Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Trung Tùng được thực hiện tại Khoa Ngân hàng - Học viện Ngân hàng (năm 2019), tập trung vào đề tài xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) – Chi nhánh Hoàn Kiếm. Hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trải qua 30 năm phát triển đã ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ về quy mô và mạng lưới. Tuy nhiên, rủi ro nợ xấu và áp lực thanh khoản luôn là trở ngại lớn đối với sự ổn định tài chính. Bối cảnh thực tiễn được tác giả nêu rõ gắn liền với Đề án Nâng cao chất lượng ngân hàng được Chính phủ phê duyệt vào tháng 03/2018, trong đó việc xử lý nợ xấu và nợ có vấn đề được xác định là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Theo số liệu được trích dẫn trong văn bản, vào cuối quý I/2018, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố là khoảng 3,6%, trong khi Fitch Ratings ước lượng ở mức 4% - 6% và một số nghiên cứu trong nước ghi nhận mức xấp xỉ 4%. Với tỷ trọng tài sản cho vay chiếm khoảng 60% tổng tài sản toàn ngành, nợ xấu có tác động chi phối đến gần một nửa tổng vốn chủ sở hữu của hệ thống ngân hàng. Báo cáo của Vietnam Report công bố vào tháng 6/2018 cũng chỉ ra rằng nợ có vấn đề tiếp tục là quan ngại lớn của các tổ chức tín dụng. Tại Vietcombank Hoàn Kiếm, yêu cầu đặt ra là phải kiểm soát chặt chẽ rủi ro tín dụng trong giai đoạn triển khai đề án tái cơ cấu giai đoạn 2016 - 2020.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nợ có vấn đề, các mô hình và kinh nghiệm xử lý nợ của các quốc gia trên thế giới cũng như tại Việt Nam.
    2. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác xử lý nợ có vấn đề tại Vietcombank Chi nhánh Hoàn Kiếm giai đoạn 2016 - 2018, làm rõ các kết quả đạt được, những hạn chế và vướng mắc thực tế.
    3. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ có vấn đề tại chi nhánh trong thời gian tiếp theo.
  • Câu hỏi nghiên cứu:
    1. Thực trạng xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàn Kiếm diễn ra như thế nào?
    2. Các giải pháp nào cần thực hiện để hoàn thiện công tác xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàn Kiếm?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài gồm:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàn Kiếm.
  • Phạm vi nội dung: Đánh giá thực trạng xử lý nợ và đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi nợ có vấn đề.
  • Phạm vi không gian: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàn Kiếm.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu thập và phân tích trong giai đoạn 3 năm, từ năm 2016 đến hết năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu thông qua hệ thống khái niệm, khung pháp lý chuyên ngành ngân hàng và phương pháp nghiên cứu định tính phân tích dữ liệu thứ cấp:

  • Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:

    • Khái niệm nợ có vấn đề theo chuẩn mực quốc tế: Tác giả trích dẫn định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), xác định một khoản cho vay là nợ có vấn đề khi nợ gốc hoặc lãi đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản nợ đã được tái cơ cấu/gia hạn, hoặc nợ dưới 90 ngày nhưng có cơ sở nghi ngờ về khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ. Ngoài ra, văn bản cũng đề cập tiêu chí phân loại nợ của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB).
    • Quy định nội bộ của Vietcombank: Dựa trên Quyết định số 106/QĐ-NHNT.CSTD của Tổng giám đốc Vietcombank về quản lý và xử lý nợ có vấn đề. Khái niệm nợ có vấn đề tại ngân hàng bao gồm: (i) Khách hàng có nợ xấu theo quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro của Ngân hàng Nhà nước và Vietcombank; (ii) Khách hàng có nợ đã được xử lý bằng dự phòng rủi ro (DPRR) chưa thu hồi được đang theo dõi ngoại bảng; (iii) Khách hàng chưa bị chuyển nợ xấu nhưng xuất hiện các dấu hiệu rủi ro (hoạt động sản xuất kinh doanh gián đoạn, đầu tư đình trệ, sử dụng vốn vay sai mục đích, thiếu thiện chí hợp tác, bị khởi tố/khởi kiện, hoặc có nợ xấu tại tổ chức tín dụng khác).
    • Công thức khái quát hóa của tác giả: Nợ có vấn đề = Nợ xấu (nhóm 3 đến nhóm 5) + Nợ nhóm 2 + Các khoản nợ đã xử lý DPRR đang hạch toán ngoại bảng. Tuy nhiên, phạm vi phân tích thực tế trong khóa luận tập trung chủ yếu vào các khoản nợ xấu (nhóm 3, 4, 5) và các khoản nợ đã sử dụng DPRR theo dõi ngoại bảng.
    • Khung pháp lý điều chỉnh: Thông tư 02/2013/TT-NHNN và Thông tư 09/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước quy định về phân loại nợ theo phương pháp định lượng (Điều 10) và phương pháp định tính (Điều 11) thành 5 nhóm; Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 quy định về giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ); Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng; Thông tư 36/2014/TT-NHNN và Thông tư 39/2016/TT-NHNN.
    • Quy trình xử lý nợ: Văn bản mô tả quy trình nghiệp vụ 5 bước gồm: Bước 1: Nhận biết nợ có vấn đề; Bước 2: Thu thập thông tin và đánh giá; Bước 3: Lập kế hoạch xử lý; Bước 4: Thực hiện kế hoạch xử lý (qua phương pháp khai thác hoặc phương pháp thanh lý); Bước 5: Kiểm tra và đánh giá kết quả.
    • Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả: Tác giả xây dựng hệ thống chỉ tiêu định lượng (Tỷ lệ nợ xấu = Dư nợ xấu / Tổng dư nợ; Tỷ lệ thu nợ đã sử dụng DPRR = Số tiền thu nợ đã sử dụng DPRR / Tổng dư nợ đã sử dụng DPRR; Dư nợ xóa / Tổng dư nợ DPRR; Số tiền xử lý nợ xấu / Tổng dư nợ xấu) và chỉ tiêu định tính (Thời gian xử lý nợ, Sự can thiệp của cơ quan pháp lý).
  • Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng phương pháp định tính kết hợp với các kỹ thuật thống kê mô tả, tổng hợp, phân tích chỉ số tài chính, so sánh đối chiếu số liệu tuyệt đối và tương đối qua chuỗi thời gian 3 năm (2016 - 2018).

  • Nguồn dữ liệu: Toàn bộ dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp được cung cấp chính thức từ Vietcombank Chi nhánh Hoàn Kiếm, bao gồm: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQ HĐKD), Báo cáo phân loại nợ (BC PLN), Báo cáo nợ có vấn đề (BC NCVĐ), và Báo cáo thu hồi nợ đã sử dụng dự phòng rủi ro giai đoạn từ năm 2016 đến tháng 12/2018.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và lý luận cơ bản về công tác xử lý nợ của Ngân hàng thương mại

Chương 1 tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến xử lý nợ xấu. Về nghiên cứu quốc tế, tác giả trích dẫn quan điểm của cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Paul Volcker (2018) về tính tất yếu của nợ xấu trong hoạt động ngân hàng, cùng báo cáo trên Tạp chí Tài chính Ấn Độ (2018) của J. Christopher Flowers về giải pháp xử lý nợ xấu thông qua các công ty tái cấu trúc tài sản. Về nghiên cứu trong nước, chương này tổng thuật đề tài cấp Bộ (2019) do Nguyễn Thị Hiền chủ nhiệm về hoàn thiện khung pháp lý xử lý ngân hàng có vấn đề gắn với Nghị quyết 42/2017/QH14; nghiên cứu của Nguyễn Hoài Phương (2015) về quản lý nợ xấu theo Hiệp ước Basel II; và nghiên cứu của Hoàng Thị Duyên (2018) về phát triển thị trường mua bán nợ và vai trò của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

Về mặt lý thuyết, chương 1 phân tích chi tiết quy định phân loại nợ thành 5 nhóm theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN, phân định giữa phương pháp định lượng theo số ngày quá hạn và phương pháp định tính dựa trên khả năng suy giảm dòng tiền của khách hàng. Tác giả chia nguyên nhân dẫn đến nợ có vấn đề thành ba nhóm:

  1. Nguyên nhân khách quan: Rủi ro thiên tai dịch bệnh, sự biến động chu kỳ kinh tế, cạnh tranh gay gắt từ hội nhập quốc tế, chính sách vĩ mô thay đổi và hiện tượng bất đối xứng thông tin dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức.
  2. Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng: Năng lực quản trị điều hành yếu kém, phân cấp cấp tín dụng "trực tuyến cá nhân" thiếu giám sát; cán bộ tín dụng vi phạm quy trình (chú trọng thẩm định ban đầu nhưng lơ là kiểm tra dòng tiền sau giải ngân); suy thoái đạo đức nghề nghiệp, câu kết với khách hàng.
  3. Nguyên nhân từ phía khách hàng: Doanh nghiệp đầu tư đa ngành ngoài lĩnh vực cốt lõi (bất động sản, chứng khoán), năng lực tài chính mỏng, báo cáo tài chính thiếu minh bạch, sử dụng vốn vay sai mục đích, gian lận hồ sơ hoặc cố tình chây ì không trả nợ.

Chương này cũng tổng kết kinh nghiệm xử lý nợ theo mô hình tập trung (điển hình là Công ty Xử lý Tài sản Quốc gia Hoa Kỳ - RTC thành lập năm 1989, đã xử lý 465 tỷ USD tài sản nợ) và mô hình phân tán (các công ty AMC trực thuộc 4 ngân hàng thương mại nhà nước thành lập từ năm 2000 với vốn điều lệ 30 tỷ đồng/công ty; Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp - DATC thành lập năm 2004 với vốn 2.000 tỷ đồng). Qua đó, tác giả rút ra các bài học về chất lượng tài sản bảo đảm, tính thanh khoản của thị trường mua bán nợ, năng lực thẩm định của cán bộ và tính đồng bộ của hành lang pháp lý.

Chương 2: Thực trạng công tác xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàn Kiếm

Chương 2 trình bày tổng quan về Vietcombank Chi nhánh Hoàn Kiếm, được thành lập ngày 21/11/2008 trên cơ sở nâng cấp Phòng giao dịch số 1 thuộc Sở giao dịch Vietcombank, có trụ sở tại số 23 Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Bộ máy điều hành gồm 1 Giám đốc và 3 Phó Giám đốc, chỉ đạo các phòng chức năng: Phòng Dịch vụ khách hàng, Phòng Khách hàng doanh nghiệp, Phòng Khách hàng cá nhân, Phòng Ngân quỹ, Phòng Hành chính nhân sự và hệ thống các Phòng giao dịch trực thuộc.

Về kết quả kinh doanh giai đoạn 2016 - 2018:

  • Lợi nhuận trước thuế: Tăng từ 94.978 triệu đồng (năm 2016) lên 405.978 triệu đồng (năm 2018), ghi nhận mức tăng 69,9% so với năm 2017. Thu nhập lãi thuần năm 2018 đạt 430.269 triệu đồng (tăng 24,52% so với 2017), chiếm tỷ trọng 31,02% trong tổng thu nhập hoạt động. Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm mạnh 44,45% từ 29.226 triệu đồng (năm 2017) xuống còn 16.245 triệu đồng (năm 2018).
  • Huy động vốn: Tổng vốn huy động năm 2018 đạt 12.435 tỷ đồng (tăng 10,6% so với 2017), trong đó nguồn tiền gửi tiết kiệm dân cư chiếm ưu thế áp đảo với 9.789 tỷ đồng (tỷ trọng 74,8%), tiền gửi tổ chức kinh tế chiếm 3.646 tỷ đồng (tỷ trọng 25,2%).
  • Hoạt động cho vay: Ngân hàng chuyển dịch cơ cấu tín dụng sang cho vay ngắn hạn nhằm bảo đảm thanh khoản, dư nợ ngắn hạn năm 2018 đạt 7.220 tỷ đồng (chiếm 85,8%), trong khi nợ trung - dài hạn giảm còn 1.194 tỷ đồng (chiếm 14,2%). Tín dụng bằng nội tệ duy trì tỷ trọng trên 70% tổng dư nợ.

