Chương 1: KỸ THUẬT DÒNG Ý THỨC VÀ SÁNG TÁC CỦA VIRGINIA WOOLF, BẢO NINH Chương này tập trung giới thuyết các vấn đề chung như: khái niệm, sự hình thành và phát triển của kỹ thuật dòng ý thức; đồng thời trình bày khái quát về tác giả Virginia Woolf, Bảo Ninh cũng như tiểu thuyết Bà Dalloway và Nỗi buồn chiến tranh trong dòng chảy văn học. Chương 2: KỸ THUẬT DỰNG NHÂN VẬT TRONG BÀ DALLOWAY VÀ NỖI BUỒN CHIẾN TRANH Chương này tập trung khai thác và chỉ ra các kỹ thuật mà hai tác giả dùng để dựng nhân vật trong hai tiểu thuyết Bà Dalloway và Nỗi buồn chiến tranh. Không giống những kỹ thuật dựng nhân vật trong tiểu thuyết truyền thống, nhân vật trong hai tiểu thuyết dòng ý thức trên sẽ được phân tích khảo sát trên hai bình diện: nhân vật như những chuỗi suy tưởng bất định và nhân vật qua chuỗi suy tưởng. KỸ THUẬT TỔ CHỨC KẾT CẤU TỰ SỰ TRONG BÀ DALLOWAY VÀ NỖI BUỒN CHIẾN TRANH Từ việc khảo sát, phân tích và làm rõ các kỹ thuật tổ chức kết cấu tự sự trong Bà Dalloway cùng Nỗi buồn chiến tranh, chương này đi đến khẳng định đặc điểm của kỹ thuật dòng ý thức trong việc tổ chức kết cấu tự sự.
Cụ thể ở các bình diện như: cốt truyện, tình huống tự sự, diễn ngôn tự sự và giọng điệu. KỸ THUẬT DÒNG Ý THỨC VÀ SÁNG TÁC CỦA VIRGINIA WOOLF, BẢO NINH Tự sự, theo lý thuyết mô phỏng (mimesis) của Aristotle, là hình thức mô phỏng thực tại theo phương thức kể chuyện. Góp phần làm nên giá trị của một tác phẩm tự sự không thể không kể đến vai trò của tác giả trong khâu tổ chức sắp xếp các yếu tố của hiện thực khách quan thành một chỉnh thể ấn tượng đặc sắc. Aristotle gọi là “tính thống nhất của cốt truyện” (Aristotle, 1925) và “tính liên tục tự nhiên” (Aristotle, 1925) thể hiện qua “chuỗi nối tiếp nhân quả” (Aristotle, 1925).
Sự sắp xếp ấy gọi là kỹ thuật sáng tác. Như vậy, kỹ thuật suy cho cùng là cái làm nên hiệu quả cao nhất cho đứa con tinh thần của tác giả. Trong lịch sử phát triển hàng nghìn năm của tự sự, đặc biệt là từ khi tiểu thuyết hiện đại xuất hiện ở thế giới phương Tây những năm đầu của thế kỷ XVII, các kỹ thuật tự sự, dạng thức và phong cách tự sự mới không ngừng xuất hiện. Tiểu thuyết hiện đại không ngừng phá vỡ những chuẩn mực cũ, tạo sinh những diện mạo mới.
Nó luôn tự khước từ sự định hình của chính nó. Nói như Bakhtin, “nòng cốt thể loại của tiểu thuyết chưa hề rắn lại, và chúng ta chưa thể dự đoán được hết những khả năng uyển chuyển của nó” (Bakhtin, 1992). Xuất hiện trong những năm đầu của thế kỉ XX, kỹ thuật dòng ý thức tạo nên diện mạo khác biệt cho tác phẩm tự sự trong tương quan với các tác phẩm tự sự theo lối viết truyền thống trước đây. Đây được xem như một nỗ lực cách tân thể loại tự sự nói chung và tiểu thuyết nói riêng của các nhà văn hiện đại thế kỉ XX, góp phần giải phóng tiềm lực lớn lao của thể loại tiểu thuyết trong thời kỳ bùng nổ năng lượng cách tân của văn học.
