CHƯƠNG 1. TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ TÁC DONG CUA VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA, CHÍNH SÁCH TIÊN TỆ NHẰM CHÓNG SUY THOÁI KINH TẺ VÀ LẠM PHÁT 1. Tổng quan nghiên cứu Các nghiên cứu về chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ và sự tác động của chúng đến lạm phát đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước, trong một số công trình tiêu biéu như sau: 1. Nghiên cứu trong nước Nhiều nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam đã chứng minh chính sách tài khoá và tiền tệ được sử dụng nhằm chống suy thoái kinh tế và có ảnh hưởng tới lạm phát Những nghiên cứu sử dụng công cụ CSTK và CSTT chỗng suy thoái kinh tế Tô Ngọc Hưng (2011) tập trung đề cập đến sự phối hợp giữa CSTK và CSTT nhằm chống suy thoái kinh tế do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007- 2009, từ đó khăng định rằng sự phối hợp giữa 2 công cụ chính sách vĩ mô này trong điều kiện môi trường kinh tế vĩ mô có sự biến động phức tạp là rất cần thiết nhằm 6n định kinh tế vĩ mô và chống suy thoái kinh tế.
Tác giả cũng đã đi sâu phân tích sự phối kết hợp giữa 2 công cụ CSTK và CSTT nhằm chống suy thoái kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn 2007-2009. Nhưng nghiên cứu này chưa đề cập đến khả năng gây lạm phát từ việc sử dụng các công cụ chính sách này. Lê Xuân Nghĩa (2011) đã làm rõ nguyên lý về sự phối hợp giữa CSTK và CSTT trong bối cảnh kinh tế vĩ mô biến động, từ đó đi sâu phân tích sự phối hợp giữa CSTK và CSTT tại một số nước và Việt Nam trong giai đoạn 2007-2009. Qua đó đưa ra một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam.
Tuy vậy, bài viết này cũng chưa đề cập sự tác động của việc sử dụng các công cụ này có gây ra lạm phát hay không. Nguyễn Thị Kim Thanh (2012) tập trung phân tích và làm rõ những nguyên tắc căn bản nhằm bảo đảm tính hiệu quả trong phối hợp giữa CSTK và CSTT nhằm chống suy thoái kinh tế. Những nguy cơ tiềm ân gây lạm phát khi sử dụng các công cụ CSTK và CSTT cũng đã được tác giả đề cập nhưng còn khá sơ sải. 6 Những nghiên cứu về suy thoái kinh tế do đại dịch COVID-19 và các gói hỗ trợ chống suy thoái kinh tế Thúy Vi (2020) cung cấp các tư liệu dự báo của OECD về suy thoái kinh tế do sự tác động của đại dịch COVID-19 ở các nước phat triển như: kinh tế Anh có thể giảm 11,5%, Tây Ban Nha, Pháp và Y sẽ giảm trên 11%, Mỹ sẽ giảm 7,39%.
Minh Đức (2020) đã đề cập gói hỗ trơ kích thích kinh tế rất lớn (khoảng 2.200 tỷ USD) của Mỹ ngay từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát đầu năm 2020 nhằm ngăn chặn suy thoái kinh tế va khang định gói tài khóa nhằm hỗ trợ nền kinh tế Mỹ đã phát huy tác dụng tích cực. Hoài Hà (2020) cho biết nền kinh tế Nhật Bản đã chính thức rơi vào suy thoái trong quý I⁄2020 (giảm 4,8%) sau 2 quý tăng trưởng âm liên tiếp, đồng thời cho biết gói kích thích kinh tế được Chính phủ nước này thông qua lần đầu lên tới khoản 989 tỷ USD nhằm ngăn chặn đà suy thoái kinh tế. An Việt (2020) cho biết ngay từ giai đầu đại dịch bùng phát chính phủ Đức đã tung ra gói giải cứu nền kinh tế nước này lên tới 750 tỷ EUR. Bùi Hiền (2020) đã đề cập đến gói hỗ trợ tài khóa của Trung Quốc lên tới khoản 500 tỷ USD nhăm ngăn chặn những tác động tiêu cực do đại dịch COVID-19.
