CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về xếp hạng tín dụng 1.1 Khái niệm xếp hạng tín dụng Xếp hạng tín dụng (credit ratings) là thuật ngữ do John Moddy đưa ra vào năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đường sắt” khi tiến hành nghiên cứu, phân tích và công bố bảng xếp hạng tín dụng lần đầu tiên cho 1.500 loại trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu gồm 3 chữ cái A, B, C được xếp lần lượt là AAA đến C. Hiện nay, những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tế. Ở Việt Nam thuật ngữ xếp hạng tín dụng đang tồn tại dưới nhiều tên gọi như: xếp hạng tín dụng, xếp hạng doanh nghiệp, định dạng tín dụng, xếp hạng khách hàng, xếp hạng tín dụng. Trong đề tài này tác giả đề xuất cách gọi là “xếp hạng tín dụng” Cho đến nay, khó có thể đưa ra một khái niệm rõ ràng về xếp hạng tín dụng.
Tùy theo góc độ nghiên cứu mà chúng ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này: Theo Bohn, John A viết trong cuốn “Phân tích rủi ro trên các thị trường đang chuyển đổi” thì “Xếp hạng tín dụng là sự đánh giá về khả năng một nhà phát hành có thể thanh toán đúng hạn cả gốc và lãi đối với một loại chứng khoán trong suốt thời gian tồn tại của nó”. Theo công ty Moody’s thì “Xếp hạng tín dụng là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ”. Theo tự điển thị trường chứng khoán thì “xếp hạng tín dụng là cách ước tính chính thức tín dụng từ trước đến nay của cá nhân hay công ty về khả năng chi trả bao gồm tất cả các số liệu kiểm tra, phân tích, hồ sơ lưu trữ về khả năng trách dụng tín dụng của cá nhân và công ty kinh doanh”. 2 Từ các định nghĩa trên, khái niệm về XHTD có thể được khái quát một cách đơn giản như sau “Xếp hạng tín dụng là việc phân loại, sắp xếp một đối tượng trên cơ sở đo lường rủi ro tín dụng”.2 Phân loại và đối tượng xếp hạng tín dụng - XHTD cá nhân: áp dụng đối với các khách hàng cá nhân tham gia vào hoạt động tín dụng của các NHTM.
Việc XHTD cá nhân được thực hiện dựa trên lịch sử vay, trả nợ, số lượng và loại tài sản đảm bảo mà cá nhân đó đang sở hữu, những khoản thanh toán chậm hoặc nợ quá hạn… - XHTD doanh nghiệp: XHTD doanh nghiệp về cơ bản dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của doanh nghiệp để đánh giá. - XHTD quốc gia: đánh giá mức độ tin cậy của một quốc gia để có thể so sánh môi trường đầu tư giữa các quốc gia. Việc XHTD các quốc gia dựa trên các chỉ số phát triển chung như: chỉ số phát triển các ngành, chỉ số an toàn vốn đầu tư, tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia, mức độ ổn định chính trị, … - XHTD các công cụ đầu tư như: trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ và các loại trái phiếu, kì phiếu ngân hàng, cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường,…Việc XHTD các công cụ được thực hiện dựa trên một số chỉ tiêu như: khả năng thanh khoản, kì hạn, lãi suất, mệnh giá, các rủi ro có thể gặp phải. Ở nước ta hiện nay mới chỉ tập trung xếp hạng các doanh nghiệp và cá nhân.
Xếp hạng quốc gia và các công cụ đầu tư thì chúng ta chưa thực hiện mà chỉ có những tổ chức xếp hạng lớn như Moody’s, S&P hay Fitch, … thực hiện.3 Các phương pháp xếp hạng tín dụng Hiện này có nhiều phương pháp xếp hạng tín dụng, điển hình là phương pháp chuyên gia và phương pháp thống kê mà các NHTM đang áp dụng.1 Phương pháp chuyên gia Phương pháp chuyên gia là phương pháp thu thập và xử lý những đánh giá dự báo bằng cách tập hợp và hỏi ý kiến các chuyên gia giỏi thuộc một lĩnh vực hẹp của 3 khoa học. Trong XHTD phương pháp này dựa trên những kinh nghiệm đã được đúc kết của các chuyên gia nhằm có thể tìm ra bản chất của mối quan hệ giữa nguy cơ phá sản và các nhân tố ảnh hưởng đến nó. Kinh nghiệm được tích lũy từ: - Những quan sát và trải nghiệm thực tế mang tính chủ quan. - Phỏng đoán về mối tương quan của việc kinh doanh và có nguy cơ phá sản.
- Các kiến thức kinh tế liên quan tới việc có nguy cơ phá sản. Ưu điểm, nhược điểm của phương pháp chuyên gia: Ưu điểm: - Tận dụng được kinh nghiệm và tri thức chuyên sâu của các chuyên gia trong chuyên ngành của họ. Đồng thời, do kết quả đánh giá được tập hợp từ nhiều người nên mức độ tin cậy khá cao. - Kết quả được tập hợp từ nhiều người nên nó được xem xét trên nhiều phương diện khác nhau, tránh được sự phiến diện, một chiều.
Nhược điểm: - Chi phí đánh giá có thể rất cao khi số lượng người tham gia đông và số vòng thu thập ý kiến gồm nhiều lần. - Không thể loại bỏ hoàn toàn khía cạnh chủ quan trong kết quả đánh giá.2 Phương pháp thống kê Phương pháp thống kê là một quá trình bao gồm điều tra thống kê, khái quát hoá thông tin (còn gọi là tổng hợp thống kê), phân tích và dự báo. Đây chính là quá trình mô hình hóa toán học các vấn đề cần phân tích theo mục tiêu của nghiên cứu. Mô hình thống kê kiểm định các giả thuyết sử dụng các mô hình thống kê trên bộ dữ liệu thực nghiệm.
