CHƯƠNG 1 K IỂ M T O Á N , K IỂ M T O Á N N Ộ I BỘ V À H IỆ U Q U Ả C Ô N G T Á C K IỂ M T O Á N N Ộ I BỘ 1.1- N hững vấn đề cơ bản về kiểm toán Ngân hàng T ru n g ương: 1 .1 - K h á i n iệ m k iể m to á n : Kiểm toán có gốc từ Latinh “Audit”, nguyên bản là “Auditing” gắn liền với nền văn minh Ai Cập và La Mã cô đại. Từ “Audit” có nguôn gôc từ động từ La tinh “Audire” nghĩa là “nghe”. Hình ảnh ban đầu của kiểm toán cổ điển là việc kiểm tra được thực hiện băng cách người soạn thảo bao cao đọc to lên cho một bên độc lập nghe rôi châp nhận. Hiện nay trên thế giới có nhiều loại kiểm toán khác nhau trên cơ sở các căn cứ phân chia khác nhau.
Như nêu phân loại theo chức năng thi co kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chính; phân loại kiểm toán theo chủ thê kiêm toán thì có kiêm toán nọi bọ, kiem toan Nhà nước kiểm toán độc lập. Một sô tô chức quôc tê và tô chưc trong nươc về kế toán và kiểm toán đã đưa ra khái niệm về kiểm toán như sau: - Kiểm toán là quá trình một hay một số cá nhân độc lập, có thâm quyền có kỹ năng nghiệp vụ thu thập và đánh gia cac bang chưng ve cac thông tin có thể định lượng được của một hay một số đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác nhận và báo cáo mức độ phù hợp giữa các thong tin co the định lượng đó với các chuân mực đã được xây dựng. - Từ khái niệm chung này có thể đưa ra một khái niệm về kiểm toán Ngân hàng Trung ương: Kiểm toán Ngân hàng Trung ương là quá trình m ột hay một số cá nhân độc lập, có thẩm quyền, có kỹ năng nghiệp vụ thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thê định lượng được một đơn V ị thuọc Ngan 5 hànơ Trung ương hay toàn bộ hệ thông Ngân hàng Trung ương nham mục đích xác nhận và báo cáo mức độ phù hợp giữa cac thong tin co the đinh lượng với các chuẩn mực đã được xây dựng. - Các cá nhân độc lập này là kiểm toán viên phải là người có đủ khả năng để hiểu các chuân mực đã được xây dựng va phai co đu nhưng tham quyền khi thực hiện kiêm toán đê có thê thu thạp được đay đu nhưng bang chứng phục vụ cho quá trình kiêm toán.
Kiêm toan vien phai la ngươi đọc lập về quan hệ kinh tế và quan hệ gia đình với người đứng đầu đơn vị được kiểm toán. Kiểm toán viên phải là người trung thực, vô tư, khách quan trong công việc kiêm toán. _ Một hay một số cá nhân độc lập ở các khái niệm này chỉ nên hiểu tương đối, có thể các cá nhân này độc lập với Ngân hàng Trung ương, ở ngoài Ngân hàng Trung ương. Cũng có thể các cá nhân đó độc lập nhưng vẫn làm việc trong Ngân hàng Trung ương nhưng độc lập với các đơn vị được kiểm toán thuộc hệ thông Ngân hàng Trung ương.
Tuy nhiên tính độc lập của kiểm toán viên không phải là một khái niệm tuyệt đối trong quá trình kiểm toán Ngân hàng Trung ương nhưng điều này là mục tiêu hướng tới và phải đạt được ở một mức độ nhất định nào đó. - Thu thập và đánh giá các bằng chứng của kiểm toán viên đã thu thập được trong quá trình kiểm toán Ngân hàng Trung ương để xác định mức độ tương quan và phù hợp giữa các thông tin có thể định lượng của đơn vị được kiểm toán với các chuẩn mực đã được xây dựng. - Các thông tin có thể định lượng và các chuẩn mực có thể xây dựng: Để có thể tiến hành được một cuộc kiểm toán thì các kiểm toán viên phải có các thông tin có thể định lượng được của Ngân hàng Trung ương, của các đơn vị được kiểm toán thuộc Ngân hàng Trung ương. Các thông tin có thể định lượng được của Ngân hàng Trung ương thường bao gôm các 6 thông tin về tiền tệ, tín dụng, thanh toán và các thông tin hen quan khac được nhản ánh qua các thông tin thông kê, báo cáo, các thông tin ve ke toan, quyết toán, các loại sổ sách, các loại băng từ, đĩa từ dùng đê lưu trữ cac thông tin.
Các chuẩn mực kiểm toán Ngân hàng Trung ương thường là các quy định quy phạm pháp luật, các biện pháp nghiệp vụ, các chuân mực vê cac nghiệp vụ ngân hàng đã được xây dựng trước, các quy định vê kiêm toan cua kiểm toán Nhà nước, của Bộ Tài chính, của Ngân hàng Trung ương, tiêu chuẩn kiểm toán viên nội bộ, chuân mực các báo cáo, chuân mực các quy trình nghiệp vụ kiểm toán. - Đơn vị được kiểm toán: Đơn vị được kiêm toán có thê là một Sở Giao dich, mọt Chi nhanh, một đơn vị khác thuộc Ngân hàng Trung ương hay toàn bộ hệ thông Ngân hàng Trung ương. - Báo cáo kết quả: Giai đoạn cuối của quá trình kiêm toán là báo cáo kêt qua kiem toan. Tùy thuộc vào loại kiểm toán, các báo cáo kiểm toán có thể khác nhau về nội dung, bản chất nhưng mọi trường hợp nó phải cung câp cho người sử dụng về mức độ tương quan giữa các thông tin đã kiêm toán VỚI cac chuan mực đa xây dựnơ.