Thế Vũ (2020) cho biết Chính phủ Singapore liên tục tung ra các gói hỗ trợ tài khóa nhằm ứng phó với tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19, bao gồm cả hỗ trợ cho dân chúng. Mọi người dan từ 21 tuổi trở lên được nhận 600 SGD qua tài khoản ngân hàng và hỗ trợ cho các doanh nghiệp thông qua gói “ngân sách kiên cường” trị giá 33 ty SGD (khoảng 23,5 tỷ USD). Thu Hoài (2020) đã thống kê tư liệu về các gõi hỗ trợ được ngân hàng trung ương nhiều nước tung ra nhằm chống suy thoái kinh tế. Nguyễn Trọng Tài (2020) đề cập các gói hỗ trợ tài khóa nhằm ngăn ngừa các tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 đối với nền kinh tế xã hội ở một số nước và từ đó đưa ra một số khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam, trong đó có khuyến nghị về kha năng gây lạm phát từ các gói hỗ trợ tài khóa 6 ạt của hàng loạt nước.
Nguyễn Trọng Tài và Nguyễn Thị Huyền Trang (2021) tiếp tục đưa ra một số khuyến nghị về cách thức hỗ trợ nhằm ngăn chặn đà suy thoái kinh tế có thể gây ra các bat 6n đối với thị trường tài chính toàn cầu. Phạm Văn Thiện (2020) đã đề cập các số liệu về gói tài khóa mà Chính phủ Việt Nam tung ra nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trước các tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19. Các nghiên cứu về tác động của các gói hỗ trợ chống suy thoái kinh tế dén lạm phát Cuong ( 2019) đã ứng dụng mô hình VAR cùng với dit liệu chuỗi thời gian từ 1986 đến 2018 để đưa kết luận rằng Việt Nam năm trong nhóm các nước áp dụng chính sách tài khóa quá mức và thâm hụt ngân sách quốc gia có ảnh hưởng mạnh mẽ và cùng chiều lên lạm phát. Tác giả cũng nhận định Chính phủ phải tuân theo một chính sách tài khóa chặt chẽ hơn dé cân bằng ngân sách trong dài hạn.
Khieu (2014) đã sử dụng dữ liệu theo tháng từ tháng 01/1995 đến tháng 12/2012 cùng với mô hình SVAR. Kết quả nghiên cứu cho thấy thâm hụt ngân sách quốc gia không có tác động đến cung tiền và từ đó không có tác động đến lạm phát. Hoang and Thi (2020) sử dụng mô hình VAR cùng chuỗi dữ liệu được thu thập từ quý 1 năm 2005 đến quý 4 năm 2017 và khang định rang khi mức cung tiền tăng lên sẽ làm chỉ số giá tiêu dùng CPI giữ nguyên ở quý đầu tiên nhưng sẽ tăng lên ở quý tiếp theo. Nghiên cứu quốc tế Các nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa sử dụng công cụ CSTK và CSTT đến lạm phát Sims (1980) đã sử dụng mô hình vector tự hồi quy VAR cũng như các ứng dụng của nó trong nghiên cứu hệ thống nhiều phương trình đồng thời có trễ.