Giới thuyết về kỹ thuật dòng ý thức 1. Khái niệm Theo tâm lý học, ý thức (consciousness) là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở con người. Đó là sự phản ánh bằng ngôn ngữ về những gì mà 10 con người nhận thấy được, hiểu được trong quá trình con người tác động và chịu sự tác động qua lại từ thế giới khách quan. Còn với triết học Mác, ý thức là một phạm trù song song với phạm trù vật chất.
Nó là sự phản ánh thế giới khách quan bằng bộ óc của con người và có sự cải biến sáng tạo. Tóm lại, ý thức dù xét từ quan điểm triết học hay tâm lý học đều là sự phản ánh thế giới bên ngoài thông qua trí óc của con người. Nó có thể biểu hiện ra bằng lời nói hoặc bằng những suy nghĩ chưa được nói ra như Robert Humphrey đã phát biểu:“Chúng ta hãy nghĩ về ý thức ở dạng một tảng băng, toàn bộ tảng băng chứ không chỉ là một phần bề mặt tương đối nhỏ.”1 (Humphrey, 1954) Ý thức như đã trình bày, đó là hoạt động diễn ra bên trong não bộ của con người. Trong Từ điển tiếng Việt, dòng được định nghĩa là “chuỗi sự vật, hiện tượng đang chuyển động hoặc đang xảy ra liên tục, nối tiếp nhau” (Nhiều tác giả, 2011).
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu, dòng ý thức là toàn bộ những hoạt động phản ánh thế giới khách quan bên trong não bộ con người luôn được diễn ra một cách liên tục nối tiếp nhau. Ông cho rằng ý thức và sự liên tục của nó được trình bày thành một dòng liên tục. Cụ thể, tồn tại trong ý thức của mỗi cá nhân, sự suy nghĩ về bất kì điều gì đó thì luôn tiếp diễn. Đồng thời, sự liên tục tiếp diễn ấy là cái không có rạn nứt, không thể phân chia thành từng đoạn nhỏ dẫu có đôi lúc bị gián đoạn.
“Những gián đoạn như vậy sẽ ảnh hưởng đến chúng ta mỗi giờ trong cuộc sống, và chúng ta có quyền, với sự hiện diện của chúng, vẫn gọi ý thức của chúng ta là một dòng liên tục” (James, 1890). Mặt khác, ta vẫn có thể xác 1 Các trích dẫn tiếng Anh do tác giả tự dịch. 11 định các trạng thái ý thức khác nhau trong cùng một dòng chảy. Giữa chúng tuy có một sự liên kết tạo nên tính liên tục nhưng không bao giờ có sự tái diễn chung cùng một trạng thái ý thức.
Đó là lý do vì sao ta không bao giờ nghĩ hai lần về cùng một điều. Từ những đặc điểm trên, vận dụng vào văn học, dòng ý thức (stream of consciousness) được Robert Humphrey định nghĩa như một “nhãn” văn học. Đó là một cách tiếp cận tác phẩm khi người đọc tiến hành phân tích các khía cạnh tâm lý của nhân vật. Ông cho rằng “văn xuôi hư cấu kiểu dòng ý thức là một loại hình văn xuôi hư cấu mà cốt yếu nhấn mạnh những cấp độ ý thức tiền ngôn từ (tức là hoạt động ý thức diễn ra trước khi phát ra ngôn từ) nhằm mục đích chủ yếu hé lộ sự tồn tại về tâm lý của nhân vật.
Tương tự, trong Thuật ngữ lý luận văn học (Key concepts in Literary theory), dòng ý thức (stream of consciousness) được định nghĩa là “kỹ thuật sáng tác văn học trong đó ý thức của người kể chuyện hoặc ý thức của chủ thể được tường thuật, thể hiện thoát khỏi trật tự logic hoặc những chi phối bên ngoài” (Wolfreys, Robbins and Womack, 2006). Tổng hợp những định nghĩa trên, có thể đi đến kết luận dòng ý thức (stream of consciousness) là tên gọi của một kỹ thuật sáng tác văn học. Nó nhấn mạnh vào ý thức của con người khi mà những cảm xúc, liên tưởng, suy nghĩ diễn ra một cách liên tục tạo thành một dòng xuyên suốt. Những suy nghĩ, cảm xúc và liên tưởng ấy không rời rạc mà liên kết với nhau, đan xen vào nhau tạo thành một khối hỗn độn.