Về thực trạng nợ có vấn đề và công tác xử lý tại chi nhánh:

  • Diễn biến nợ xấu: Dư nợ xấu giảm qua các năm, từ 88.955 triệu đồng (tỷ lệ 1,4% tổng dư nợ) năm 2016 xuống 80.034 triệu đồng năm 2017 và giảm tiếp xuống 33.xxx triệu đồng năm 2018 (giảm 17,3% so với 2017). Đến năm 2018, nợ xấu nhóm 4 chỉ còn chiếm 0,1% tổng dư nợ và nợ nhóm 5 bằng 0.
  • Tỷ lệ nợ có vấn đề tổng thể: Ghi nhận xu hướng giảm liên tục từ 9,6% (năm 2016) xuống 7,0% (năm 2017) và còn 4,7% (cuối năm 2018).
  • Trích lập và sử dụng DPRR: Số dư nợ sử dụng quỹ DPRR hạch toán ngoại bảng năm 2016 là 142.492 triệu đồng, năm 2017 tăng lên 156.468 triệu đồng và đến năm 2018 giảm về 119.102 triệu đồng. Lũy kế đến cuối năm 2018, số tiền thu hồi nợ sau khi đã xử lý bằng dự phòng của chi nhánh đạt 24.000 triệu đồng (tương đương khoảng 30% tổng số nợ đã xử lý bằng DPRR).
Chỉ tiêu phân tích nợ Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ (%) 1,4% < 1,4% 0,1% (nhóm 4)
Tỷ lệ nợ có vấn đề (%) 9,6% 7,0% 4,7%
Dư nợ sử dụng DPRR ngoại bảng (triệu đồng) 142.492 156.468 119.102
Thu hồi nợ sau xử lý DPRR lũy kế (triệu đồng) - - 24.000
Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (triệu đồng) 21.245 29.226 16.245
  • Cơ cấu nợ có vấn đề: Theo kỳ hạn, nợ ngắn hạn chiếm bình quân 58% - 59%, nợ trung - dài hạn chiếm 41% - 42%. Theo loại tiền tệ, nợ có vấn đề bằng VNĐ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 54% - 59%, bằng USD chiếm 37% - 40%, các ngoại tệ khác chiếm 4% - 6%.
  • Phân loại theo khả năng phục hồi: Tại thời điểm cuối năm 2018, các khoản nợ có thể phục hồi chiếm 75% tổng nợ có vấn đề (chi nhánh áp dụng gia hạn nợ, miễn giảm lãi). Nhóm nợ không thể phục hồi chiếm 35% tổng nợ có vấn đề (văn bản trích dẫn tỷ lệ này theo báo cáo chi nhánh). Đối với nhóm nợ không thể phục hồi, các biện pháp mạnh được áp dụng chủ yếu là khởi kiện và phát mại tài sản bảo đảm. Phương thức bán nợ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng 3% tổng dư nợ có vấn đề do hạn chế về đối tác và tính thanh khoản của tài sản máy móc đặc thù. Phương thức nhận tài sản cấn trừ nợ hầu như không phát sinh trong hai năm 2017 - 2018.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàn Kiếm

Dựa trên các tồn tại và nguyên nhân đã phân tích ở Chương 2, tác giả đề xuất các nhóm định hướng giải pháp cụ thể:

  1. Hoàn thiện công tác thẩm định và quản lý rủi ro trước và sau cho vay: Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, thực hiện nghiêm túc quy trình kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay sau giải ngân để kịp thời nhận diện nợ có vấn đề ngay từ nhóm 1 và nhóm 2, khắc phục tình trạng chỉ tập trung kiểm tra hồ sơ ban đầu.
  2. Nâng cao hiệu quả xử lý tài sản bảo đảm: Chuẩn hóa công tác định giá tài sản thế chấp sát với giá trị thị trường, bảo đảm tính pháp lý của hợp đồng bảo đảm; đẩy nhanh tiến độ phối hợp với các trung tâm bán đấu giá tài sản và cơ quan thi hành án dân sự nhằm rút ngắn thời gian xử lý các vụ việc khởi kiện (vốn thường kéo dài trên 02 năm).
  3. Nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức cán bộ: Thường xuyên đào tạo kỹ năng định giá, quản lý tài sản và kiến thức pháp lý cho cán bộ xử lý nợ; tăng cường kiểm tra nội bộ nhằm ngăn ngừa sai phạm quy trình và hiện tượng tiêu cực đạo đức nghề nghiệp.
  4. Đẩy mạnh thu hồi các khoản nợ đã xử lý bằng dự phòng rủi ro: Tiếp tục theo dõi chặt chẽ các khoản nợ đã xuất toán ngoại bảng, tích cực khai thác nguồn thu từ khách hàng để gia tăng thu nhập bất thường cho ngân hàng.
  5. Kiến nghị hoàn thiện môi trường pháp lý: Tận dụng các cơ chế hỗ trợ theo Nghị quyết 42/2017/QH14 về quyền thu giữ tài sản bảo đảm và thủ tục tố tụng rút gọn; đề xuất mở rộng và chuyên nghiệp hóa thị trường mua bán nợ tập trung để thúc đẩy việc bán nợ ra ngoài hệ thống.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính kèm dữ liệu thực tế:
    • Phản ánh chính xác kết quả thu hẹp danh mục nợ rủi ro tại Vietcombank Hoàn Kiếm: Tỷ lệ nợ có vấn đề giảm liên tục từ mức 9,6% năm 2016 xuống 7,0% năm 2017 và chỉ còn 4,7% năm 2018.
    • Tỷ lệ nợ xấu nội bảng được kiểm soát ở mức thấp, năm 2018 chỉ còn 0,1% nợ nhóm 4 và hoàn toàn không còn nợ nhóm 5.
    • Làm rõ vai trò của công cụ dự phòng rủi ro: Dư nợ xử lý DPRR đưa ra theo dõi ngoại bảng đạt đỉnh 156.468 triệu đồng năm 2017 trước khi giảm xuống 119.102 triệu đồng năm 2018.
    • Ghi nhận số liệu thu hồi nợ sau khi đã sử dụng DPRR đạt lũy kế 24.000 triệu đồng (tương đương tỷ lệ thu hồi 30%), đóng góp trực tiếp vào lợi nhuận bất thường của chi nhánh.
    • Chỉ rõ cơ cấu áp dụng các biện pháp xử lý: Phương thức khởi kiện và phát mại tài sản chiếm đa số trong nhóm nợ không phục hồi; biện pháp bán nợ bị hạn chế ở mức 3%; phương thức gán nợ, cấn trừ tài sản không được triển khai trong giai đoạn 2017 - 2018.
  • Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:
    • Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về xử lý tài sản bảo đảm thông qua việc phối hợp chặt chẽ với cơ quan thi hành án và trung tâm đấu giá.
    • Tăng cường giám sát sau cho vay để ngăn ngừa nợ xấu phát sinh từ giai đoạn trong hạn.