Nghiên cứu này cho răng việc sử dụng mô hình VAR giúp dé dàng tính toán được mỗi quan hệ giữa các cú sốc với các biến số trong nền kinh tế bằng ham phản ứng day (impulse- response function) cũng như đóng góp của mỗi cú sốc lên sự thay đôi đó thông qua phân rã sai số dự báo (focast error decomposition). Cụ thể: NHTW sẽ phản ứng với xu hướng tăng của lạm phát dự báo bằng cách tăng lãi suất. Nghiên cứu này bổ sung thêm biến giá cả hàng hóa (commodity prices) vào trong mô hình VAR ban đầu dé giảm nhẹ hiện tượng câu đó về giá. Togo (2007) đã tập trung phân tích những vấn đề có tính nguyên lý trong phối hợp giữa CSTK và CSTT nhằm chống suy thoái kinh tế qua đó khẳng định rằng việc sử dụng 2 công cụ chính sách là cần thiết nhằm chống suy thoái kinh tế nhưng phải phối hợp với van dé quản lý nợ công nhằm bao đảm sự 6n định của môi trường kinh tế vĩ mô, ngăn ngừa nguy cơ lạm phát.
Hasan & Isgut (2009) đã đề cập kinh nghiệm phối hợp CSTK và CSTT ở một số nước Châu Á-Thái Bình Dương nhằm ngăn chặn suy thoái kinh tế do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009. Nghiên cứu khang định sự phối hợp CSTK và CSTT nhằm chống suy thoái kinh tế là cần thiết, nhưng cũng khiến môi trường kinh tế vĩ mô bất 6n và do vậy, dé sự phối hợp giữa 2 công cụ chính sách nay đạt hiệu quả thì phải có các giải pháp xử lý các bat ôn tiềm ân trên thị trường tài chính thông qua sự phối kết hợp đồng bộ và hiệu quả giữa CSTT và CSTK. Seddighi (2011) đã đề cập sự tác động của CSTT đến tăng trưởng kinh té và thương mại quốc tế và những khuôn khổ cho việc thực thi CSTT tại các thị trường dang phát triển và mới nỗi. Sự phối kết hợp giữa các công cụ chính sách tài khóa và tiền tệ cũng đã được nghiên cứu này đề cập, xong chủ yếu là sử dụng CSTK nhằm phát huy hiệu quả của CSTT trong tăng trưởng kinh tế và thương mại quốc tế.
Sự tác động của các CSTK và CSTT đến lạm phát tiềm ẩn trong các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi như thé nao thì chưa được nghiên cứu đề cập. Lotfalipour (2013) chứng minh rằng các quốc gia có mức độ mở cửa thương mại quốc tế cao hơn sẽ đối mặt với tỷ lệ lạm phát cao hơn do tình trạng “nhập khẩu” lạm phát. Bowdler & Malik (2017) thông qua sử dụng chuỗi số liệu để phân tích và khang định rang các nền kinh tế mở cửa hon trải qua mức biến động lạm phát thấp hơn, nhat là với các quôc gia đang phát triên và các thị trường mới nôi. Islam & cộng sự (2017) khăng định hai công cụ nhằm thực hiện chính sách tiền tệ là cung tiền và tỷ giá thuộc các nhân tổ tác động tới tỉ lệ lạm phát tại Malaysia.
McKibbin & Fernando (2021) đã đề cập đến các tác động của đại dịch COVID-19 đến kinh tế vi mô toàn cầu thông qua 7 kịch bản khác nhau, từ đó dé xuất các quốc gia phải có các giải pháp ứng phó. Khoảng trồng nghiên cứu Từ xem xét tong quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế cho thay rằng có khá nhiều nghiên cứu dé cập đến vai trò của các công cụ CSTK và CSTT nhằm chống suy thoái kinh tế và sự tác động của chúng đến lạm phát. Nhiều nghiên cứu đã sử dụng mô hình định lượng hồi quy VAR hoặc SVAR dé lượng hóa sự tác động của từng biến số đến lạm phát trong nền kinh tế trong từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thé, nhưng cho đến nay chưa có bất cứ nghiên cứu nào lượng hóa việc sử dụng các công cụ CSTK và CSTT nhằm chống suy thoái kinh tế do tác động của đại dịch COVID-19 sẽ tác động như thế nào đến lạm phát. Trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế nên tình trạng “nhập khâu” LP là khó tránh khỏi nhưng các nghiên cứu trước đây chưa làm rõ được thực tế này.