Giáo Trình Kỹ Thuật Sản Xuất Giống và Nuôi Cá Biển cho Sinh Viên Cao Đẳng

Giáo trình kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá biển cung cấp kiến thức chuyên sâu cho sinh viên ngành nuôi trồng thủy sản cao đẳng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2017

64
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kỹ Thuật Nuôi Cá Biển Trong Giáo Trình Cao Đẳng

Kỹ thuật nuôi cá biển là một lĩnh vực quan trọng trong ngành nuôi trồng thủy sản. Giáo trình này cung cấp kiến thức cơ bản về đặc điểm sinh học, kỹ thuật ương cá giống và nuôi thương phẩm. Sinh viên sẽ được trang bị kiến thức cần thiết để tham gia vào các hoạt động nuôi cá biển tại các địa phương. Theo thống kê của FAO, sản lượng nuôi thủy sản thế giới đang tăng trưởng mạnh mẽ, đặc biệt là cá biển.

1.1. Đặc Điểm Sinh Học Của Cá Biển

Cá biển có nhiều loài với đặc điểm sinh học đa dạng. Các loài cá như cá hồi, cá mú, và cá chẽm đều có giá trị kinh tế cao. Việc hiểu rõ đặc điểm sinh học giúp tối ưu hóa quy trình nuôi và sản xuất giống.

1.2. Vai Trò Của Kỹ Thuật Nuôi Cá Biển

Kỹ thuật nuôi cá biển không chỉ giúp tăng sản lượng mà còn đảm bảo chất lượng sản phẩm. Việc áp dụng công nghệ mới trong nuôi cá giúp nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường.

II. Thách Thức Trong Kỹ Thuật Nuôi Cá Biển Hiện Nay

Mặc dù nghề nuôi cá biển đang phát triển, nhưng vẫn gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như ô nhiễm môi trường, nguồn thức ăn không ổn định và dịch bệnh là những yếu tố cần được giải quyết. Đặc biệt, việc phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên gây khó khăn trong việc đảm bảo chất lượng giống.

2.1. Ô Nhiễm Môi Trường Trong Nuôi Cá Biển

Ô nhiễm từ các hoạt động nuôi trồng thủy sản có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của cá và chất lượng sản phẩm. Cần có các biện pháp quản lý môi trường hiệu quả để giảm thiểu tác động này.

2.2. Nguồn Thức Ăn Và Chi Phí Nuôi Cá

Chi phí thức ăn cao là một trong những thách thức lớn trong nuôi cá biển. Việc tìm kiếm nguồn thức ăn thay thế và phát triển thức ăn nhân tạo chất lượng cao là cần thiết để giảm chi phí.

III. Phương Pháp Nuôi Cá Biển Hiệu Quả Nhất Hiện Nay

Để đạt hiệu quả cao trong nuôi cá biển, cần áp dụng các phương pháp nuôi tiên tiến. Các mô hình nuôi thâm canh và bán thâm canh đang được ưa chuộng. Việc sử dụng công nghệ mới trong quản lý ao nuôi cũng giúp nâng cao năng suất.

3.1. Mô Hình Nuôi Thâm Canh

Mô hình nuôi thâm canh cho phép tăng mật độ nuôi và sản lượng cá. Cần có hệ thống cấp nước và oxy đầy đủ để đảm bảo điều kiện sống tốt nhất cho cá.

3.2. Kỹ Thuật Nuôi Cá Trong Lồng

Nuôi cá trong lồng là một phương pháp hiệu quả, giúp cá phát triển tự nhiên hơn. Phương pháp này cũng giúp giảm thiểu ô nhiễm và dễ dàng quản lý.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Kỹ Thuật Nuôi Cá Biển

Kỹ thuật nuôi cá biển đã được áp dụng rộng rãi tại nhiều địa phương. Các mô hình nuôi cá thương phẩm đã mang lại lợi nhuận cao cho người nuôi. Việc phát triển bền vững trong nuôi cá biển là rất quan trọng để đảm bảo nguồn lợi lâu dài.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Nuôi Cá Biển

Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng công nghệ mới trong nuôi cá biển giúp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Các kết quả này cần được phổ biến rộng rãi để người nuôi có thể áp dụng.

4.2. Tác Động Kinh Tế Của Nghề Nuôi Cá Biển

Nghề nuôi cá biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế địa phương. Việc phát triển nghề này không chỉ tạo ra việc làm mà còn nâng cao đời sống cho người dân.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Kỹ Thuật Nuôi Cá Biển

Tương lai của kỹ thuật nuôi cá biển rất hứa hẹn với sự phát triển của công nghệ và nghiên cứu. Cần có các chính sách hỗ trợ từ nhà nước để phát triển bền vững ngành nuôi cá biển. Việc nâng cao nhận thức và kỹ năng cho người nuôi cũng là yếu tố quan trọng.