Thông qua kỹ thuật này, nhà văn có thể phơi bày được những bí ẩn bên trong tâm lý của nhân vật. 12 Kỹ thuật dòng ý thức trong văn học mang những đặc điểm sau: - Thứ nhất, đối tượng của văn học sáng tác bằng kỹ thuật dòng ý thức là toàn bộ những điều liên quan đến ý thức của con người nói riêng và thế giới tinh thần con người nói chung. Do đó, nhân vật trong tiểu thuyết dòng ý thức sẽ hiện diện như chuỗi những suy tư bất định. Các nhà văn thường không tập trung miêu tả vào các yếu tố bên ngoài như lai lịch, ngoại hình, trang phục,… mà thay vào đó là sự cố gắng lột tả đời sống nội tâm bên trong của nhân vật thông qua hồi ức, suy tư hoặc giấc mơ, dự cảm.
Đồng thời qua chuỗi suy tưởng, các đặc điểm như: hình ảnh mờ nhoè, ngôn từ khác lạ, cấu trúc ngữ pháp bị phá vỡ hay hành động của nhân vật không rõ ràng nhất quán cũng được thể hiện vô cùng rõ nét. - Thứ hai, đặc điểm của ý thức là sự phong phú, đa dạng và phức tạp. Trong cùng một thời điểm nhưng trạng thái ý thức lại không giống nhau. Chúng là những mảnh ghép hỗn độn, đan xen vào nhau.
Vì thế, một tác phẩm viết bằng kỹ thuật dòng ý thức sẽ khước từ kiểu kết cấu truyền thống, thay vào đó là một kết cấu phức tạp với sự lắp ghép của nhiều mảnh vỡ ý thức. Các sự kiện có thể bị lược bỏ hoặc xuất hiện nhiều lần tại nhiều thời điểm khác nhau; không gian nghệ thuật khi thì xáo trộn, khi thì lồng ghép vào nhau; thời gian trần thuật có thể bị kéo giãn hoặc rút ngắn. Điều này làm nên diện mạo khác lạ, ấn tượng cho tác phẩm. - Thứ ba, người trần thuật trong tác phẩm viết bằng kỹ thuật dòng ý thức nhìn nhận mọi thứ từ trạng thái tâm lý của nhân vật.
Nói cách khác, người trần thuật trong trường hợp này “núp” sau lưng nhân vật làm cho câu chuyện vừa rất khách quan vừa chứa đựng yếu tố chủ quan. Vì vậy, những thủ pháp nghệ thuật như độc thoại nội tâm hay liên tưởng tự do sẽ được các nhà văn sáng vận dụng tối đa. Cũng cần lưu ý, kỹ thuật dòng ý thức không đồng nhất với độc thoại nội tâm. Xét từ góc độ tâm lý, dòng ý thức là chủ thể còn độc thoại nội tâm lại là nghệ thuật trình bày những khía cạnh của chủ thể ấy.
Xét từ góc độ 13 văn học, độc thoại nội tâm luôn trình bày suy nghĩ của nhân vật một cách trực tiếp, không có sự can thiệp của người kể chuyện, nó không nhất thiết phải trùng khớp với những ấn tượng và nhận thức nhưng kỹ thuật dòng ý thức thì có thể có một hoặc cả hai điều này. Với những đặc điểm trên, kỹ thuật dòng ý thức được xem là con đường thuận lợi để đi sâu khám phá đời sống nội tâm của nhân vật. Bằng việc kéo giãn thời gian trần thuật, đảo lộn không gian nghệ thuật và một hệ thống ngôn ngữ trần thuật mới lạ, kỹ thuật này phần nào khẳng định vai trò quan trọng của nó trong việc tạo nên diện mạo mới lạ, sự ấn tượng hấp dẫn của tác phẩm. Nó góp phần cách tân thể loại tiểu thuyết nói riêng và những tác phẩm tự sự nói chung.
Lịch sử phát triển 1.