Chương 1: Cơ sở khoa học về chất lƣợng công tác kiểm tra của Ngân hàng Nhà nƣớc đối với các tổ chức tín dụng. Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng chất lƣợng công tác kiểm tra của Ngân hàng NNVN chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh. Chương 4: Một số giải pháp 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƢỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1.
Tổng quan về Ngân hàng Nhà nước 1. Khái niệm Ngân hàng Nhà nước Cuối thế kỷ 18, khi mà hệ thống NHTM phát triển mạnh mẽ, với nhiều ngân hàng phát hành nhiều loại giấy bạc khác nhau đã gây ra cản trở đối với quá trình phát triển kinh tế, Nhà nƣớc đã can thiệp bằng cách ban hành các đạo luật để hạn chế số lƣợng ngân hàng đƣợc phép phát hành. Lúc này, hệ thống ngân hàng đƣợc tách thành hai nhóm là các ngân hàng đƣợc phép phát hành tiền (gọi là ngân hàng phát hành) và nhóm các ngân hàng không đƣợc phép phát hành tiền (gọi là ngân hàng trung gian). Đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, để thống nhất việc phát hành, các nƣớc ban hành đạo luật chỉ cho phép một ngân hàng lớn nhất, uy tín nhất đƣợc phép phát hành còn các ngân hàng khác chuyển thành NHTM.
Mặc dù vậy ngân hàng phát hành vẫn thuộc sở hữu tƣ nhân nên Nhà nƣớc không can thiệp một cách thƣờng xuyên các hoạt động tiền tệ đƣợc. Bài học đắt giá từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929- 1933 đã cho thấy Chính phủ phải điều hành đƣợc chính sách tiền tệ, phải nắm trong tay ngân hàng phát hành. Do vậy các nƣớc đã lần lƣợt quốc hữu hoá ngân hàng phát hành, trở thành ngân hàng phát hành tiền duy nhất của Chính phủ. Vì vậy, Ngân hàng Trung ƣơng ra đời từ đó.[3] Ngân hàng trung ƣơng (NHTW) là ngân hàng phát hành tiền của một quốc gia, là cơ quan quản lý và kiểm soát lĩnh vực tiền tệ ngân hàng trong phạm vi toàn quốc.
NHTW là bộ máy tài chính tổng hợp, thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, đồng thời là ngân hàng của các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác trong nền kinh tế. Có sự khác biệt đặc trƣng giữa NHTW và NHTM. Sự khác biệt này thể hiện qua các điểm sau: - Thứ nhất, NHTW không hoạt động vì mục tiêu kinh doanh, mà hoạt động vì sự ổn định và phát triển của toàn bộ nền kinh tế. NHTW là cơ quan quản lý vĩ mô trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng.
5 - Thứ hai, NHTW không giao dịch với các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân mà chỉ giao dịch với các NHTM và các giao dịch này để điều tiết hoạt động của hệ thống NHTM. - Thứ ba, NHTW là ngân hàng phát hành tiền của một quốc gia, cung ứng phƣơng tiện thanh toán cho nền kinh tế. NHTW là ngân hàng duy nhất của một nƣớc trong khi đó số lƣợng NHTM rất lớn và rất phổ biến. Theo Luật Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam, “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội. Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.”[14] Hoạt động Ngân hàng Nhà nƣớc nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. - Với tƣ cách là một cơ quan của Chính phủ, NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối. - Với tƣ cách là NHTW, NHNN thực hiện chức năng về phát hành tiền và điều tiết lƣu thông tiền tệ, ngân hàng của các ngân hàng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.
Hoạt động cơ bản của Ngân hàng Nhà nước * Phát hành tiền NHNN đƣợc giao trọng trách độc quyền phát hành tiền theo các qui định trong luật hoặc đƣợc chính phủ phê duyệt (về mệnh giá, loại tiền, mức phát hành.), nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lƣu thông tiền tệ của quốc gia. Đồng tiền do NHNN phát hành là đồng tiền lƣu thông hợp pháp duy nhất, nó mang tính chất cƣỡng chế lƣu hành, vì vậy mọi ngƣời không có quyền từ chối nó trong thanh toán. Nhiệm vụ phát hành tiền còn bao 6 gồm trách nhiệm của NHNN trong việc xác định số lƣợng tiền cần phát hành, thời điểm phát hành cũng nhƣ phƣơng thức phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế. [14], [16] * Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô, trong đó NHNN sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khối lƣợng tiền trong lƣu thông nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ, đồng thời thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm.