5.1. Chính Sách Hỗ Trợ Ngành Nuôi Cá Biển

Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ về vốn và kỹ thuật cho người nuôi cá biển. Điều này sẽ giúp ngành nuôi cá biển phát triển bền vững hơn.

5.2. Định Hướng Phát Triển Ngành Nuôi Cá Biển

Ngành nuôi cá biển cần định hướng phát triển theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường và đảm bảo an toàn thực phẩm. Việc này sẽ giúp nâng cao giá trị sản phẩm và tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường.

16/07/2025
Giáo trình kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá biển nghề nuôi trồng thuỷ sản cao đẳng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT GIỐNG VÀ NUÔI CÁ BIỂN 1. TỔNG QUAN Theo thống kê của FAO, sản lượng nuôi thủy sản thế giới đang tiếp tục tăng. Năm 2004, sản lượng nuôi thủy sản đạt 59,4 triệu tấn, trong đó, sản lượng nuôi biển đạt 30,2 triệu tấn (Hình 1. Mười nước đứng đầu về sản lượng nuôi thủy sản gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Bangladesh, Thái Lan, Nauy, Chilê, Việt Nam và Mỹ.

Đối với nuôi biển, nhuyễn thể và rong biển có sản lượng lớn nhất, tuy nhiên, giáp xác và cá biển lại có giá trị cao. Sản lượng cá biển nuôi không ngừng tăng lên với tốc độ nhanh, trung bình 9,5 %/năm, chỉ sau giáp xác 11,0 %/năm trong giai đoạn 1970-2002. Đặc biệt, sản lượng cá biển tăng 12,3 %/năm trong giai đoạn 1990-2000. Theo FAO, năm 2004, sản lượng cá biển đạt gần 2,7 triệu tấn và giá trị gần 10 trịêu USD (Hình 1.

Trong số này, sản lượng cá hồi chiếm ưu thế với gần 2 triệu tấn (Hình 1. Các nhóm cá khác chiếm tỷ lệ khá nhỏ, tuy nhiên rất phong phú về thành phần đối tượng nuôi và tập trung chủ yếu vùng nhiệt đới. Đối với Việt nam, nghề nuôi cá biển còn khá mới mẻ, chỉ mới được bắt đầu từ những năm đầu 1990. Năm 2005, cả nước đạt 3.500 tấn cá biển và sản xuất giống được 2 triệu con giống với 6 loài cá biển như cá bớp (Rachycentron canadum), cá mú (Epinephelus coioides), cá hồng Mỹ (Scyaenops ocellatus), cá dìa (Siganus canaliculatus), cá chẽm (Lates calcarifer) và cá chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis).

Nuôi biển Giá trị TS Nuôi Giá trị TS N.1: Biến động sản lượng và giá trị nuôi trồng thủy sản và hải sản thế giới 6 3000 12 2500 10 Sản lượg (1000 tấn Giá trị (Tỷ USD) 2000 8 1500 6 1000 4 500 2 0 0 1984 1989 1994 1999 2004 Năm Sản lượng Cá Giá trị (1000$) Hình 1.2: Biến động sản lượng và giá trị cá biển nuôi trên thể giới 3000 2500 Sản lượng (1000 tấn 2000 1500 Cá bơn Cá ăn nổi 1000 Cá biển khác Cá hồi 500 0 1984 1994 2004 Năm Hình 1.3: Biến động sản lượng các nhóm cá biển nuôi thế giới 1. CÁC ĐỐI TƯỢNG CÁ BIỂN NUÔI Hiện có ít nhất 54 loài cá biển được nuôi ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Trong số các đối tượng cá biển nuôi, nhóm cá hồi là đối tượng được nuôi phổ biến ở vùng ôn đới Châu Âu. Trong khi đó, vùng nhiệt đới có thành phần loài nuôi khá phong phú với các nhóm đối tượng như cá đối, cá mú, cá chẽm, cá tráp, cá hồng, cá cam, cá bớp, cá măng… (Bảng 1.1: Một số đối tượng cá biển nuôi ở vùng nhiệt đới (Silva, 1998) Đối tượng Hiện trạng Mugilidae – Cá đối Mugil cephalus Co, I/Po, P, B/S Liza macrolepis Co, Po/I, P, F/B Serranidae – Cá vược Lates calcarifer Co, I/Po, P, F/B Cromileptes altivelis L Epinephelus tauvina Co, I, P/C, S/B E.

