chương 1 Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín. Kết luận chương 2 Chương 3: Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín. Kết luận chương 3 Kết luận 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Khái quát chung về Kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ được định nghĩa dưới nhiều khái niệm khác nhau.
Đơn giản nhất như: (1) Kiểm soát là một phương tiện nhằm giảm thiểu những yếu tố gây tác động xấu đến hoạt động của một đối tượng nào đó; (2) Nội bộ là sự hiện hữu hay định vị bên trong bề mặt của một cái gì đó thuộc về hay liên quan đến cơ cấu của một tổ chức. Qua các giai đoạn hình thành phát triển từ sơ khai đến hiện đại, Kiểm soát nội bộ dần dần được mở rộng và hoàn thiện hơn và được định nghĩa như sau: 1. Định nghĩa: Khuôn mẫu COSO 1 - 1992 định nghĩa: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi Ban giám đốc, Nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; Mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính; Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định.” 2 Trong định nghĩa trên, có bốn khái niệm quan trọng, đó là: quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. Kiểm soát nội bộ là một quá trình: tức khẳng định kiểm soát nội bộ không phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện rộng khắp trong doanh nghiệp.
Kiểm soát nội bộ tỏ ra hữu hiệu nhất khi nó được xây dựng như một phần cơ bản trong hoạt động của doanh nghiệp chứ không phải là một sự bổ sung cho các hoạt động của doanh nghiệp. 1 COSO (Committee of Sponsoring Organizations) là một Ủy ban của Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận về báo cáo tài chính hay còn gọi là Treadway Commission. Ủy ban này bao gồm đại diện của Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA), Hiệp hội Quản trị viên tài chính (FEI), Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA), Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA). Internal Control - Intergrated Framework.
2 Kiểm soát nội bộ bị chi phối bởi con người trong tổ chức: con người đặt ra mục tiêu và đưa cơ chế kiểm soát vào vận hành hướng tới các mục tiêu đã định. Ngược lại, kiểm soát nội bộ cũng tác động đến hành vi của con người. Mỗi cá nhân có một khả năng, suy nghĩ và ưu tiên khác nhau khi làm việc và họ không phải luôn luôn hiểu rõ nhiệm vụ của mình cũng như trao đổi và hành động một cách nhất quán. Đảm bảo hợp lý: kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho Ban giám đốc và Nhà quản lý việc đạt được các mục tiêu của đơn vị.
Điều này là do những hạn chế tiềm tàng trong HTKSNB như: sai lầm của con người, sự thông đồng của các cá nhân, sự lạm quyền của Nhà quản lý và do mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí của việc thiết lập nên HTKSNB. Các mục tiêu: mỗi đơn vị đặt ra mục tiêu mà mình cần đạt tới (mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị). Có thể chia các mục tiêu mà đơn vị thiết lập ra thành 3 nhóm sau đây: Nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực; Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: đơn vị phải đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà mình cung cấp; Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: đơn vị phải tuân thủ các luật lệ và quy định. Lịch sử hình thành và phát triển Ta có thể khái quát quá trình hình thành và phát triển lý thuyết về kiểm soát nội bộ trên thế giới qua các giai đoạn sau: 1.
Giai đoạn sơ khai: Thuật ngữ kiểm soát nội bộ bắt đầu xuất hiện từ sự quan tâm của kiểm toán độc lập về kiểm soát nội bộ mà hình thức ban đầu là kiểm soát tiền. Năm 1905, Robert Montgomery, sáng lập viên công ty kiểm toán Lybrand, Ross Bros & Montgomery, đã đưa ra ý kiến về một số vấn đề liên quan đến kiểm soát nội bộ trong tác phẩm “Lý thuyết và thực hành kiểm toán”. 3 Năm 1929, Công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) lần đầu tiên đưa ra khái niệm về kiểm soát nội bộ là công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác, đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động. Năm 1936, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) ban hành báo cáo có tựa đề “Kiểm tra báo cáo tài chính bởi những Kiểm toán viên”.
