CHƯƠNG I THỊ TRƯỜNG TIEN t ệ v à c á c n g h iệ p v ụ THỊ TRƯỜNG TlỂN tệ 1.1 Khái niệm, chức năng, vai trò của thị trường tiền tệ 1.1 Khái niệm thị trường tiền tệ Có nhiều khái niệm về thị trường tiền tệ theo nhiều cách hiểu khác nhau. “Thị trường tiền tệ là thị trường bán buôn các công cụ nợ với thời hạn ngắn, độ rủi ro thấp và tính lỏng cao. Nói khác đi, thị trường tiền tệ là thị trường mua bán các công cụ nợ ngắn hạn có thể chuyển nhượng được trong một năm hay dưới một năm. Cũng có thể nói thị trường tiền tệ là thị trường mà ở đó người ta chuyển giao các khoản vốn ngắn hạn giữa các chủ thể nhắm thoả mãn nhu cầu thanh khoản và đầu tư ngắn hạn” [4, tr.
Thị trường tiền tệ là thị trường OTC (the over the counter market), tại các phòng kinh doanh của các ngân hàng và công ty kinh doanh đầu tư chuyên nghiệp thông qua mạng lưới điện thoại, vi tính rộng lớn. “Thông thường những người giao dịch sẽ thu xếp việc mua và bán của các bên qua điện thoại, hệ thống giao dịch nối mạng điện tử như Reuters 2000 và 3000, Bloomberg, SWIFT và việc thanh toán được thực hiện phổ biến hiện nay qua hệ thống SWIFT” [18, tr. Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ là nghiệp vụ chuyển giao vốn có khả năng thanh toán cao, ít xấy ra rủi ro đối với những người đầu tư. Hầu hết các giao dịch trên thị trường tiền tệ đều có giá trị lớn.
Vì quy mô giao dịch lớn nên các nhà đầu tư tư nhân khó có thể tham gia trực tiếp vào thị trường tiền tệ. Thị trường tiền tệ rất linh hoạt. Tuỳ theo mỗi quốc gia mà phạm vi và đối tượng tham gia thị trường có thể khác nhau. Phần lớn các giao dịch trên thị trường tiền tệ này có kỳ hạn dưới 1 năm, có lúc dưới 5 năm, song chủ yếu là từ 1 ngày đến 3 tháng.
Thị trường tiền tệ là nơi cung cấp các phương tiện giúp cho các cá nhân, doanh nghiệp nhanh chóng điều chỉnh tình hình thanh khoản thực của họ với số tiền mong muốn. Thị trường tiền tệ là tập hợp của nhiều thị trường của nhiều công cụ nợ 5 ngắn hạn riêng biệt. Đặc điểm nổi bật của thị trường tiền tệ là thị trường bán buôn, khối lượng của từng giao dịch thường là rất lớn. ở Mỹ, đơn vị mua bán thường là 1 triệu USD.
Doanh số giao dịch lên đến hàng trăm tỷ USD tại các trung tâm tài chính, ở Việt nam các giao dịch mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng được quy định tối thiểu là 50. Quy định số lượng mua bán tối thiểu cho nghiệp vụ thị trường mở là 100 triệu đồng. Thị trường tiền tệ là một bộ phận của thị trường tài chính và liên hệ chặt chẽ với thị trường vốn dài hạn. Thị trường tài chính là nơi tập trung huy động các nguồn vốn trong xã hội để tài trợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho các chủ thể trong nền kinh tế.
“Thị trường tài chính là thị trường mà ở đó diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính thông qua những phương thức giao dich và công cụ tài chính nhât định” [18, tr. Căn cứ vào thời hạn luân chuyển vốn, thị trường tài chính được chia làm thị trường tiền tệ, có thời hạn luân chuyển vốn dưới một năm, và thị trường vốn, có thời hạn luân chuyển từ một năm trở lên. Khi đã phát triển đến mức độ cao, Ngân hàng trung ương lợi dụng các đặc điểm của thị trường tiền tệ để thực hiện các chính sách tiền tệ thông qua can thiệp bằng việc mua bán các chứng khoán. Chức năng của thị trường tiền tệ 1.1 Đáp ứng nhu cầu thanh khoản Thị trường tiền tệ hay một thị trường nào thì cũng luôn diễn ra quan hệ giữa người bán và người mua.
Người bán là người sở hữu hàng hoá, hay có thể cung cấp dịch vụ và cũng là người có nhu cầu tiền mặt. Nhu cầu chuyển đổi các loại tài sản thành tiền là một nhu cầu khách quan, xuất hiện mọi nơi, mọi lúc. Các ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính, công ty phi tài chính, Chính phủ trung ương và địa phương đều gặp tình trạng thiếu vốn tạm thời vào những thời điểm nhất định. Các tổ chức này đều có thể sử dụng biện pháp phát hành giấy nhận nợ để đi vay từ xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu tiền mặt của mình.
Trường hợp các tổ chức này đang sở hữu các GTCG thì họ tìm đến thị trường để chuyển hoá GTCG thành tiền mặt. Thị trường tiền tệ là thị trường có chức năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản của những tổ chức, cá nhân có nhu cầu giao dịch GTCG. Khi thực hiện mua bán trên thị trường tiền tệ, vốn tạm thời nhàn rỗi được chuyển sang người thiếu vốn 6 cần kinh doanh và có cơ hội đầu lư. Chính phủ, doanh nghiệp, công ty hay ngân hàng có nhu câu vay vốn phát hành các chứng khoán nơ ngắn han cho người có vốn nhàn rỗi có nhu cầu đầu tư vào các công cụ này.