fuscogutatus Co, I, C, S Sparidae – Cá tráp Pagrus major Acanthopagrus schelegeli Co, I, C, S A. sivicolus Co, I, P, B Sparus sarba Co, I, P, S/B Lutjanidae – cá hồng Lutjanus argentimaculatus Co, I, P/C, B/S L. russelli Co, I, C, S Caragidae – cá cam Seriola dumerili D, I, C, S S. quinqueradiata Co, I, C, S Rachycentredae- Cá bớp Rachysentron canadum D, I, C, S Siganidae – Cá dìa Siganus guttatus D, Po, P/C, S S.

fuscenes Co, I, p, s/p Chanidae – Cá măng L Chanos chanos Co, E/I, P, S/B Chú thích: Co - sản xuất đại trà, D - sản xuất qui mô nhỏ, L - qui mô nghiên cứu thí nghiệm, I - nuôi tham canh, E - nuôi quãng canh, Po-nuôi kết hợp, C - nuôi lồng, P - nuôi ao, S - nước biển, B - nước lợ, F - nước ngọt. Đối với nhóm cá đối, cá đối Mugil cephalus được nuôi phổ biến nhất do đặc tính phân bố rộng, rộng muối, ăn tạp. Cá có thể được nuôi đơn, nhưng thường là nuôi kết hợp với các loài cá khác. Đối với nhóm cá vược, cá chẽm và cá mú được nuôi phổ biến nhất.

Cá chẽm rộng muối nên có thể được nuôi cả vùng nước mặn lẫn nước ngọt. Cá mú có giá trị cao trên thị trường thế giới so với các đối tượng cá khác. Cá phân bố rộng ở vùng nhiệt đới 8 đến á nhiệt đới, rộng muối, lớn nhanh. Cá có thể được nuôi trong lồng hay ao, đạt kích cỡ 600-800g sau 7-8 tháng nuôi.

Đối với nhóm cá tráp, có ít nhất 17 loài được nuôi trên thế giới. Cá tráp đỏ (Pagrus major) được nghiên cứu và nuôi phổ biến nhất. Sản lượng cá tráp đỏ chiếm trên 90 % sản lượng các loài cá tráp nuôi trên thế giới. Nơi nuôi phổ biến là Nhật Bản.

Cá tráp đỏ có thể đạt 600-700 g sau 1,5 năm nuôi. Nhóm cá hồng (Lutjanus sp) phân bố rộng. Tuy nhiên, nghề nuôi chưa phổ biến lắm trên thế giới. Đa số các loài cá hồng thích nghi độ mặn cao, riêng cá hồng bạc (L.

argantimaculatus) có thể thích nghi ở độ mặn thấp. Nhóm cá cam (Seriola sp.) là cá biển rất được ưa chuộng để nuôi, đặc biệt là ở Nhật bản. Sản lượng cá cam đứng thứ hai sau cá hồi (Salmo sp). Cá cam có thể đạt 1-1,5 kg sau 1 năm nuôi.

Đối với cá bớp (Rachysentron canadum), đây là loài cá đang được phát triển nuôi lồng ở nhiều nơi. Cá lớn nhanh và kích cỡ lớn. Nhóm cá dìa (Siganus sp.) được khai thác và nuôi nhiều ở Châu Á. Cá dìa rộng muối, phân bố rộng.

Cá ăn thực vật hay ăn tạp. Cá măng (Chanos chanos) là cá nuôi truyền thống ở các nước Châu Á, nhất là Indonesia, Philippines, Đài Loan. Hình thức nuôi phổ biến là quảng canh cải tiến. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT GIỐNG VÀ NUÔI CÁ BIỂN 1.

Phát triển sản xuất giống Sản xuất giống các loài cá biển đã và đang đạt được nhiều tiến bộ. Những thành tựu này bao gồm kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ, kích thích sinh sản, ương nuôi ấu trùng, dinh dưỡng và thức ăn cho cá bố mẹ và ấu trùng, phòng trị bệnh cá trong giai đoạn sản xuất giống và di truyền. Đối với kỹ thuật nuôi vỗ và cho sinh sản cá bố mẹ, trước đây, hầu hết đều dựa vào nguồn cá bố mẹ đánh bắt tự nhiên và kích thích cho đẻ chứ không được nuôi vỗ. Từ những năm 1980, nhiều loài cá có thể được bắt từ tự nhiên và nuôi vỗ trong ao hay lồng ngoài trời hay nuôi bể trong nhà trước khi cho đẻ.

Nuôi vỗ cá bố mẹ trong lồng cho kết quả thành thục tốt hơn, tuy nhiên nhiều loài có thể nuôi vỗ trong ao. Trong những năm 1990, cá bố mẹ có thể được nuôi từ cá con được sản xuất giống nhân tạo đến giai đoạn trưởng thành trong lồng hay ao. Trong nuôi vỗ, thức ăn chủ yếu là cá tạp, tuy nhiên, thức ăn nhân tạo chất lượng cao đang dần được phát triển để thay thế hay kết hợp với cá tạp, đồng thời cải thiện chất lượng trứng và cá con. Hầu hết các loài cá nuôi trong ao hay lồng có thể đẻ tốt trong điều kiện bể sau khi kích thích hormon, tuy nhiên, nhiều loài cũng không cần kích thích hormon.

