CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN, KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1. Những vấn đề cơ bản về kiểm toán 1. Khái niệm về kiểm toán Trên thế giới, thuật ngữ kiểm toán đã có từ lâu, từ khi xuất hiện nhu cầu xác định tính trung thực, độ tin cậy của thông tin trong báo cáo tài chính, kế toán và thực trạng tài sản của một chủ thể trong quan hệ kinh tế. Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về kiểm toán.
Theo định nghĩa của Liên đoàn quốc tế các nhà kế toán (International Federation of Accountants – IFAC) thì “Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính” Trong giáo trình kiểm toán của các tác giả Alvin A.Rens và James K.Loebbecker đã định nghĩa: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”. Định nghĩa khác nêu: “Kiểm toán là thủ pháp xem xét và kiểm tra một cách khách quan về từng khoản mục bao gồm việc thẩm tra những thông tin đặc trưng được xác định bởi kiểm toán viên hoặc thiết lập bởi thực hành chung. Nói tổng quát, mục đích của kiểm toán là trình bày ý kiến hoặc đi đến kết luận về cái được kiểm toán”(trích từ Auditing - Theory & Practice của John Dunn, University of Strathclyde, Glasgow nhà xuất bản Prentice Hall). Như vậy, tuy các định nghĩa nêu trên cách diễn đạt và từ ngữ khác nhau song chúng đều thống nhất ở những nội dung cơ bản sau: 5 - Chủ thể tham gia hoạt động kiểm toán: Người thực thi công việc kiểm toán (kiểm toán viên) và các đơn vị kinh tế (gọi chung là các doanh nghiệp) có các thông tin kinh tế được kiểm toán.
- Đối tượng kiểm toán: Là các thông tin kinh tế được kiểm toán mà kiểm toán viên sẽ đưa ra ý kiến về những thông tin này sau quá trình thực hiện công việc kiểm toán. - Mục tiêu của kiểm toán: Kết thúc quá trình kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra ý kiến về đối tượng kiểm toán. Chính vì vậy có thể thấy một khái niệm chung nhất, đầy đủ nhất về kiểm toán như sau: “Kiểm toán là một chức năng của quản lý, là một quá trình mà trong đó, một hoặc một số kiểm toán viên đủ năng lực, độc lập, có thẩm quyền, tiến hành thu thập, xác minh, đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng liên quan đến các hoạt động của một đơn vị nhằm xác định và báo cáo mức độ phù hợp của các thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập”. Đối tượng của kiểm toán chính là các thông tin có thể định lượng được.
Phạm vi của kiểm toán bao trùm cả lĩnh vực tài chính và phi tài chính, vì nó đánh giá tính kinh tế và tính hiệu quả hoạt động của một tổ chức hay một đơn vị. Chủ thể thực hiện kiểm toán có thể là cả kiểm toán viên độc lập hay có thể cả kiểm toán viên nội bộ. Phân loại kiểm toán Tùy theo các tiêu thức khác nhau, người ta có thể phân ra nhiều loại kiểm toán khác nhau: 1. Theo chủ thể thực hiện kiểm toán Việc đánh giá thông tin khách quan hay không và giá trị pháp lý của báo cáo kiểm toán ở mức độ nào tuỳ thuộc vào chủ thể thực hiện kiểm toán.
Thông thường có 3 chủ thể thực hiện kiểm toán, do đó có 3 loại kiểm toán: 6 - Kiểm toán Nhà nước: KTNN là hệ thống bộ máy chuyên môn của nhà nước thực hiện các chức năng kiểm toán tài sản công. Ở thời kỳ trung đại, KTNN đã xuất hiện để đối soát tài sản của vua chúa. Qua quá trình phát triển cho đến nay KTNN ở các nước phát triển đều thực hiện chức năng kiểm toán các đơn vị ở khu vực công cộng. - Kiểm toán độc lập: Kiểm toán độc lập là hoạt động đặc trưng của nền kinh tế thị trường.
Đây là các tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và tư vấn theo yêu cầu của khách hàng. Ở các nước sớm phát triển theo cơ chế thị trường, kiểm toán độc lập đã hành nghề trước khi có những chuẩn mực chung (về kiểm toán viên) và chuẩn mực chuyên ngành (về công tác kiểm toán). Cho đến nay, trên thế giới đã có hàng trăm ngàn tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn tài chính. Hoạt động kiểm toán độc lập giúp các cơ quan chức năng và những người sử dụng thông tin tài chính của các đơn vị được kiểm toán có những căn cứ chắc chắn để khẳng định những thông tin mà họ đang sử dụng là trung thực, khách quan và hợp pháp.
Từ đó họ có thể đưa ra những quyết định quản lý, kinh doanh phù hợp. - Kiểm toán nội bộ: Hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức (gọi tắt là đơn vị) trong nền kinh tế thị trường luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn mà KTNN và Kiểm toán độc lập không thể kiểm soát và khống chế được, vì vậy, mỗi đơn vị đều phải có bộ phận KTNB của mình. KTNB là một chức năng thuộc một đơn vị, nó không hoàn toàn độc lập với đơn vị đó. Nhưng, trong khi thực hiện nhiệm vụ thì KTNB phải hoàn toàn độc lập với bộ phận quản lý và điều hành hoạt động của đơn vị.
