Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu và mô hình kinh tế lượng được ứng dụng trong việc xác định các tác động của chính sách tiền tệ đến lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu. Chương này tập trung vào thống kê mô tả kết quả của đề tài từ dữ liệu của nghiên cứu và chỉ ra kết quả nghiên cứu về việc xác định tác động của chính sách tiền tệ đến lãi suất cho vay của ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Chương 5: Ket luận và khuyến nghị.
Trang 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chưong 2 Cơ SỎ LÝ THUYẾT Trong chương này tập trung nêu lên cơ sở lý thuyết của đề tài nhằm đưa ra các giả thuyết nghiên cứu cũng như là cơ sở để đưa ra mô hình nghiên cứu trong đề tài. Chương này nêu lên một số lý thuyết và mô hình đề cập đến sự tác động của chính sách tiền tệ và một số yếu tố tác động đến lãi suất cho vay cùa ngân hàng thương mại tại Việt Nam.1 Chính sách tiền tệ 2.1 Khái niệm Chính sách tiền tệ (CSTT) đề cập đến sự kết họp các biện pháp được thiết kế để điều chỉnh giá trị, cung tiền và chi phí vay tiền trong nền kinh tế. Chính sách tiền tệ cũng được mô tả là nghệ thuật của việc kiểm soát phương hướng và hoạt động của các cơ sở tín dụng trong việc ổn định giá cả và tăng trưởng trong một nền kinh tế (Chowdhry, Hoffman và Schabert, 2003). Chính sách tiền tệ hướng đến các hoạt động của các ngân hàng Trung ương (NHTƯ) để điều tiết cung tiền, thông qua các công cụ CSTT thận trọng như nghiệp vụ thị trường mở (OMO), lãi suất chiết khấu, dự trữ bắt buộc, kiểm soát trực tiếp của tín dụng hệ thống ngân hàng và quy định trực tiếp của lãi suất (Loayaza và Schmidt-Hebbel, 2002).
Chính sách tiền tệ bao gồm việc xây dựng, thực hiện các chính sách của NHTƯ để đạt được mục tiêu mong muốn hoặc thiết lập các mục tiêu; các chính sách và quyết định nhằm mục đích điều chỉnh lãi suất cho vay của ngân hàng ở những mức độ mà tại đó nhu cầu tín dụng và tăng trưởng tiền ở một mức độ phù hợp với độ co dãn của tổng cung (Loayaza và Schmidt-Hebbel, 2002). Các mục tiêu và mục đích mà NHTƯ tìm kiếm để đạt được thường là lạm phát thấp (thường là mục tiêu), bảo vệ giá trị của đồng tiền, không có nạn thất nghiệp và sản lượng kinh tế bền vững (tăng trưởng kinh tế). Với Faure (2003), trích bởi Kimani (2013), chính sách tiền tệ bao gồm các khía cạnh tiền tệ của chính sách kinh tế nói chung về mức độ phối họp cao giữa Trang 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết CSTT và các công cụ khác của chính sách kinh tế quốc gia. Hiệu quả của CSTT và tầm quan trọng của nó ví như công cụ ổn định kinh tế thay đổi từ một nền kinh tế này đến nền kinh tế khác, do sự khác biệt trong cơ cấu kinh tế, phân chia các mức độ phát triển trong thị trường tiền tệ và thị trường vốn dẫn đến mức độ phát triên kinh tế khác nhau, những khác biệt về điều kiện kinh tế hiện hành.
Đe đạt được sự ổn định theo mong muốn trong một nền kinh tế, NHTƯ sử dụng nhiều công cụ CSTT khác nhau, có thể khác nhau từ nước này sang nước khác theo sự khác biệt về hệ thống chính trị. cơ cấu kinh tế. thủ tục theo luật định và thề chế. phát triển của thị trường tiền tệ.
thị trường vốn và các yếu tố khác. Một số CSTT thường được sử dụng bao gồm: thay đổi trong tỷ lệ dự trữ. những thay đổi trong tỷ lệ chiết khấu hoặc lãi suất của NHTƯ. tỷ giá hối đoái và các hoạt động thị trường mở.
Cơ chế lan truyền tiền tệ là cơ chế mà qua đó những thay đổi trong cung tiền ảnh hưởng đến các quyết định của doanh nghiệp, hộ gia đình, trung gian tài chính, các nhà đầu tư và cuối cùng làm thay đối mức độ hoạt động kinh tế, giá cả. Cơ chế lan truyền được xem bao gồm những phương thức khác nhau, trong đó những cú sốc của CSTT lan truyền trong nền kinh tế (Kutter và Mosser, 2002). Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường hiện nay thực chất là nền kinh tế tiền tệ. Trong đời sống kinh tế xã hội của mọi quốc gia và cả quốc tế hiện nay, lĩnh vực tài chính, tiền tệ ngày càng chiếm vị trí hết sức quan trọng và nắm vai trò quyết định.
Do sự tác động mạnh mẽ của tiền tệ đến sự phát triển về mọi mặt của nền kinh tế - xã hội có thể thúc đẩy sự phát triển, có thể chống đỡ những ảnh hưởng tiêu cực do những biến động bất lợi trong đời sống kinh tế thế giới, khi cần thiết NHTƯ phải thực hiện những chính sách hợp lý để thực hiện đúng vai trò của tiền tệ. Thông qua các thao tác của mình, NHTƯ có thể làm thay đổi tiền tệ trên các mặt: lưu lượng, chi phí và giá trị. Tất cả các thao tác liên quan đến tiền của NHTƯ luôn luôn nằm trong hệ thống những ý đồ mang tính chiến lược mà người ta gọi là chính sách tiền tệ. Hay nói cách khác: Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô, thông qua các công cụ của mình, NHTƯ chủ động thay đổi cung ứng tiền hoặc lãi suất (lãi suất liên ngân hàng mục tiêu) nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội đề ra.
