CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng Quan về tình hình nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu nước ngoài Không chỉ tại Việt nam, vấn đề xử lý nợ có vấn đề ngành Ngân hàng cũng là chủ đề rất nóng trên thế giới. Trên thế giới có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu về chủ đề này, ví dụ như : • P.Volker, cực chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ ( FED ) cho rằng : “ Nếu Ngân hàng không có những khoản nợ xấu thì đó không phải là hoạt động kinh doanh ” (2018). Điều đó cho thấy nợ xấu, nợ có vấn đề là một thực tế hiển nhiên ở bất cứ ngân hàng nào, kể cả ngân hàng hàng đầu thế giới bởi những rủi ro nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Tuy nhiên, sự khác việt cơ bản của các ngân hàng là khả năng kiểm soát tỷ lệ nợ có vấn đề ở mức chấp nhận được nhờ việc xây dựng những mô hình kiểm soát hiệu quả.
• Báo cáo trên tạp chí Tài chính của Ấn Độ (2018), J. Christopher Flowers Ấn độ là một trong những nên kinh tế mới nổi có nhiều nợ xấu nhất .Tuy vậy nhưng đây là quốc gia Đông Nam Á có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới. Thậm chí, tỷ lệ nợ xấu Ngân Hàng của quốc gia này cao gây tắc nghẽn kinh tế tín dụng làm tăng lãi suất cho , gây khó khăn cho doanh nghiêp tiếp cận vốn. Vì vậy xử lý nợ xấu, nợ có vấn đề tại quốc gia này luôn là vấn đề then chốt nhằm khôi phục nền kinh tế và tăng trưởng tín dụng.
Nhưng hiện tại Ngân hàng ở đây không đồng ý giảm giá trị tài sản thế chấp được rao. Nhưng cuối năm 2017 công ty của Christopher được RBI phê chuẩn đề được cấp giấy phép thành lập công ty cấu trúc tài sản nhằm xử lý các khoản nợ.2 Nghiên cứu trong nước Hiện nay ở trong nước, cũng có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nợ có vấn đề của ngân hàng. Cụ thể các vấn đề nợ có vấn đề được đề cấp ở một số luận văn thạc sỹ, một số tạp chí, một công trình khoa học thời gian qua. Nhóm nghiên cứu đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ (2019), Chủ nhiệm Nguyễn Thị Hiền đã có đề tài “ Hoàn thiện khung pháp lý về xử lý ngân hàng thương mại có vấn 5 đề ” đề tài đã tập trung nghiên cứu thực tế xử lý NHTM có vấn đề ở Việt Nam và bài học để ra soát, nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam về xử lý Ngân Hàng Thương Mại có vấn đề qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý xử lý.
Như việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp lý để hỗ trợ cho việc xử lý nợ xấu nhằm thực hiện hiệu quả Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc Hội về thí điểm xử lý nợ xấu. Đặc biệt là cơ chế liên quan tới thủ tục xét xử rút gọn, tái cấp vốn cho các TCTD được kiểm soát đặc biệt , quy định pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi nhằm nâng cao vai trò của BHTG Việt Nam trong quá trình tái cơ cấu TCTD, và một số quy định pháp lý nhằm tháo gỡ khó khăn cho các NHTM có vấn đề, giúp đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu và tái cơ cấu các NHTM.Nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp quan trong như : Sửa đổi, bổ sung luật các TCTD, tiếp tục ban hành và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan để thực hiện tốt Nghị quyết số 42 của Quốc Hội về thí điểm xử lý nợ xấu…. • Nguyễn Hoài Phương (2015),đã nêu lên cách tiếp cận việc quản lý nợ xấu ngân hàng theo chuẩn quốc , Hiệp ước Basel II được sử dụng như một chuẩn mực trong việc quản lý nợ xấu. Hoàng Thị Duyên (8/2018) đã đánh giá lại thực trạng nợ xấu ngân hàng thời gian qua và đưa ra một số kiến nghị nhằm kiểm soát hiệu quả đà tăng của nợ xấu, hạn chế những tác động khó lường đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.
Bài viết chủ yếu nhấn mạnh việc nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển một thị trường mua bán nợ chuyên nghiệp thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài. Theo VAMC hiện nay các nhà đâu tư nước ngoài đang rất quan tâm đến những khoản nợ xấu tại Việt , tuy nhiên điều họ ngại ở đây là Việt Nam vẫn thiếu môi trường pháp lý thuận lợi cho thị trường mua bán. Do vậy trong thời gian tới cần chú trọng việc tháo gỡ các vướng mắc về , để khơi thông pháp lý đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu, trong đó cần thu hút các tổ chức trong và ngoài nước tham gia nhiều hơn vào quá trình nợ xấu ngân hàng.2 Cơ sơ lý luận công tác xử lý nợ có vấn đề 1.1 Tổng quan về nợ có vấn đề 1. Quan điểm về nợ có vấn đề Trong các sách giáo khoa về tài chính, các nhà kinh tế đã đưa ra một số định nghĩa về nợ xấu (bad debt), nợ quá hạn (non-performing loan), nợ có vấn đề (doubtful 6 debd).