7 Theo cách hiểu như vậy, KTNB được định nghĩa như sau: “KTNB là một hoạt động nội kiểm có tính độc lập trong các cơ quan, đơn vị kinh tế, thực hiện chức năng chính là kiểm tra, đánh giá các hoạt động tài chính và phi tài chính nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động đó và góp phần hoàn thiện hệ thống quản lý tại các đơn vị kinh tế cơ sở”. Trên thế giới, KTNB đã trở thành một nghề có tính chuyên nghiệp. Hiệp hội các Viện Kiểm toán viên nội bộ đã được thành lập năm 1941. Hiện nay Hiệp hội đã có hơn 100 tổ chức quốc gia tham dự với số thành viên khoảng 50.000 Kiểm toán viên nội bộ.2 Theo nội dung kiểm toán Tuỳ theo mục đích của người sử dụng thông tin, một cuộc kiểm toán có thể tiến hành đồng thời hoặc một trong ba loại kiểm toán sau: - Kiểm toán hoạt động: Kiểm toán hoạt động là quá trình kiểm toán nhằm đánh giá tính hữu hiệu (hiệu lực) và tính hiệu quả trong hoạt động của một bộ phận hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị.
Đánh giá tính hiệu lực là đánh giá khả năng hoàn thành nhiệm vụ, chức năng được giao hay mục tiêu đặt ra của bộ phận hay đơn vị được kiểm toán. Đánh giá tính hiệu quả là đánh giá quan hệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra trong quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của một bộ phận hay đơn vị được kiểm toán. Đối tượng của kiểm toán hoạt động tương đối đa dạng, từ đánh giá khía cạnh tài chính của một phương án kinh doanh, một quy trình công nghệ, một loại tài sản mới được đưa vào hoạt động đến việc luân chuyển chứng từ trong một bộ phận hay đơn vị,… Báo cáo kiểm toán hoạt động chủ yếu đánh giá tiềm năng nên nó không mang tính công khai. Vì vậy, các tổ chức Kiểm toán độc lập thường không 8 thực hiện loại kiểm toán này mà kiểm toán hoạt động thường là những nội dung không thể thiếu được trong kế hoạch KTNB.
Kiểm toán hoạt động là loại kiểm toán khó lượng hoá. Chúng ta có thể lượng hoá được các tiêu thức về tính hiệu lực và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực. Nhưng đối với mối quan hệ giữa các chức năng và hiệu quả hoạt động của từng chức năng thì lại rất trừu tượng, khó lượng hoá. Vì vậy, khó có thể đưa ra một khuôn mẫu chung cho loại kiểm toán này, việc lựa chọn chuẩn mực thường mang tính chủ quan tùy thuộc vào nhận thức của kiểm toán viên.
Kết quả kiểm toán hoạt động chủ yếu phục vụ lợi ích cho bản thân đơn vị được kiểm toán. - Kiểm toán tuân thủ Kiểm toán tuân thủ là quá trình kiểm toán nhằm xác định xem đơn vị được kiểm toán trong quá trình hoạt động có tuân theo các thủ tục, nguyên tắc, quy chế, quy định của cấp trên và các chế định pháp luật của Nhà nước hay không. Đồng thời kiểm toán tuân thủ cũng xem xét xem các đơn vị có thiết lập các quy trình hoạt động không, có thực hiện theo đúng các quy trình đó không. Cũng như kiểm toán hoạt động, đối tượng của kiểm toán tuân thủ cũng rất rộng, đó là toàn bộ các hoạt động trong một đơn vị, từ việc ban hành các văn bản, chế độ, quy trình nghiệp vụ, đến việc thực hiện từng nghiệp vụ trong đơn vị.
Chuẩn mực dùng trong kiểm toán tuân thủ là các văn bản có liên quan, như: Luật, Nghị định, Thông tư, các văn bản quy phạm pháp luật, các nội quy, chế độ,… Kiểm toán tuân thủ được thực hiện bởi cả KTNN, kiểm toán độc lập và KTNB. Kết quả kiểm toán tuân thủ thường để phục vụ cho các cấp thẩm quyền liên quan, các nhà quản lý. 9 - Kiểm toán báo cáo tài chính Kiểm toán báo cáo tài chính là quá trình các Kiểm toán viên có thẩm quyền thực hiện kiểm tra một cách độc lập các thông tin liên quan đến báo cáo tài chính của một đơn vị, tổ chức để xác nhận tính trung thực, hợp pháp và phù hợp với các nguyên tắc quản lý tài chính và hạch toán kế toán của các thông tin đó. Đối tượng của kiểm toán báo cáo tài chính là các báo cáo tài chính của đơn vị, như: Bảng cân đối tài khoản, Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh,… Kiểm toán báo cáo tài chính là khái niệm kiểm toán gần nghĩa nhất với khái niệm kiểm toán cổ điển.
Thông thường nói đến kiểm toán, người ta nghĩ ngay đến kế toán, hạch toán và chỉ những gì liên quan đến kế toán. Trong điều kiện khi các đơn vị chưa hoạt động theo nề nếp, chưa tuân theo những nguyên tắc quản lý tài chính và hạch toán kế toán thì kiểm toán báo cáo tài chính là rất cần thiết. Kiểm toán báo cáo tài chính không chỉ xác nhận tính trung thực của các thông tin trên báo cáo tài chính mà còn xác nhận cả tính chính xác, hợp pháp và phù hợp của các loại thông tin.