Báo cáo đã định nghĩa kiểm soát nội bộ là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách. Giai đoạn hình thành: Vào năm 1949, công trình nghiên cứu AICPA về kiểm soát nội bộ đã định nghĩa: “Kiểm soát nội bộ là cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của Nhà quản lý.” Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán đã ban hành báo cáo thủ tục kiểm toán số SAP 29 về “Phạm vi xem xét kiểm soát nội bộ của Kiểm toán viên độc lập”, SAP đã phân biệt kiểm soát nội bộ về quản lý và kiểm soát nội bộ về kế toán: Kiểm soát kế toán bao gồm kế hoạch tổ chức, các phương pháp và thủ tục liên hệ trực tiếp đến việc bảo vệ tài sản và tính đáng tin cậy của số liệu kế toán; Kiểm soát quản lý bao gồm kế hoạch tổ chức, các phương pháp và thủ tục liên quan chủ yếu đến tính hữu hiệu trong hoạt động và sự tuân thủ chính sách quản trị. Đến năm 1962, Ủy ban thủ tục kiểm toán lại tiếp tục ban hành SAP 33 làm rõ hơn về vấn đề này: Kiểm soát nội bộ về kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến thông tin tài chính, do đó Kiểm toán viên cần đánh giá kiểm soát nội bộ; Kiểm soát nội bộ về quản lý liên quan gián tiếp đến thông tin tài chính, do đó Kiểm toán viên sẽ không bị buộc phải đánh giá chúng. Năm 1973, Ủy ban thủ tục kiểm toán tiếp tục ban hành SAP 54 “Tìm hiểu và đánh giá kiểm soát nội bộ” trong đó đưa ra bốn thủ tục kiểm soát kế toán: 4 Đảm bảo nghiệp vụ chỉ được thực hiện khi được phê duyệt; Ghi nhận đúng đắn mọi nghiệp vụ để lập báo cáo; Hạn chế sự tiếp cận tài sản; Kiểm kê.
Sau đó, AICPA ban hành chuẩn mực kiểm toán SAS để thay thế các thủ tục kiểm toán, trong đó xét duyệt lại SAP 54: Kiểm soát quản lý, không chỉ hạn chế ở kế hoạch tổ chức và các thủ tục, mà còn bao gồm quá trình ra quyết định cho phép thực hiện nghiệp vụ của Nhà quản lý; Kiểm soát kế toán bao gồm các thủ tục và cách thức tổ chức ghi nhận vào sổ sách để bảo vệ tài sản, tính đáng tin cậy của số liệu. Các mục tiêu kiểm soát kế toán SAS 1: Các nghiệp vụ thực hiện phù hợp với sự ủy quyền và xét duyệt của Ban giám đốc; Các nghiệp vụ được ghi nhận để: lập báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mực kế toán hay các quy định có liên quan, thực hiện trách nhiệm báo cáo; Việc tiếp cận tài sản chỉ được thực hiện khi có sự cho phép của Ban giám đốc; Các báo cáo về tài sản phải được so sánh với tài sản hiện hữu trong thực tế và cần có biện pháp xử lý thích hợp đối với các chênh lệch. Như vậy, trong suốt giai đoạn hình thành, khái niệm kiểm soát nội bộ đã không ngừng được mở rộng ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán. Tuy nhiên, trước khi khuôn mẫu COSO - 1992 ra đời, kiểm soát nội bộ vẫn mới dừng lại như là một phương tiện phục vụ cho Kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính.
Giai đoạn phát triển: Năm 1977, sau vụ bê bối Watergate với các khoản thanh toán bất hợp pháp cho chính phủ nước ngoài, Quốc hội Mỹ đã thông qua Điều Luật hành vi hối lộ ở nước ngoài. Trong đó, kiểm soát nội bộ rất được quan tâm đề cập đến để kiểm soát mọi hoạt 5 động và như thế, khái niệm kiểm soát nội bộ lần đầu tiên được xuất hiện trong một văn bản pháp luật. Từ năm 1980 - 1988, với sự kiện nghiêm trọng là sự sụp đổ hàng loạt các công ty cổ phần có niêm yết ở Hoa Kỳ như ngân hàng Continental Illinois National Bank & Trust Co. năm 1984; Công ty Dầu khí Texaco Inc.
năm 1987; Tập đoàn Tài chính Financial Corp. năm 1988… các Nhà lập pháp buộc phải quan tâm nhiều đến kiểm soát nội bộ và ban hành nhiều quy định hướng dẫn như: Ủy ban quốc gia về phòng chống gian lận báo cáo tài chính (Treadway Commission) - 1985, đưa ra hàng loạt các quy tắc về đạo đức, kiểm soát và làm rõ các chức năng của kiểm soát nội bộ; Ủy ban chuẩn mực kiểm toán Mỹ (ASB: Auditing Standard Board) ban hành bản điều chỉnh chuẩn mực kiểm toán về kiểm soát nội bộ vào năm 1988; Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC: Securities and Exchange Commission) ban hành các nguyên tắc về báo cáo trách nhiệm và đánh giá hiệu quả của kiểm soát nội bộ năm 1988; Năm 1991, Tổ chức nghiên cứu kiểm toán nội bộ (IIARF: The Institude of Internal Auditors Research Foundation) đưa ra các hướng dẫn kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin. Những quy định này đều hướng chung đến mục tiêu phát triển vai trò của kiểm soát nội bộ trong tổ chức, nhưng theo nhiều phương diện và có tồn tại một số điểm không đồng nhất, vì thế dẫn đến yêu cầu phải hình thành một hệ thống lý luận có tính chuẩn mực về kiểm soát nội bộ.