Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách quản lý ngoại hối. Chương 2: Thực trạng chính sách quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGOẠI HỐI 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI 1. Ngoại hối và hoạt động ngoại hối 1. Ngoại hối Lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá gắn liền với việc không ngừng mở rộng quan hệ mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, lao động, công nghệ… Nhu cầu của sự phát triển và xu huớng hội nhập thế giới đã dần làm cho các giao dịch này vƣợt qua biên giới của một quốc gia. Một quốc gia muốn tồn tại và phát triển đƣợc bắt buộc phải có hệ thống trao đổi với các quốc gia khác trên thế giới.
Cùng với việc mở rộng phạm vi hoạt động, các nhà kinh doanh cũng không ngừng hoàn thiện phƣơng tiện thanh toán, dự trữ. Bên cạnh các công cụ chi trả cổ điển nhƣ vàng, bạc, ngày nay nhiều phƣơng tiện thanh toán hiện đại đã đƣợc các quốc gia đƣa vào sử dụng. Các phƣơng tiện này gọi chung là ngoại hối. Có nhiều quan niệm khác nhau về ngoại hối tuỳ theo những giác độ khác nhau: - Ngoại hối là phƣơng tiện thanh toán, dự trữ đƣợc thể hiện dƣới dạng ngoại tệ bao gồm thƣơng phiếu, chi phiếu, chứng từ có giá bằng ngoại tệ, số dƣ có trên tài khoản tiền gửi tại ngân hàng nƣớc ngoài … Theo quan điểm này, vàng, kim khí quý, đá quý không đƣợc xem là ngoại hối.
- Ngoại hối là toàn bộ tiền nƣớc ngoài, phƣơng tiện chi trả bằng ngoại tệ, chứng từ có giá bằng ngoại tệ, đá quý… Việc thừa nhận vàng, bạc, đá quý có phải là ngoại hối hay không phụ thuộc rất nhiều vào khả năng chuyển đổi của đồng tiền. Đối với các đồng tiền có khả năng chuyển đổi thấp, vàng, bạc, đá qúy cũng đƣợc coi là một thành phần không thể thiếu trong ngoại hối. Với các đồng tiền mạnh có khả năng chuyển đổi cao, vàng, bạc, đá quý thƣờng đƣợc xem là hàng hoá có giá trị cao hơn là ngoại hối. 4 - Trên giác độ kinh doanh ngoại hối, những nhà kinh doanh ngoại hối hiểu ngoại hối là phƣơng tiện thanh toán thể hiện dƣới dạng ngoại tệ, nó bao gồm hối phiếu, séc bằng ngoại tệ (phải dƣ có trên tài khoản nƣớc ngoài).
- Trên góc độ quản lý và hoạch định chính sách, ngoại hối đƣợc hiểu là các loại tiền nƣớc ngoài, các chứng từ, chứng khoán có giá trị bằng tiền nƣớc ngoài, các kim loại và các loại đá quý. Theo Pháp lệnh ngoại hối của Việt Nam đƣợc Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội thông qua ngày 30 tháng 12 năm 2005, sửa đổi và bổ sung năm 2013, Ngoại hối bao gồm: - Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác đƣợc sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực; - Phƣơng tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phƣơng tiện thanh toán khác; - Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác; - Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nƣớc, trên tài khoản ở nƣớc ngoài của ngƣời cƣ trú; vàng dƣới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trƣờng hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; - Đồng tiền của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trƣờng hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đƣợc sử dụng trong thanh toán quốc tế. Có thể nói ngoại hối là một phần tài sản quốc gia; là phƣơng tiện thanh toán quan trọng trong các giao dịch thƣơng mại, đầu tƣ quốc tế; là yếu tố cực kỳ cần thiết, thƣờng xuyên đƣợc chuyển đổi cho nhau nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh, đầu tƣ, chuyển tiền giữa các cá nhân, tổ chức, chính phủ của một quốc gia với các cá nhân, tổ chức, chính phủ của các quốc gia khác. Hoạt động ngoại hối Hoạt động ngoại hối là hoạt động của ngƣời cƣ trú, ngƣời không cƣ trú 5 trong giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ quốc gia, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối.
Hoạt động ngoại hối bao gồm: Giao dịch vãng lai: là giao dịch giữa ngƣời cƣ trú với ngƣời không cƣ trú không vì mục đích chuyển vốn. Các giao dịch vãng lai bao gồm: - Các khoản thanh toán và chuyển tiền liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ; - Các khoản vay tín dụng thƣơng mại và ngân hàng ngắn hạn; - Các khoản thu nhập từ đầu tƣ trực tiếp và gián tiếp; - Các khoản chuyển tiền khi đƣợc phép giảm vốn đầu tƣ trực tiếp; - Các khoản thanh toán tiền lãi và trả dần nợ gốc của khoản vay nƣớc ngoài; - Các khoản chuyển tiền một chiều cho mục đích tiêu dùng; - Các giao dịch tƣơng tự khác. Giao dịch vốn: là giao dịch chuyển vốn giữa ngƣời cƣ trú và ngƣời không cƣ trú trong các lĩnh vực: - Đầu tƣ trực tiếp: là việc ngƣời không cƣ trú chuyển vốn vào hoặc ngƣời cƣ trú chuyển vốn ra để tiến hành các hoạt động đầu tƣ kinh doanh trên cơ sở thành lập và tham gia quản lý các doanh nghiệp; - Đầu tƣ gián tiếp: là việc mua bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác và góp vốn, mua cổ phần dƣới mọi hình thức giữa ngƣời cƣ trú với ngƣời không cƣ trú mà không trực tiếp tham gia quản lý doanh nghiệp; - Vay và trả nợ nƣớc ngoài: là việc ngƣời cƣ trú vay và trả nợ đối với ngƣời không cƣ trú; - Cho vay và thu hồi nợ nƣớc ngoài: là việc ngƣời cƣ trú cho vay và thu hồi nợ đối với ngƣời không cƣ trú. Sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ quốc gia: gồm các quy định về hạn chế sử dụng ngoại hối, tài khoản tiền gửi ngoại tệ trong nƣớc, tài khoản tiền gửi 6 ngoại tệ ở nƣớc ngoài của ngƣời cƣ trú, sử dụng ngoại tệ tiền mặt của cá nhân, sử dụng đồng nội tệ của ngƣời không cƣ trú; sử dụng đồng nội tệ của ngƣời cƣ trú là cá nhân nƣớc ngoài, sử dụng đồng tiền của nƣớc có chung biên giới, phát hành và sử dụng thẻ thanh toán.
Hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối: Là việc tổ chức tín dụng và tổ chức khác cung ứng dịch vụ có liên quan đến hoạt động ngoại hối để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngoại hối: bao gồm các lĩnh vực nhƣ thị trƣờng ngoại tệ, cơ chế tỷ giá hối đoái, quản lý xuất nhập khẩu vàng, lập và quản lý cán cân thanh toán quốc tế. Khái niệm quản lý ngoại hối Quản lý ngoại hối là một quá trình gồm việc hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát, phân tích đánh giá….ngoại hối và các giao dịch liên quan đến ngoại hối. Quản lý ngoại hối là việc làm phức tạp do hoạt động kiểm soát ngoại hối có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động kinh tế vĩ mô khác.
Các hoạt động này vừa tác động lên nhau, vừa ảnh hƣởng lên mọi lĩnh vực trong nền kinh tế nhƣ: lạm phát, hiện tƣợng đô la hoá, hiệu quả của công cuộc cải cách nền kinh tế, hoạt động ngoại thƣơng, đầu tƣ quốc tế, vay mƣợn nƣớc ngoài…Quản lý ngoại hối là nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ trong việc điều hành chính sách tiền tệ. Quản lý ngoại hối hiệu quả sẽ góp phần đáng kể trong ổn định giá cả, kiểm soát sức mua bản tệ, cân bằng cán cân thanh toán, tận dụng nguồn vốn trong nƣớc, thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài…, ổn định và phát triển nền kinh tế. Quản lý ngoại hối là một nhiệm vụ quan trọng mà bất kỳ một Chính phủ nào cũng phải thực hiện. Hoạt động quản lý ngoại hối của một quốc gia không chỉ liên quan đến sự vận động của ngoại hối, làm cho ngoại hối đi ra, đi vào mà còn ảnh hƣởng đến dự trữ ngoại hối của quốc gia đó.
Do vậy, quản lý ngọai hối là một trong những nhiệm vụ bắt buộc và đặc biệt quan trọng khi điều hành hoạt 7 động kinh tế - xã hội của một quốc gia nhất là trong thời đại phát triển mạnh các quan hệ kinh tế quốc tế, thời đại của sự hội nhập và phát triển. Công tác quản lý ngoại hối tại các quốc gia thƣờng đƣợc Chính phủ của quốc gia đó uỷ quyền cho một cơ quan chuyên trách thực hiện. Tuy nhiên, do các giao dịch hối đoái phần lớn đều phải thông qua hệ thống ngân hàng, nên việc quản lý ngoại hối ở các nƣớc hầu hết đều do NHTW đảm nhiệm. Đối tƣợng quản lý ngoại hối Đối tƣợng quản lý ngoại hối không phải là bản thân ngoại hối mà là các tổ chức, cá nhân có ngoại hối hay có hoạt động ngoại hối.
Bởi vì việc quản lý của nhà nƣớc trong lĩnh vực này là quản lý chính những hành vi xử sự của những ngƣời có ngoại hối hay có hoạt động ngoại hối. Đối tƣợng quản lý ngoại hối là những tổ chức, cá nhân liên quan đến ngoại hối và hoạt động ngoại hối, chịu sự điều chỉnh của pháp luật về quản lý ngoại hối. Các tổ chức và cá nhân này đƣợc chia làm 2 nhóm để quản lý: ngƣời cƣ trú và ngƣời không cƣ trú. “Người cư trú” của một quốc gia là những tổ chức hay cá nhân phải đồng thời thỏa mãn cả hai tiêu chí sau đây: + Có thời hạn cƣ trú từ 12 tháng trở lên + Có nguồn thu nhập từ quốc gia nơi cƣ trú Tất cả những ngƣời không hội đủ đồng thời hai tiêu chí trên đều trở thành “người không cư trú”.
Mục tiêu quản lý ngoại hối Quản lý ngoại hối là một bộ phận của quản lý kinh tế vĩ mô. Do đó, mục tiêu quản lý ngoại hối đƣợc quyết định bởi mục tiêu phát triển kinh tế của quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Mục tiêu quản lý ngoại hối tổng thể mà hầu hết các quốc gia đều phấn đấu là đạt đƣợc sự cân đối giữa nền kinh tế đối nội và kinh tế đối ngoại. Đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế Cán cân thanh toán (CCTT) quốc tế của một quốc gia gồm cán cân vãng 8 lai, cán cân vốn và tài sản dự trữ.