Các hormon thường dùng gồm não thùy, HCG, LHRH và DOM. Trong nuôi vỗ và sinh sản cá biển, nhiều trường hợp còn phải kích thích để chuyển đổi giới tính cá để đảm bảo chủ động nguồn cá bố mẹ. Đối với ương cá con, thông thường có thể được ương trong bể trong nhà hay trong ao đất ngoài trời. Việc ương trong bể trong nhà có thể kiểm soát môi trường và tỷ lệ sống tốt hơn.

Tuy nhiên, ương nuôi cá ở ao ngoài trời có ưu điểm là có nhiều thức ăn tự nhiên thích hợp cho các giai đoạn khác nhau của cá, cá lớn nhanh hơn, khỏe hơn và tránh ăn nhau hơn. Hơn nữa, ương cá con trong ao ngoài trời cũng rẻ hơn, có thể ương được đến giai đoạn cá lớn hơn, áp dụng cho qui mô lớn hơn. Chính vì thế, 9 phương pháp kết hợp bao gồm giai đoạn đầu ương trong bể trong nhà, sau đó chuyển ương trong ao đất ngoài trời được xem là tốt nhất. Trong kỹ thuật thức ăn cho ấu trùng ương nuôi, các loại thức ăn thường dùng là trứng thụ tinh của nhuyễn thể, rotifer, Artemia, tảo hiển vi, copepod, cladocera, giun và thịt cá tôm.

Thức ăn đầu tiên của cá phụ thuộc vào kích cỡ miệng của ấu trùng. Tỷ lệ cá chết nhiều đa số ở giai đoạn ấu trùng hơn ở giai đoạn cá hương. Chính vì thế, chất lượng thức ăn là rất quan trọng và đang ngày càng được phát triển. Việc giàu hoá Rotifer và Artemia bằng các chế phẩm giàu axit béo cao không no (HUFA) là rất quan trọng trong ương nuôi ấu trùng cá biển.

Phát triển nuôi cá thương phẩm Nuôi cá nước lợ truyền thống đã được thực hiện từ lâu ở nhiều quốc gia với mô hình nuôi cá măng và cá đối quảng canh cải tiến. Tuy nhiên, hầu hết các loài cá khác hiện nay đều được nuôi theo hướng bán thâm canh hay thâm canh trong bể, ao, đăng hay lồng. Đối với nuôi bể, có nhiều loại bể khác nhau như bể sợi thủy tinh (composite) hay bể ximăng, kích cỡ vài chục đến vài trăm mét khối. Ao nuôi thâm canh có kích cỡ vài trăm đến vài ngàn mét khối.

Nuôi thâm canh được trang bị hệ thống cấp ôxy, cấp thay nước hoàn chỉnh. Đối với nuôi cá trong đăng quầng, hình thức này phổ biến ở Philippines trước đây để nuôi cá măng, tuy nhiên cũng suy giảm từ những năm 1980 do một số trở ngại trong khâu quản lý và rủi ro khác. Đối với nuôi lồng, có 3 qui mô gồm qui mô đơn giản như giai-lồng cố định đặt ở đầm – phá; hay qui mô bán hiện đại gồm giàn lồng nổi đặt ở eo, vịnh gần bờ, kín gió; và qui mô hiện đại đang được phát triển gồm những lồng ngầm, nuôi ở biển khơi, nhất là nơi gần các giàn khoan (Hình 1. Trong nuôi cá biển, thức ăn thông thường nhất hiện nay vẫn là cá tạp.

Tuy nhiên, có một số trở ngại do không chủ động, cá ôi thối, ô nhiễm, mầm bệnh… Vì thế, thức ăn hỗn hợp ẩm thường được bổ sung để tăng cường dinh dưỡng, phòng chống bệnh tật. Thức ăn hỗn hợp ẩm thường được làm tại trang trại. Một vài đối tượng có thể sử dụng tốt thức ăn viên dạng khô, nổi rất thuận tiện. Hệ số thức ăn thông thường là 4-10:1 đối với cá tạp hay 1,5-2,5:1 đối với thức ăn viên khô.4: Một số mô hình nuôi cá biển.

(a) Nuôi cá ao, (b) Nuôi cá trong lồng qui mô đơn giản, (c) Nuôi cá trong lồng qui mô bán hiện đại, (d) Nuôi cá trong lồng qui mô hiện đại 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