tổ chức đó. Các liên minh chiến lược là các mối quan hệ cộng sinh đang được sử dụng với tần suất ngày càng tăng cho một số mục đích, bao gồm việc thiết lập các ngách thị trường mới và các rào cản mới cho việc tham gia thị trường. Các mối liên kết minh bạch giữa các đối tác chiến lược, bao gồm các nhà cung cấp và khách hàng, tạo ra các tổ chức quy mô không giới hạn, trở thành những mạng lưới phức tạp của các mối quan hệ kinh doanh phụ thuộc lẫn nhau.
Những mạng lưới này có thể cản trở việc tiếp cận khách hàng và nhà cung cấp. Các quy định mở rộng cũng đang áp đặt thêm gánh nặng cho các tổ chức, và đặt ra những mối đe dọa mới cho việc đạt được các mục tiêu kinh doanh. Cuối cùng, trong một số ngành công nghiệp, chẳng hạn như việc cung cấp điện, việc bãi bỏ các quy định độc quyền đã đẩy các tổ chức vào các môi trường kinh doanh mới không quen thuộc.2 Rủi ro kiểm toán VSA 200 – đoạn 13 (c), A32, và A33 định nghĩa: “13 (c) Rủi ro kiểm toán: Là rủi ro do kiểm toán viên đưa ra ý kiến kiểm toán không phù hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn chứa đựng sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán là hệ quả của rủi ro có sai sót trọng yếu (gồm rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát) và rủi ro phát hiện.
Rủi ro kiểm toán là hệ quả của rủi ro có sai sót trọng yếu (gồm rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát) và rủi ro phát hiện. Việc đánh giá rủi ro được thực hiện dựa trên các thủ tục kiểm toán để thu thập thông tin cần thiết phục vụ mục đích đánh giá rủi ro và dựa vào bằng chứng thu thập trong suốt quá trình kiểm toán. Việc đánh giá rủi ro gắn với xét đoán chuyên môn nhiều hơn là đo lường chính xác. Trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, “rủi ro kiểm toán” không bao gồm rủi ro mà kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến là báo cáo tài chính có sai sót trọng yếu nhưng thực tế báo cáo tài chính không có sai sót như vậy.
Rủi ro này thường không nghiêm trọng.