[14], [16] * Thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các TCTD NHNN không tham gia kinh doanh tiền tệ, tín dụng trực tiếp với các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các ngân hàng thƣơng mại, bao gồm: - Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng thƣơng mại dƣới dạng tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán; - Cấp tín dụng cho các ngân hàng thƣơng mại dƣới hình thức chiết khấu lại (tái chiết khấu) các chứng từ có giá ngắn hạn do các ngân hàng trung gian nắm giữ. Việc cấp tín dụng của NHNN cho các ngân hàng thƣơng mại không chỉ giới hạn ở nghiệp vụ tái chiết khấu các chứng từ có giá mà còn bao gồm cả các khoản cho vay ứng trƣớc có đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn, các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại NHNN; - Là trung tâm thanh toán bù trừ cho hệ thống ngân hàng thƣơng mại: Vì các ngân hàng thƣơng mại đều mở tài khoản và ký gửi các khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vƣợt mức tại NHNN nên có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua NHNN thay vì thanh toán trực tiếp với nhau. Khi đó, NHNN đóng vai trò là trung tâm thanh toán bù trừ giữa các TCTD. [14], [16] * Kiểm tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng Với tƣ cách là ngân hàng của các ngân hàng, NHNN không chỉ cung ứng các dịch vụ ngân hàng thuần tuý cho các ngân hàng trung gian, mà thông qua các hoạt động đó, NHNN còn thực hiện vai trò điều tiết, giám sát thƣờng xuyên hoạt động của các ngân hàng trung gian nhằm đảm bảo sự ốn định 7 trong hoạt động ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là của những ngƣời gửi tiền, trong quan hệ với ngân hàng.
[14], [16] * Thực hiện các dịch vụ tài chính cho Chính phủ Cho dù NHTW đƣợc xây dựng theo mô hình nào, độc lập hay phụ thuộc vào Chính phủ, thì ít nhiều NHTW cũng có những ảnh hƣởng và sự tƣơng tác nhất định đối với các hoạt động kinh tế tài chính của Chính phủ. Đối với mô hình NHTW độc lập với Chính phủ, sự can thiệp của Chính phủ vào trong hoạt động của NHTW là rất hạn chế. Tuy nhiên, do NHTW luôn sử dụng nghiệp vụ thị trƣờng mở để điều tiết khối lƣợng tiền cung ứng, mà trái phiếu Chính phủ thƣờng đƣợc mua bán trên thị trƣờng này nên hoạt động của NHTW có tác động nhất định tới chính sách tài khóa của Chính phủ. Từ đó, trong một số trƣờng hợp, hoạt động của chính sách tài khóa do Chính phủ điều hành cũng có những tác động nhất định đến hoạt động của NHTW trong mô hình này hoặc ngƣợc lại.
[14], [16] Đối với mô hình NHTW phụ thuộc vào Chính phủ thì NHTW có thể đƣợc coi là một cơ quan đại diện của Chính phủ trong các dịch vụ tài chính Nhà nƣớc. Bên cạnh hoạt động của chính sách tiền tệ, NHTW cũng thực hiện thêm các hoạt động hỗ trợ Chính phủ trong việc phát hành trái phiếu CP, thực hiện vay nợ trong và ngoài nƣớc hay thực hiện thanh toán cho Chính phủ,. Tổng quan về kiểm tra ngân hàng 1. Khái niệm kiểm tra ngân hàng Hoạt động kiểm tra là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà Nƣớc, là một trong ba yếu tố cấu thành nên sự lãnh đạo, quản lý đó là: ban hành quyết định; tổ chức quyết định và kiểm tra; kiểm tra việc thực hiện quyết định.
Có thể nói rằng ở đâu có sự lãnh đạo, quản lý thì ở đó có hoạt động kiểm tra, giám sát. Thực chất kiểm tra là việc xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét và kết luận nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cƣờng pháp chế Nhà nƣớc, bảo vệ lợi ích quốc gia. [9] Theo Luật Kiểm tra 2010, kiểm tra, kiểm tra chuyên ngành là hoạt động kiểm tra, kiểm tra của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với 8 cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó. Theo đó NHNN thực hiện kiểm tra chuyên ngành về lĩnh vực ngân hàng, kiểm tra ngân hàng chính là công cụ hữu hiện giúp NHNN hoàn thành tốt chức năng quản lý Nhà nƣớc trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
[9],[14] Vậy, kiểm tra ngân hàng là hoạt động kiểm tra của NHNN thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát đối với các TCTD trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng, phòng ngừa, ngăn chặn, hạn chế rủi ro và xử lý những vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, tăng cƣờng pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời gửi tiền và khách hàng của TCTD.