CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐÈ c o BẢN VÈ KIẺM TOÁN, k i ế m t o á n Nộ i C ủ a n g â n h à n g n h à n ư ớ c v i ệ t n a m 1.1 Khái quát chung về kiểm toán: 1.1 Khái niệm về kiểm toán Kiểm toán có gốc từ Latinh “Audit”, nguyên bản là “Auditing” gắn liền với nền văn minh Ai Cập và La Mã cổ đại. Từ “Audit” có nguồn gốc từ động từ La tinh “Audire” nghĩa là “nghe”. Hình ảnh ban đầu của kiểm toán cổ điển là việc kiểm tra, được thực hiện bằng cách người soạn thảo báo cáo đọc to lên cho một bên độc lập nghe rồi chấp nhận. Ở nước ta, thuật ngữ kiểm toán thực sự mới xuất hiện và được sử dụng từ hơn chục năm cuối thế kỷ XX.
Tuy nhiên cho đến nay, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm kiểm toán. Quan điểm thứ nhất cho rằng kiểm toán chỉ là việc kiểm tra lại công tác ke toán, kiêm tra việc hạch toán kê toán và việc tuân thủ các nguyên tắc kế toán Theo quan điểm này thì chủ thể thực hiện kiểm toán là các kiểm toán viên độc lập và phạm vi kiểm toán chỉ giới hạn ở lĩnh vực tài chính, không liên quan gì đến các lĩnh vực khác. Quan điểm thứ hai lại đồng nhất hoá khái niệm kiểm toán với khái niệm kiêm soát. Theo quan điếm này, kiểm soát được thực hiện đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp, còn kiểm toán được thực hiện với các đơn vị sản xuất kinh doanh.
Nhưng phạm vi kiểm toán ở đây đã được mở rộng hơn, nó liên quan đến cả lĩnh vực tài chính và lĩnh vực phi tài chính. Chủ thể thực hiện kiểm toán có the la kiem toán viên độc lập và cũng có thê là những cán bộ thuộc chính đơn vị được kiểm toán. 5 Theo xu hướng phát triển, quan điểm hiện đại về kiếm toán cho rằng kiếm toán không chỉ giới hạn ở kiểm toán báo cáo tài chính hay tài liệu kế toán mà còn thâm nhập vào nhiều lĩnh vực khác nhau như hiệu quả của hoạt động kinh tế, hiệu năng của quản lý xã hội, hiệu lực của hệ thống pháp lý trong từng hoạt động,. Trong nền kinh tế thị trường, do yêu cầu quản lý, điều hành và kinh doanh, nên thông tin liên quan đến hoạt động của một tổ chức rất quan trọng.
Yêu cầu thông tin phải đúng đắn, trung thực và hợp pháp là những yêu cầu cơ bản mà bất cứ một đối tượng nào thu nhận, xử lý và sử dụng thông tin cũng cần đến. Nhưng nếu không có một sự đánh giá khách quan thì chúng ta không thể chắc chắn rằng những yêu cầu đó đã được đảm bảo. Vì thế, trên thế giới các cơ quan kiểm toán đã ra đời và phát huy tác dụng từ nhiều thập kỷ. Nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm và phạm vi kiêm toán.
Theo tác giả, quan điểm đúng nhất về kiểm toán được thể hiện qua khái niệm sau: " Kiểm toán là quá trình các Kiểm toán viên có thẩm quyền sử dụng các chuẩn mực, quy trình và các phương pháp chuyên môn nghiệp vụ để thu thập và đánh giá các thông tin liên quan đến hoạt động của một tổ chức hay một đơn vị cụ thể nhằm xác nhận tính đúng đắn, trung thực, hợp pháp của các thông tin trên báo cáo tài chính, hoặc đánh giá tính tuân thủ, tính kinh tế và hiệu quả hoạt động của tổ chức hay đơn vị đó". Khái niệm trên đã được chuyên gia kiểm toán thuộc các hiệp hội kiểm toán quốc tế thừa nhận. Phạm vi của kiếm toán cũng rất rộng, nó bao trùm cả lĩnh vực tài chính và lĩnh vực phi tài chính vì nó đánh giá tính kinh tế và tính hiệu quả hoạt động của một tố chức hay một đơn vị. 6 Trên cơ sở đồng tình với quan điểm trên về khái niệm kiểm toán và bản thân khái niệm đó cũng rất phù hợp với thực tế của Việt nam nên trong phạm vi Luận văn này tác giả đề cập những vấn đề về kiểm toán theo khái niệm đó.2 Đặc điểm, vai trò của kiểm toán a) Đặc điểm của kiểm toán Từ những quan niệm khác nhau về kiểm toán đã nói ở trên.