Trang 8 Chương 2: Cơ sỡ lý thuyết Chính sách tiền tệ được thiết kế và khởi động từ NHTƯ, lan ra đến mọi ngóc ngách của nền kinh tế thông qua hoạt động dây chuyền của hệ thống ngân hàng trung gian và các tổ chức tài chính trong nước (Nguyễn Văn Tiến, 2009). Với Mishkin (2001), chính sách tiền tệ là một trong các chính sách vĩ mô, trong đó NHTƯ thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát, điều tiết khối lượng tiền cung ứng nhằm tác động tới các mục tiêu cơ bản của nền kinh tê trên cơ sở đó đạt được mục tiêu cuối cùng của mình là công ăn việc làm cao. tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính và ôn định tỷ giá hối đoái. Tóm lại, chính sách tiền tệ được coi là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô trong đó NHTƯ thông qua công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng (hoặc lãi suất) căn cứ vào nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế, nhằm đạt mục tiêu về giá cả, sản lượng và việc làm.2 Phân loại chính sách tiền tệ: Chính sách mở rộng tiền tệ (Expansionary monetary policy) Thực thi CSTT mở rộng là việc NHTƯ tăng thêm hĩợng tiền cung ứng vào nền kinh tế.
Chính sách này được áp dụng khi nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, nạn thất nghiệp gia tăng. Trong tình trạng này, CSTT mở rộng làm tăng lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế, đầu tư, sản xuất liên tục được mở rộng, tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm thất nghiệp, gia tăng thu nhập quốc dân, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển (Mishkin, 2004. Chính sách thắt chặt tiền tệ (Tightened monetary policy) CSTT thắt chặt được thực thi khi NHTƯ thu hẹp lượng tiền cung ứng, khiến cho tiền trở nên khan hiếm trong nền kinh tế. Sản xuất thiếu vốn, người mua thiêu tiền buộc phải cắt giảm chi tiêu và đầu tư.
Điều này dẫn đến tống cầu giảm và giá cả hạ xuống. Hậu quả là sản xuất bị thu hẹp, nạn thất nghiệp tăng, thu nhập quốc dân giảm và nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái. Chính sách này được áp dụng khi nền kinh tế phát triển quá “nóng”, đồng nghĩa với việc lạm phát tăng nhanh (Mishkin, 2004, p. Trang 9 Chương 2: Cơ sớ lý thuyết 2.3 Mục tiêu của chính sách tiền tệ Theo Nguyễn Văn Tiến (2009).
các mục tiêu của CSTT mà một nền kinh tế đặt ra vô cùng đa dạng. Trong đó, mục tiêu cuối cùng của CSTT bao gồm mục tiêu ổn định giá cả, mục tiêu tạo công ăn việc làm. mục tiêu tăng trưởng kinh tế, mục tiêu ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính và ổn định tỷ giá. Đây là những mục tiêu hàng đầu và dài hạn của CSTT, trên cơ sở đó góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo thêm việc làm và kiềm chế lạm phát.
Tuy nhiên, đế biết được mục tiêu cuối cùng trên có hiệu quả không, NHTU thường phải mất một khoảng thời gian. Nếu kết quả thực hiện không đạt được như mục tiêu đề ra thì NHTƯ sẽ gặp khó khăn để tiến hành việc chỉnh sửa. bên cạnh các mục tiêu cuối cùng, NHTƯ còn xác định các mục tiêu trung gian của CSTT nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng. Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu trung gian trên, mục tiêu trung gian lại tiếp tục được chi tiết hóa bằng những mục tiêu hoạt động.
Những mục tiêu này có phản ứng tức thời với những thay đổi của CSTT do NHTƯ thực hiện. Mục tiêu ổn định giá cả: Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt trong định hướng ổn định và phát triển kinh tế vĩ mô của mỗi nền kinh tế. Giá cả on định sẽ tăng mức độ chính xác của các dự đoán biến sổ vĩ mò, là động lực góp phần phân phối nguồn lực xã hội một cách hiệu quả nhất, đây là lợi ích có tầm quan trọng lớn đối với sự thịnh vượng của nền kinh tế trong dài hạn. Giá cả ổn định cho phép thị trường tài chính hoạt động một cách hiệu quả trong việc truyền dẫn lượng vốn từ nơi dư thừa đến nơi thiếu hụt, kích thích sản xuất phát triển.
Các NHTƯ thường lượng hóa mục tiêu này bằng chỉ so giá tiêu dung (CPI). NHTƯ cam kết thực hiện chỉ tiêu CPI nhằm ổn định giá trị tiền tệ trong dài hạn vì tác động của CSTT lên nền kinh tế chỉ được thể hiện trong dài hạn. Tuy nhiên, việc theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả không có nghĩa với tỷ lệ lạm phát bằng không vì khi đó, nền kinh tế thường rơi vào tình trạng thiếu phát gây hậu quả nghiêm trọng hơn nền kinh tế suy thoái. một mức lạm phát vừa phải, khoảng từ 1,5% đến 4%, có tác dụng bôi trơn và tác động tích cực đến nền kinh tế (Nguyễn Văn Tiến, 2009).