    • Tận dụng hành lang pháp lý thí điểm của Nghị quyết số 42/2017/QH14 để giải phóng các khoản nợ tồn đọng có TSBĐ.
  • Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn:
    • Khóa luận đã hệ thống hóa các khái niệm chuyên sâu về nợ có vấn đề, làm rõ sự khác biệt giữa nợ xấu nội bảng và nợ có vấn đề theo nghĩa rộng (bao gồm cả nợ ngoại bảng xử lý DPRR) trên cơ sở kết hợp giữa chuẩn mực quốc tế (IMF) và quy định nội bộ của Vietcombank.
    • Cung cấp bộ dữ liệu thực chứng chi tiết về công tác xử lý nợ tại một chi nhánh ngân hàng thương mại cấp 1 trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn tái cơ cấu 2016 - 2018.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Giới hạn không gian và thời gian: Dữ liệu nghiên cứu chỉ gói gọn trong phạm vi một chi nhánh (Vietcombank Chi nhánh Hoàn Kiếm) trong chuỗi số liệu 3 năm (2016 - 2018), do đó chưa phản ánh được toàn cảnh bức tranh xử lý nợ trên toàn hệ thống Vietcombank hoặc so sánh đa chiều với các ngân hàng thương mại khác.
    • Phương pháp nghiên cứu: Đề tài thuần túy sử dụng phương pháp định tính và thống kê mô tả số liệu thứ cấp, chưa áp dụng các mô hình định lượng kinh tế lượng để đo lường mức độ tác động của từng nhân tố vĩ mô và vi mô đến xác suất phát sinh nợ có vấn đề.
    • Hạn chế từ tác giả: Tác giả tự nhận định kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn trong ngành ngân hàng còn những điểm giới hạn nhất định, một số số liệu phân tích chưa phản ánh được đầy đủ kết quả của năm tiếp theo do thời điểm hoàn thành khóa luận là tháng 05/2019.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu ra toàn bộ hệ thống Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam hoặc so sánh giữa các nhóm ngân hàng thương mại cổ phần có vốn nhà nước và tư nhân.
    • Ứng dụng các mô hình hồi quy (Logit, Probit) để kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến nợ có vấn đề và hiệu quả thu hồi nợ.
    • Nghiên cứu đánh giá tác động thực tế của Nghị quyết 42/2017/QH14 sau khi nghị quyết này hết hiệu lực thí điểm.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng: Cung cấp tư liệu thực tế và cách tiếp cận phương pháp luận trong việc nghiên cứu nợ xấu, nợ có vấn đề, quy trình phân loại nợ theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN và kỹ thuật hạch toán ngoại bảng bằng quỹ dự phòng rủi ro.
  • Người làm đề tài nghiên cứu tương tự: Có thể tham khảo cách xây dựng hệ thống chỉ tiêu định tính và định lượng để đánh giá hiệu quả xử lý nợ, cách phân tích cấu trúc dư nợ theo kỳ hạn, loại tiền tệ và khả năng phục hồi.
  • Cán bộ tín dụng và cán bộ xử lý nợ: Cung cấp các phân tích thực tế về quy trình xử lý nợ 5 bước, những khó khăn pháp lý thường gặp trong việc xử lý tài sản thế chấp và thủ tục thi hành án tại địa bàn thực tế.