Tuy nhiên, chúng không hoàn toàn đối lập nhau mà phản ánh quá trình phát triển của cả thực tiễn và lý luận kiếm toán và một số đặc điểm của kiểm toán có thể được biết đến bao gồm: - Là hoạt động độc lập: - Phải thực hiện mọi hoạt động kiếm tra kiểm soát những vấn đề liên quan đến thực trạng tài chính và sự phản ánh của nó trên sổ sách kế toán cùng hiệu quả đạt được. Những loại công việc này tự nó đã gắn chặt với nhau và đây là luận cứ cho việc tố chức kiểm toán khoa học. - Kiếm toán hình thành một hệ thống phương pháp kỹ thuật riêng bao gồm cả những phương pháp kiếm toán chứng từ và phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ thích ứng với đối tượng của kiểm toán và phù họp với các quy luật và quan hệ của phép biện chứng. - Kiêm toán là một hoạt động chuyên sâu, một khoa học chuyên ngành nên hoạt động này phải được thực hiện bởi những người có trình độ nghiệp vụ chuyên sâu về kiểm toán.
b) Vai trò của kiếm toán: Kiêm toán không phải là hoạt động Tự thân và Vị thân; kiểm toán sinh ra từ yêu cầu của quản lý và phục vụ cho yêu cầu của quản lý. Từ đó, có thể thấy rõ ý nghĩa, tác dụng của kiểm toán trên nhiều mặt như tạo ra niềm tin cho những 7 người quan tâm đến đối tượng kiểm toán, củng cố nền tài chính kế toán và hoạt động được kiếm toán đồng thời góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý. Có thê phân tích vai trò của kiếm toán trên những mặt chủ yếu sau: - Kiêm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm. Trong cơ chế thị trường, có nhiều người quan tâm tới tình hình tài chính và sự phản ánh của nó trong tài liệu kế toán.
Trong thế giới của những người quan tâm có cả các cơ quan Nhà nước, các nhà đầu tư, các nhà quản lý, khách hàng và người lao động. + Các cơ quan nhà nước cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật hay chính sách kinh tế nói chung của mình với mọi thành phần kinh tế với mọi hoạt động xã hội. + Các nhà đầu tư cần có tài liệu tin cậy để trước hết có hướng đầu tư đúng đắn, sau đó có điều hành sử dụng vốn đầu tư và cuối cùng có tài liệu trung thực về ăn chia, phân phối của kết quả đầu tư. + Các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lý khác cần thông tin trung thực không chỉ trên các bảng khai tài chính mà còn thông tin cụ thể về tài chính, về hiệu quả và hiệu năng của mỗi bộ phận để có những quyết định trong mọi giai đoạn quản lý kể cả tiếp nhận vốn liếng, chỉ đạo và điểu chỉnh các hoạt động kinh doanh và hoạt động quản lý.
Những thông tin đó chỉ có được thông qua hoạt động quản lý và kiếm toán khoa học. - Kiêm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp hoạt động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động của quản lý nói chung. + Mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính, đều bao gồm những mối quan hệ đa dạng, luôn biến đổi và được cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể. Đê hướng các nghiệp vụ này vào mục tiêu giải quyết tốt các mối quan hệ nói trên, không chỉ cần có định hướng đúng và thực hiện tốt mà còn cần thường 8 xuyên soát xét việc thực hiện đê hướng các nghiệp vụ vào các quỹ đạo mong muốn.
Hơn nữa, chính định hướng và tổ chức thực hiện cũng chỉ được thực hiện tốt trên cơ sở những bài học từ soát xét và uốn nắn thường xuyên những lệch lạc trong quá trình thực hiện. + Hoạt động tài chính lại bao gồm nhiều mối quan hệ về đầu tư, về kinh doanh, về phân phối, về thanh toán. Tính phức tạp của hoạt động này càng tăng lên bởi quan hệ chặt chẽ giữa các quan hệ tài chính với lợi ích con người. Trong khi đó, thông tin kế toán là sự phản ánh của hoạt động tài chính.
Ngoài việc chứa đựng những phức tạp của các quan hệ tài chính, thông tin kế toán còn là sản phẩm của quá trình xử lý thông tin bằng phương pháp kỹ thuật rất đặc thù. Do đó, nhu cầu hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nề nếp trong quản lý tài chính càng có đòi hỏi thường xuyên và ở mức độ cao hơn. - Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý: rõ ràng, kiếm toán không chỉ xác minh độ tin cậy của thông tin mà còn tư vấn về quản lý. Có thể thấy đặc biệt rõ tác dụng của vai trò tư vấn này trong kiểm toán hiệu năng và hiệu quả quản lý.
Vai trò này phát huy đặc biệt rõ trong các đơn vị được kiểm toán thường xuyên. Trong điều kiện đó, việc tích lũy kinh nghiệm qua thực tiễn sẽ là cơ sở cho những bài học cho tương lai. Điều đó cũng có thế giải thích từ tính phức tạp và đa dạng trong việc giải quyết các mối quan hệ kinh tế - xã hội trong đơn vị được kiếm toán. Đặc biệt trong những bước chuyến đôi cơ chế kinh tế, có nhiều quan hệ mới, phức tạp nảy sinh.
Trong cả nhận thức lẫn thực tiễn, có thể thấy rõ tính phức tạp của các quan hệ này từ chính những đặc trưng của kinh tế thị trường: lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng, công bằng, xã hội, phúc lợi xã hội không còn đủ các điều kiện thuận lợi duy trì phát triển trong cơ chế thị trường 9 thuần túy. Cạnh tranh là quy luật đạt tới lợi nhuận, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, cạnh tranh và bình đẳng trước pháp luật. Tóm lại: kiểm toán đã và đang là một ngành nghề không thể thiếu được của hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý và kiểm soát của nhà nước. Sự phát triển của hoạt động kiểm toán sẽ tăng cường hiệu quả công tác quản lý kinh tế, góp phần vào sự nghiệp đổi mới hệ thống công cụ quản lý, cải cách nền hành chính quốc gia.3 Phân loại kiểm toán Tùy theo các tiêu thức khác nhau, người ta có thể phân ra nhiều loại kiểm toán khác nhau: 1.