Trong quá trình XHTD, sử dụng các phương pháp thống kê đòi hỏi việc đưa ra các giả thuyết liên quan tới tiêu chuẩn nguy cơ phá sản tiềm năng. Những giả thuyết này xem xét đến nguy cơ phá sản của doanh nghiệp là cao, thấp hơn nguy cơ phá sản trung bình của những doanh nghiệp có nguy cơ phá sản so với những doanh nghiệp không có nguy cơ phá sản. Những thông tin về nguy cơ phá sản của mỗi 4 doanh nghiệp đều được thể hiện qua bộ số liệu thực nghiệm, những giả thuyết này có thể bị bác bỏ hoặc được chấp nhận một cách phù hợp. Ưu, nhược điểm của phương pháp thống kê: Ưu điểm: việc đánh giá nguy cơ phá sản của doanh nghiệp được tiến hành khách quan nếu bộ dữ liệu là chính xác và có một mô hình phù hợp.
Nhược điểm: khó khăn trong việc tiềm kiếm nguồn dữ liệu lớn và mô hình phù hợp.4 Nguyên tắc xếp hạng tín dụng Hệ thống XHTD là công cụ quan trọng để tăng cường tính khách quan, nâng cao chất lượng và hiệu quả trong hoạt động tín dụng. Mô hình tính điểm tín dụng sử dụng phương pháp lượng hóa các mức rủi ro thông qua đánh giá bằng thang điểm, các chỉ tiêu đánh giá trong mô hình xếp hạng tín dụng được áp dụng theo từng loại khách hàng. Xếp hạng tín dụng được thực hiện chủ yếu dựa trên nguyên tắc phân tích tín dụng trên cơ sở ý thức và thiện chí trả nợ của khách hàng, đánh giá tiềm năng trả nợ qua việc đo lường năng lực tài chính của khách hàng. Từ đó đánh giá rủi ro toàn diện và thống nhất dựa vào hệ thống ký hiệu xếp hạng.
Trong phân tích xếp hạng tín dụng cũng cần chú ý đến phân tích định tính và lượng hóa các phân tích định tính để bổ sung cho những thiếu sót của phân tích định lượng. Các chỉ tiêu phân tích có thể thay đổi phù hợp với yếu tố môi trường chung. Việc thu thập số liệu để đưa vào mô hình XHTD cần được thực hiện một cách khách quan, linh động. Sử dụng cùng lúc nhiều nguồn thông tin để có được cái nhìn toàn diện về năng lực tài chính và thiện chí trả nợ của khách hàng.5 Vai trò của xếp hạng tín dụng 1.1 Vai trò của xếp hạng tín dụng đối với nền kinh tế Tại Việt Nam, khi xu hướng cổ phần hóa các doanh nghiệp diễn ra mạnh mẽ, thị trường chứng khoán ra đời và phát triển tất yếu dẫn đến nhu cầu hình thành 5 và phát triển lĩnh vực xếp hạng tín dụng.
Xếp hạng tín dụng giúp tạo lập môi trường công bằng, khách quan trong quan hệ tín dụng, góp phần lành mạnh sự phát triển của nền kinh tế, giảm thiểu rủi ro tài chính trong hệ thống ngân hàng, giúp doanh nghiệp từng bước nâng giá trị hình ảnh, thương hiệu, năng lực quản trị thông qua việc quan tâm giữ gìn hoặc cải thiện kết quả xếp hạng của mình. Xếp hạng tín dụng có một vai trò quan trọng góp phần cho sự phát triển kinh tế thông qua việc mở rộng tiếp cận đối với thị trường tín dụng, giảm giá thành tín dụng, giảm rủi ro đối với việc không trả được nợ. Đối với người tiêu dùng, xếp hạng tín dụng là yếu tố chủ chốt đối với tín dụng tiêu dùng vì giúp họ dễ dàng tiếp cận được tín dụng tiêu dùng. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, xếp hạng tín dụng giúp tăng nguồn vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, giảm giá thành và quản lý rủi ro tốt hơn.
Đối với nền kinh tế quốc gia, tín dụng giúp kích thích tiêu dùng thông qua tăng các khoản cho vay và sản phẩm tín dụng, tăng kết nối người tiêu dùng với thị trường thứ cấp và tăng số lượng nguồn vốn để mở rộng và đầu tư cho phát triển kinh tế; Đối với các tổ chức tín dụng, xếp hạng tín dụng giúp họ ra quyết định cho vay nhanh hơn và chính xác hơn. Kết quả xếp hạng tín dụng trợ giúp đắc lực cho dự đoán rủi ro hiệu quả hơn; Đối với Ngân hàng nhà nước, kết quả xếp hạng doanh nghiệp cho biết mức độ rủi ro theo từng ngành, lĩnh vực kinh tế, từ đó có chính sách tiền tệ, tín dụng thích hợp; Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, thông tin xếp hạng doanh nghiệp giúp cho các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá, phân loại được các đối tượng doanh nghiệp thuộc quản lý của mình, có cơ sở thông tin để đánh giá và so sánh theo ngành kinh tế, lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp. Trong quá trình cổ phần hóa đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, thông tin xếp hạng tín dụng doanh nghiệp là nguồn thông tin tốt giúp cho việc định giá doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá và tham gia thị trường chứng khoán.