Đó là những khoản nợ mà khách hàng ít có khả năng trả lại cho chủ nợ, và do đó giá trị kỳ vọng thu hồi thấp hơn so với khoản nợ gốc ban đầu. Theo tiêu chuẩn quốc tế, Nợ có vấn đề là các khoản tín dụng cấp cho khách hàng không thu hồi được hoặc có dấu hiệu có thể không thu hồi được theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng. Nợ có vấn đề được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ những khoản vay đã quá hạn thanh toán, thanh toán không đúng kỳ hạn (nợ quá hạn thông thường, nợ khó đòi, nợ chờ xử lý, nợ khoanh, nợ tồn đọng) mà bao gồm cả những khoản vay trong hạn nhưng có những dấu hiệu không an toàn có thể dẫn tới rủi ro. • Theo quan điểm của Quỹ Tiền tệ quốc tế ( IMF ) Định nghĩa về nợ có vấn đề đã được IMF đưa ra như sau : “ Một khoản cho vay được coi là không sinh lời ( nợ có vấn đề ) khi tiền thanh toán lãi hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ ”.
Về cơ bản, nợ có vấn đề theo quan điểm của IMF được định nghĩa dựa trên hai yếu tố: (i) : quá hạn trên 90 ngày, hoặc (ii): khả năng trả nợ bị nghi ngờ. Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng. Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn toàn không trả được nợ, hoặc việc trả nợ của khách hàng là không đầy đủ. Như vậy, so với quan điểm của ECB, thì quan điểm về nợ xấu của IMF cũng dựa trên kết quả thu hồi nợ của ngân hàng, nhưn bổ sung thêm yếu tố về thời gian quá hạn trả nợ.
Đây được coi là định nghĩa hiện đang được áp dụng phổ biến trên thế giới. • Theo quan điểm của Việt Nam Các khoản nợ phát sinh trong HĐKD của Ngân hàng bao gồm: (i) các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính; (ii) các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác; (iii) các khoản bao thanh toán và (iv) các hình thức tín dụng khác. Trong đó, nợ xấu là các khoản nợ mang đặc trưng: (i) Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng khi các cam kết này đến hạn; (ii) Tình hình tài chính của khách hàng đang có chiều hướng xấu dẫn đến việc Ngân hàng có thể không thu hồi được cả vốn lẫn lãi; (iii) TSBĐ (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh…) được đánh giá là giá trị phát mãi 7 không đủ trang trải nợ gốc và lãi; (iv) Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày • Theo quan điểm của Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam Tại Ngân hàng Ngoại thương, theo Quyết định số 106/QĐ-NHNT.CSTD của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam quy định của ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam về quản lý và xử lý các khoản nợ có vấn đề, nợ có vấn đề được định nghĩa như sau: - Khách hàng có nợ xấu theo quy định về phân loại nợ, trích lập và xử lý dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nhà nước và NHNT trong từng thời kỳ. - Khách hàng có nợ đã được xử lý DPRR chưa thu đang hạch toán ngoại bảng.
- Khách hàng chưa bị phân loại thành nợ xấu, nhưng có một hoặc các dấu hiệu rủi ro sau đây: Hoạt động sản xuất, kinh doanh bị gián đoạn, ngừng trệ (do mất khách hàng, sản phẩm mất khả năng cạnh tranh, đình công, liên tục thua lỗ, ngành/lĩnh vực kinh doanh gặp rủi ro…). Gặp khó khăn trong đầu tư (dự án đầu tư bị ngừng trệ, dừng triển khai…). Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích dẫn đến mất cân đối tài chính (sử dụng vốn ngắn hạn để đầu tư trung dài hạn, sử dụng vốn vay sai mục đích…). Khách hàng không có thiện chí hợp tác (không cung cấp kịp thời báo cáo theo yêu cầu, trốn tránh hoặc có hành vi che dấu thông tin, không có thiện chí tận thu mọi nguồn để trả nợ…).
Khách hàng hoặc người đại diện theo pháp luật, người điều hành của khách hàng bị khởi tố, khởi kiện có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. Khách hàng có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng khác. Các Ngân hàng lớn trên thế giới hiện nay phân loại nợ xấu gắn với nguyên nhân xảy ra để xác định mức độ rủi ro tương ứng.