Phần đáng tham khảo nhất trong công trình là hệ thống số liệu chi tiết tại Chương 2 về biến động nợ trích lập DPRR ngoại bảng (119.102 triệu đồng năm 2018) và tỷ lệ thu hồi nợ sau dự phòng (đạt 24.000 triệu đồng, tương đương khoảng 30%), phản ánh rõ nét bản chất kỹ thuật của việc làm sạch bảng cân đối kế toán tại các ngân hàng thương mại.


Câu hỏi thường gặp

1. Nợ có vấn đề theo định nghĩa trong khóa luận bao gồm những bộ phận nào?

Theo khóa luận, nợ có vấn đề được khái quát bao gồm: nợ xấu nội bảng (các nhóm 3, 4, 5 theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN), nợ nhóm 2 và các khoản nợ đã sử dụng dự phòng rủi ro (DPRR) hiện đang theo dõi ngoại bảng. Tuy nhiên, trong phần phân tích thực trạng của đề tài, tác giả tập trung chủ yếu vào các khoản nợ xấu từ nhóm 3 đến nhóm 5 và các khoản nợ đã xử lý DPRR hạch toán ngoại bảng.

2. Tỷ lệ nợ có vấn đề và nợ xấu tại Vietcombank Chi nhánh Hoàn Kiếm giai đoạn 2016 - 2018 biến động ra sao?

Tỷ lệ nợ có vấn đề của chi nhánh giảm liên tục qua 3 năm: từ 9,6% năm 2016 xuống 7,0% năm 2017 và đạt 4,7% vào cuối năm 2018. Dư nợ xấu nội bảng giảm từ 88.955 triệu đồng (tỷ lệ 1,4%) năm 2016 xuống 80.034 triệu đồng năm 2017 và giảm xuống 33.xxx triệu đồng năm 2018, trong đó nợ nhóm 4 chỉ còn chiếm 0,1% và nợ nhóm 5 bằng 0.

3. Số dư nợ sử dụng dự phòng rủi ro và kết quả thu hồi nợ sau xử lý tại chi nhánh đạt bao nhiêu?

Dư nợ sử dụng DPRR theo dõi ngoại bảng tại chi nhánh năm 2016 là 142.492 triệu đồng, năm 2017 tăng lên 156.468 triệu đồng và năm 2018 giảm còn 119.102 triệu đồng. Lũy kế đến cuối năm 2018, chi nhánh đã thu hồi được 24.000 triệu đồng nợ sau xử lý bằng DPRR, đạt tỷ lệ xấp xỉ 30% so với tổng số nợ đã xử lý dự phòng.

4. Cơ cấu nợ có vấn đề tại chi nhánh phân theo kỳ hạn và loại tiền tệ có đặc điểm gì?

Về kỳ hạn vay, dư nợ có vấn đề ngắn hạn chiếm tỷ trọng chi phối bình quân khoảng 58% - 59%, trong khi nợ trung và dài hạn chiếm 41% - 42%. Về loại tiền vay, nợ có vấn đề bằng VNĐ chiếm tỷ trọng lớn nhất (54% - 59%), tiếp theo là nợ bằng USD (37% - 40%) và các ngoại tệ khác chiếm khoảng 4% - 6%.

5. Tại sao phương thức bán nợ và cấn trừ tài sản ít được áp dụng tại Vietcombank Hoàn Kiếm?

Biện pháp bán nợ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng 3% tổng dư nợ có vấn đề do khó tìm kiếm đối tác mua nợ, tài sản thế chấp mang tính đặc thù cao và thị trường mua bán nợ chưa phát triển chuyên nghiệp. Trong khi đó, biện pháp nhận tài sản cấn trừ nợ gần như không được áp dụng trong giai đoạn 2017 - 2018 do ngân hàng không có nhu cầu mở rộng mặt bằng trụ sở kinh doanh tại thời điểm này.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Trung Tùng đã phản ánh chi tiết thực trạng công tác quản lý và xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàn Kiếm giai đoạn 2016 - 2018. Dựa trên khung pháp lý của Thông tư 02/2013/TT-NHNN và quy định nội bộ của Vietcombank, công trình đã phân tích số liệu về nợ xấu, nợ hạch toán ngoại bảng qua quỹ dự phòng rủi ro cùng cơ cấu nợ theo kỳ hạn và loại tiền tệ. Kết quả nghiên cứu chứng minh tỷ lệ nợ có vấn đề của chi nhánh đã giảm từ 9,6% xuống 4,7%, đồng thời nêu rõ các trở ngại trong việc phát mại tài sản bảo đảm và thi hành án kéo dài. Các giải pháp được tác giả đề xuất tập trung vào kiểm soát quy trình tín dụng, chuẩn hóa định giá tài sản và tận dụng cơ chế của Nghị quyết 42/2017/QH14 nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi nợ cho ngân hàng.