Tuy thuộc vào các loại kiêm toán, báo cáo kiem toan co the được gửi cho Quốc hội, Chính phủ, Tông kiêm toán, cho Thông đôc Ngân hàng Trung ương.2 - M ụ c đ ích , y ê u cầ u , n g u y ê n tắ c c ủ a k iể m toán. - Mục đích và yêu cầu của kiểm toán là kiểm tra, xác định tính đúng đắn trung thực, hợp pháp của các sô liệu, tài liệu kê toán, báo cáo tài chính, báo cáo quyết,toán v ề 7thu chi và sử dụng Ngân sách Nhà nước và việc thi hành pháp luật về kinh: tế, tài chính, ngân sách, kê toán của các đơn vị được kiểm toán, nghiên cứụ và đề xuất những kiên nghị và giải pháp đôi với các cơ quan có liên quan,, thông qua công tác kiểm toán góp phân giữ vững kỷ cương pháp, luật, ngăn ngừa các sai phạm, những rủi ro, thât thoát vê vôn và tài sản cho các đơn vị được kiểm toán. Do đó, nguyên tăc cơ bản nhât của kiểm toán là phải độc lập về công việc, phải khách quan và trung thực. Đây là nguyên tắc được quy định cho nghề nghiệp của những kiêm toán viên nhât thiết phải tuân theo khi thực hiện các cuộc kiểm toán.
- Như vậy, mục đích và yêu cầu của kiểm toán Ngân hàng Trung ương là kiểm tra, xác nhận tính trung thực của các sô liệu kê toán, tài chính, các 8 loại báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán, kiểm tra quá trình thực hiện các chức năng nhiệm vụ, quá trình châp hành pháp luật của các đơn vị thuộc Ngân hàng Trung ương hay toàn bộ hệ thống Ngân hàng Trung ương, nghiên cứu đề xuất những kiến nghị và giải pháp liên quan đến hoạt động của các đơn vị được kiểm toán. Thông qua công tác kiểm toán góp phần giữ vững sự ổn định và phát triển của hệ thống Ngân hàng Trung ương. Nguyên tắc cơ bản nhất của kiểm toán Ngân hàng Trung ương là độc lập vê công việc, phải khách quan và trung thực trong quá trình thực hiện kiêm toán góp phân giữ vững sự ổn định và phát triển của hệ thông Ngân hàng Trung ương. Tóm lại: kiểm toán nền kinh tế nói chung là một vấn đề hết sức phức tạp, nó đòi hỏi kiểm toán viên phải có am hiêu sâu, có trình độ nghê nghiệp cao về lĩnh vực thực hiện kiêm toán, đông thời đòi hỏi các kiêm toán viên phải hết sức khách quan, trung thực trong nghề nghiệp kiểm toán.
Trong lĩnh vực kiểm toán Ngân hàng Trung ương lại càng phức tạp và khó khăn hơn VI lĩnh vực ngân hàng n ói c hung 1à m ột lĩnh vực rât nhạy cảm, dê dân đen những đột biến lớn cho nền kinh tế mà điển hình là những cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực và trên thê giới đã và sẽ có thê diên ra, gay lên những hậu quả nặng nê vê chính trị, kinh tê - xã hội cho mọt so quoc gia và gây tác động xấu đên một sô quôc gia khác. Do đó, đòi hỏi cac kiem toan viên phải có kỹ năng cao về ngân hàng, đông thời phải hêt sức trung thực, khách quan trong công việc kiểm toán ngân hàng.3 - C á c lo ạ i k iể m toán. Để nghiên cứu chi tiết, cụ thể, trên thế giới người ta phân loại kiểm toán theo các tiêu thức khác nhau. P h â n lo ạ i k iể m to á n th e o c h ứ c n ă n g : Nếu phân loại theo chức năng thì kiêm toán có ba loại khác biẹt nhau.
Loại 1: Kiểm toán hoạt động (Operational Audit): 9 - Kiểm toán hoạt động có thể hiểu là loại kiểm toán để xem xét, đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả của một đơn vị. Tính hiệu lực là xem xét và đánh giá quá trình thực hiện và khả năng thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của một đơn vị. Đánh giá và xem xét tính hiệu quả là xem xét và đánh giá công việc đạt được kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra thâp nhât. Đối tượng của kiểm toán hoạt động là hết sức phong phú và đa dạng, từ đánh giá toàn bộ hoạt động của một đơn vị đến xem xét một giai đoạn công việc, một quy trình công nghệ, một phương án sản xuât kinh doanh một loại tài sản, một quá trình luân chuyển chứng từ kế toán, đánh giá một hợp đồnơ kinh tế.
do đó, không thể đưa ra được một khuôn mầu cho kiểm toán hoạt động. Tính hiệu lực và hiệu quả của quá trình hoạt động rất khó được nhận xét và đánh giá khách quan. Quá trình xây dựng chuân mực cho kiem toán hoạt động còn mang nặng tính chủ quan. Phạm vi kiểm toán hoạt động thường rât rộng, liên quan đên nhieu lĩnh vực nó vượt ra khỏi phạm vi của công tác thông kê, ke toan, tai chmh.
Kiểm toán viên thực hiện kiêm toán hoạt động phải sử dụng rat nhieu ky năng khác nhau theo từng cuộc kiêm toán như kỹ năng kê toan, ky nang ve tài chính, kinh tế, khoa học, công nghệ.