Các chứng khoán nợ này là các trái quyền, tài sản có đối với người mua, người sở hữu chúng đổng thời là tài sản nợ đối với người phát hành hay người bán. Như vậy thị trường tiền tệ thực hiện chức năng điều tiết cung cầu về nguồn vốn ngắn hạn nhằm hỗ trợ cho các hoạt động sản suất kinh doanh, đời sống của các chủ thể trong xã hội.2 Tạo cơ chế luân chuyển vốn 0 chức năng này, do chu kỳ sản suất kinh doanh mà xuất hiên tình trang dư thừa vốn ngắn hạn của Chính phủ, công ty và các định chế tài chính. Bằng việc đầu tư vào các công cụ nợ ngắn hạn sẽ có lợi hơn là giữ tiền mặt trên tài khoản không kỳ hạn tại các ngân hàng. Do đặc thù của thị trường tiền tệ là tính thanh khoản cao nên các tổ chức sẽ xem xét chi phí cơ hội giữa việc giữ tiền mặt và đầu tư trên thị trường tiền tệ.
Khi thực hiện giao dịch đầu tư trên thị trường tiền tệ, tài sản của các to chưc, ca nhân se vưa mang lai lơi nhuân vừa đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời. Thông qua chức năng này, thị trường tiền tệ là tạo ra giá cả thị trường, trong trường hợp này là tạo ra các lãi suất trên thị trường tiền tệ. Lãi suất phụ thuộc vào cung cầu thị trường và phụ thuộc vào chính sách kinh tế, tiền tệ của Ngân hàng trung ương. Những thay đổi về lãi suất vay qua đêm, lãi suất chiết khấu ảnh hưởng trực tiếp và nhanh chóng đến hoạt động của thị trường tiền tệ và thị trường khác như tỷ giá, thị trường chứng khoán.
Có thể nhận thấy mỗi khi Quỹ dự trữ liên bang Mỹ thay đổi lãi suất cho vay liên ngân hàng (Fed Fund Rate), thì sự thay đổi này ảnh hưởng trực tiêp đến thị trường tài chính toàn cầu.3 Kênh tác động của Ngân hàng trung ương tới hệ thống thị trường Do cac chu thê tham gia vào thi trường tiền tê chủ yêu là Ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại, các tổ chức này nắm giữ nguồn vốn lớn của xã hội do bản thân nó là “ví tiền của xã hội”. Đối với các ngân hàng thương mại mục tiêu tham gia vào thị trường tiền tệ cũng không nằm ngoài việc đáp ứng khả năng thanh khoan và sinh lời từ nguồn vốn nhàn rôi tam thời. Đối với Ngân hàng trung ương, do đặc thù là nắm giữ nguồn vốn lớn của hệ thống ngân hàng, nên có thể tham gia mua bán với số lượng lớn. Giả định tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% thì Ngân 7 hàng trung ương có thể sử dụng 10% nguồn vốn của hệ thống ngân hàng gửi tại Ngân hàng trung ương để mua GTCG và bán những GTCG này để can thiệp thị trường.
Bằng việc tạo ra sự chuyển dịch về tiền mà Ngân hàng trung ương thực hiện bơm hoặc hút tiên dôi VỚI hệ thống. Và băng thao tác này, Ngân hàng trung ương thực thi các chính sách tiền tệ. Giao dịch của Ngân hàng trung ương trên thị trường tiền tệ được thực hiện thông qua hai nhóm nghiệp vụ chính. Một là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn hay còn gọi là nghiệp vụ tái cấp vốn của Ngân hàng trung ương.
Khi các ngân hàng gặp khó khăn về nguồn vốn huy động hoặc thiếu hụt vốn khả dụng, Ngân hàng trung ương thực hiện cho vay đối với các ngân hàng thương mại. Đến lượt mình, các ngân hàng thương mại cũng thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng. Như vậy hoặc ngân hàng trung ương đáp ứng nhu cầu vốn của ngân hàng thương mại, hoặc ngân hàng thương mại đap ưng nhu câu vôn cua doanh nghiệp, tô chức, cá nhân. Hai là nghiệp vu mua bán kỳ hạn, đây thực chất cũng là khoản cho vay của Ngân hàng trung ương ngân hàng thương mại nhưng sau kỳ hạn nhất định thì luồng tiền chuyển dịch theo hướng ngược lại.
Bằng các nghiệp vụ bán trước và mua sau, thì nghiệp vụ này có lợi thế giúp Ngân hàng trung ương thu hút vốn từ hệ thống. Tóm lại, do việc tập trung vốn của các ngân hàng tại Ngân hàng trung ương và do Ngân hàng trung ương là người tổ chức, điều hành thị trường nên nghiệp vụ mua bán của Ngân hàng trung ương có ảnh hưởng đến khối lượng tiền trên hệ thống nên thị trưởng tiền tệ còn là một kênh tác động chính sách tiền tệ đến hệ thống. Vai trò của thị trường tiền tệ Nếu chức năng chủ yếu của thị trường tiền tệ là tạo thanh khoản cho người bán và tạo lợi nhuận cho người mua, thì khi các giao dịch trên thị trường tiền tệ được thực hiện, vốn được chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu, hay nói khác đi nó đã tạo ra sự đáp ứng vốn cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân.1 Góp phần tăng khả năng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trên thị trương do đap ưng vôn kip thời cho các doanh nghiêp. Nguồn vốn ngắn han luôn là một bài toán đối với doanh nghiệp trong hoạt động sản suất kinh doanh.
Ngoài vốn tự có, vốn đi vay từ nhiều nguồn khác nhau để thực hiện kinh doanh có ý nghĩa quan trọng. Ví dụ việc phát hành thương phiếu của doanh nghiệp là một kênh tạo vốn giá rẻ để giảm chi phí sản xuất nhằm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp.