Kỹ Thuật Chụp Cắt Lớp Vi Tính Động Mạch Phế Quản Ở Bệnh Nhân Ho Ra Máu Tại Bệnh Viện Phổi Trung Ương

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp kỹ thuật hình ảnh kỹ thuật chụp và một số đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính động mạch, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kỹ thuật hình ảnh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2023

66
4
1

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1.1. Trên thế giới

1.1.2. Tại Việt Nam

1.2. Tuần hoàn phế quản

1.3. Hình thái giải phẫu và các biến thể của động mạch phế quản

1.3.1. Động mạch phế quản có nguyên ủy từ động mạch chủ

1.3.2. Động mạch phế quản không xuất phát từ động mạch chủ

1.4. Giải phẫu X – quang

1.5. Giải phẫu CT

1.6. Sinh lý bệnh ho ra máu

1.6.1. Nguyên nhân do tuần hoàn

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1. Địa điểm nghiên cứu

2.1.2. Thời gian nghiên cứu

2.1.3. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Phương pháp chọn mẫu

2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu

2.2.4. Phương tiện nghiên cứu

2.2.4.1. Kỹ thuật chụp MSCT động mạch phế quản
2.2.4.2. Chống chỉ định
2.2.4.3. Người thực hiện
2.2.4.4. Phương tiện, hóa chất
2.2.4.5. Người bệnh

2.2.5. Kỹ thuật chụp MSCT ĐMPQ

2.2.6. Tư thế người bệnh

2.2.7. Thực hiện kỹ thuật

2.2.8. Đánh giá phim

2.2.9. Biến số nghiên cứu

2.2.10. Đặc điểm của bệnh nhân

2.2.11. Kỹ thuật chụp CLVT ĐMPQ

2.2.12. Đặc điểm hình ảnh CLVT của bệnh nhân

2.2.13. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm của đối tượng ho ra máu được nghiên cứu

3.1.1. Phân bố theo độ tuổi

3.1.2. Phân bố theo BMI

3.2. Nguyên nhân của ho ra máu

3.3. Đặc điểm lâm sàng

3.4. Vị trí tổn thương của phổi

3.5. Đặc điểm hình ảnh MSCT ĐMPQ

3.5.1. Hình dạng và kích thước ĐMPQ

3.5.1.1. Ở các trường hợp bình thường
3.5.1.2. Ở các trường hợp tổn thương ĐMPQ

3.5.2. Biến chứng sau khi chụp MSCT

4. CHƯƠNG IV

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu theo tuổi, giới tính và BMI

4.2. Kỹ thuật chụp MSCT động mạch phế quản

4.3. Nguyên nhân, mức độ của ho máu và vị trí tổn thương phổi

4.4. Đặc điểm hình ảnh ĐMPQ bình thường ở các bệnh nhân ho ra máu

4.5. Đặc điểm hình ảnh ĐMPQ bệnh lý ở các bệnh nhân ho ra máu

4.6. Số lượng động mạch phế quản bệnh lý

4.7. Đặc điểm chung

4.8. Dấu hiệu tổn thương trực tiếp

4.9. Dấu hiệu tổn thương gián tiếp

4.10. Kỹ thuật chụp MSCT động mạch phế quản

4.11. Các bước chuẩn bị để thực hiện chụp MSCT ĐMPQ

4.12. Các bước chụp MSCT ĐMPQ theo kỹ thuật “Bolus Tracking”

4.13. Các bước chụp MSCT ĐMPQ theo kỹ thuật “Test Bolus”

4.14. Đặc điểm hình ảnh MSCT ĐMPQ ở bệnh nhân ho ra máu

4.14.1. Ở các trường hợp ĐMPQ bình thường

4.14.2. Ở các trường hợp ĐMPQ bệnh lý

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính động mạch phế quản

Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính (MSCT) động mạch phế quản đã trở thành một công cụ quan trọng trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý liên quan đến ho ra máu. Phương pháp này cho phép hình ảnh hóa chi tiết cấu trúc động mạch phế quản, giúp xác định nguyên nhân và mức độ tổn thương. Việc áp dụng MSCT trong thực tiễn y tế đã mang lại nhiều lợi ích cho việc chẩn đoán sớm và chính xác, từ đó cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

1.1. Định nghĩa và nguyên lý hoạt động của MSCT

MSCT là một kỹ thuật hình ảnh sử dụng tia X để tạo ra hình ảnh cắt ngang của cơ thể. Nguyên lý hoạt động dựa trên việc ghi lại nhiều hình ảnh từ nhiều góc độ khác nhau, sau đó tái tạo thành hình ảnh 3D. Kỹ thuật này cho phép quan sát rõ ràng các cấu trúc nhỏ như động mạch phế quản.

1.2. Lợi ích của MSCT trong chẩn đoán ho ra máu

MSCT giúp phát hiện sớm các tổn thương trong động mạch phế quản, từ đó xác định nguyên nhân gây ho ra máu. Kỹ thuật này có độ nhạy cao, cho phép bác sĩ đưa ra quyết định điều trị kịp thời và chính xác hơn.

II. Vấn đề và thách thức trong chẩn đoán ho ra máu

Ho ra máu là triệu chứng nghiêm trọng, có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Việc xác định chính xác nguồn gốc của ho ra máu là một thách thức lớn trong y học. Các nguyên nhân phổ biến bao gồm lao phổi, ung thư phổi, và giãn phế quản. Mỗi nguyên nhân đều có những đặc điểm hình ảnh riêng, đòi hỏi bác sĩ phải có kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm trong việc phân tích hình ảnh.

2.1. Các nguyên nhân phổ biến gây ho ra máu

Các nguyên nhân gây ho ra máu thường gặp bao gồm lao phổi, ung thư phổi, và giãn phế quản. Mỗi nguyên nhân có thể dẫn đến các tổn thương khác nhau trong động mạch phế quản, ảnh hưởng đến việc chẩn đoán và điều trị.

2.2. Thách thức trong việc xác định nguyên nhân

Việc xác định nguyên nhân gây ho ra máu không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng mà còn cần đến các phương pháp chẩn đoán hình ảnh. Sự đa dạng của nguyên nhân gây ho ra máu làm cho việc chẩn đoán trở nên phức tạp.

III. Phương pháp chụp cắt lớp vi tính động mạch phế quản

Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính động mạch phế quản (MSCT) được thực hiện theo quy trình nghiêm ngặt để đảm bảo chất lượng hình ảnh và độ chính xác trong chẩn đoán. Quy trình này bao gồm việc chuẩn bị bệnh nhân, lựa chọn tư thế chụp, và sử dụng các kỹ thuật tái tạo hình ảnh hiện đại.

3.1. Quy trình chuẩn bị bệnh nhân trước khi chụp

Trước khi thực hiện chụp MSCT, bệnh nhân cần được hướng dẫn về quy trình và các yêu cầu cần thiết. Việc chuẩn bị này bao gồm việc ngừng ăn uống và thông báo về các bệnh lý nền có thể ảnh hưởng đến kết quả chụp.

3.2. Kỹ thuật chụp và tái tạo hình ảnh

Kỹ thuật chụp MSCT động mạch phế quản bao gồm việc sử dụng máy chụp hiện đại và các kỹ thuật tái tạo hình ảnh như MPR, MIP, và VRT. Những kỹ thuật này giúp tạo ra hình ảnh rõ nét và chi tiết về động mạch phế quản.

IV. Ứng dụng thực tiễn của MSCT trong điều trị ho ra máu

MSCT không chỉ giúp chẩn đoán mà còn hỗ trợ trong việc lập kế hoạch điều trị cho bệnh nhân ho ra máu. Kỹ thuật này cho phép bác sĩ xác định chính xác vị trí và mức độ tổn thương, từ đó đưa ra các phương pháp can thiệp phù hợp.

4.1. Đánh giá tổn thương động mạch phế quản

MSCT cho phép đánh giá chi tiết các tổn thương trong động mạch phế quản, giúp bác sĩ đưa ra quyết định điều trị kịp thời. Việc xác định chính xác vị trí tổn thương là rất quan trọng trong việc can thiệp.

4.2. Hỗ trợ trong các phương pháp can thiệp

Sau khi chẩn đoán, MSCT có thể hỗ trợ trong việc lập kế hoạch cho các phương pháp can thiệp như nút mạch. Kỹ thuật này giúp giảm thiểu nguy cơ và tăng hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

V. Kết luận và tương lai của kỹ thuật chụp MSCT

Kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính động mạch phế quản đã chứng minh được giá trị của mình trong việc chẩn đoán và điều trị ho ra máu. Tương lai của kỹ thuật này hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển với sự cải tiến của công nghệ hình ảnh, giúp nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong chẩn đoán.

5.1. Tầm quan trọng của MSCT trong y học hiện đại

MSCT đã trở thành một công cụ không thể thiếu trong chẩn đoán hình ảnh y khoa. Tính chính xác và độ nhạy cao của kỹ thuật này giúp cải thiện đáng kể kết quả điều trị cho bệnh nhân.

5.2. Xu hướng phát triển công nghệ hình ảnh

Với sự phát triển không ngừng của công nghệ, MSCT sẽ tiếp tục được cải tiến, mở ra nhiều cơ hội mới trong việc chẩn đoán và điều trị các bệnh lý phức tạp liên quan đến ho ra máu.

09/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp kỹ thuật hình ảnh kỹ thuật chụp và một số đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính động mạch phế quản ở bệnh nhân ho ra máu tại bệnh viện phổi trung ương

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ho ra máu là hiện tượng máu từ nhu mô phổi hoặc từ đường hô hấp dưới được khạc, ho, trào, ộc ra ngoài theo đường miệng hoặc mũi. Đây là một loại cấp cứu y khoa rất hay gặp với mức độ đe dọa đến tính mạng cao nhưng có rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra [1]. Ho ra máu được chia thành 3 mức độ. Mức độ nhẹ là khi số lượng máu ho ra dưới 50ml/ngày, máu ho ra chỉ thành vệt lẫn trong chất khạc hoặc chỉ vài ngụm máu nhỏ.

Ho ra máu mức độ trung bình là khi lượng máu ho ra từ 50ml – 200ml trong vòng 24 giờ. Ho ra máu được xem là nặng khi lượng máu ho ra > 200ml trong vòng 24 giờ hoặc lượng máu được ho ra gây tắc nghẽn đường thở, làm rối loạn khả năng trao đổi khí của bộ máy hô hấp [2]. Ho ra máu nặng chiếm 5% các trường hợp ho ra máu và tỷ lệ tử vong tới 80%. Có tình trạng có thể đe dọa đến tính mạng do gây tắc nghẽn đường thở hoặc ho máu sét đánh xuất hiện đột ngột với số lượng lớn ồ ạt ngập 2 phổi với mức độ ho máu là 500ml/24h hoặc >100ml/1 giờ.

Các nguyên nhân gây ho ra máu rất đa dạng, thường gặp nhất là do lao phổi, nấm phổi, nhiễm trùng đường hô hấp (25,8%), giãn phế quản (6,8%) và ung thư phổi (17,4%) và hơn 50% trường hợp không xác định được nguyên nhân. Trong đó lao phổi và di chứng sau lao là nguyên nhân thường gặp do điều trị lao phổi không triệt để gây ra nhiều tổn thương phổi như giãn phế quản, xơ phổi hay ho ra máu và trong đó có gây tổn thương động mạch phế quản. Hơn 90% trường hợp ho ra máu là do thương tổn các nhánh của động mạch phế quản, 5% là do động mạch phổi, 5% còn lại là do động mạch khác [1]. Ở những bệnh nhân ho ra máu, việc xác định nguồn gốc của bệnh và nguyên nhân gây bệnh bằng các phương pháp không xấm lấn đóng vai trò cực kì quan trọng trước khi thực hiện các thủ thuật can thiệp như các xét nghiệm sinh hoá, huyết học, vi sinh, nội soi phế quản và trong đó các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như X- quang, cắt lớp vi tính đa dãy ngày càng được phổ biến.

Việc thực hiện sớm những xét nghiệm giúp phát hiện sớm nguyên nhân, qua đó kịp thời can thiệp để giảm triệu chứng cho bệnh nhân, tránh để tình trạng bệnh diễn biến nặng hơn. Để hoàn thiện tính ưu việt của MSCT trong phát hiện, tìm ra thủ phạm và đánh giá tổn thương của động mạch phế quản gây ra triệu chứng ho ra máu, quy trình chụp và kỹ thuật chụp MSCT động mạch phế quản giữ một vai trò vô cùng quan trọng giúp phát hiện nguyên nhân gây bệnh. Tuy vậy hiện nay, để đưa ra một hình ảnh cắt lớp mạch phế 1 quản hoàn chỉnh nhất vẫn là vấn đề chưa được làm rõ thông qua các nghiên cứu trong và ngoài nước. Chính vì vậy, để làm rõ cho các nội dung trên và nghiên cứu đặc điểm hình ảnh bệnh lý về động mạch phế quản, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Kỹ thuật chụp và một số đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính động mạch phế quản ở bệnh nhân ho ra máu tại bệnh viện Phổi Trung Ương” với các mục tiêu cụ thể như sau: 1.

Mô tả kỹ thuật chụp động mạch phế quản trên máy MSCT. Mô tả một số hình ảnh cắt lớp vi tính tiêu biểu của động mạch phế quản trên bệnh nhân ho ra máu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước.

Trên thế giới Trên thế giới từ lâu nay đã xuất hiện nhiều nghiên cứu và báo cáo đánh giá giá trị của cắt lớp vi tính trong việc đánh giá động mạch phế quản và các động mạch ngoài phế quản để điều trị triệu chứng ho ra máu. Một số nghiên cứu nổi bật như sau: Nghiên cứu của tác giả I Ponnuswamy đánh giá hồi cứu mô tả các động mạch phế quản và ngoài phế quản bằng CT 64 dãy đầu dò ở những mạch nhân đang điều trị chứng ho ra máu đe dọa đến tính mạng được thực hiện năm 2012. Nghiên cứu trên 28 bệnh nhân ho máu đe dọa đến tính mạng đã cho thấy MDCT là một công cụ điều tra tốt để đánh giá tình trạng ho ra máu đe dọa tính mạng vì nó xác định được quá trình bệnh, xác định được nguồn gốc và vị trí của các động mạch phế quản hay các động mạch hệ thống ngoài phế quản. Không chỉ dừng lại ở đó, MDCT còn giúp gợi ý lộ trình để thực hiện can thiệp nút mạch [3].

Nghiên cứu của tác giả Yoon YC, Lee KS, Jeong YJ nghiên cứu hình thái động mạch phế quản và các động mạch hệ thống ngoài phế quản trên máy MSCT 16 dãy ở những bệnh nhân ho ra máu năm 2005. Sau khi thực hiện chụp trên 22 bệnh nhân và thu thập kết quả, nhóm tác giả đã rút ra kết luận MSCT 16 dãy cung cấp nguồn gốc và mô tả được đặc điểm hình ảnh động mạch phế quản ở bệnh nhân ho ra máu.[4] Về tổng quan, các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy được tính ưu việt trong việc đánh giá nguồn gốc và hình thái của ĐMPQ và các động mạch liên quan. Từ đó hỗ trợ cho việc điều trị ho ra máu. Tại Việt Nam Ho ra máu là một triệu chứng cực kì phổ biến ở Việt Nam, theo đó, các nghiên cứu về bệnh này được công bố đều đặn hàng năm.

Dưới đây là một số nghiên cứu của một số tác giả ở Việt Nam về hình ảnh của động mạch phế quản trên hình ảnh cắt lớp vi tính đa dãy: Nghiên cứu của tác giả Lê Hữu Ý và cộng sự về đặc điểm hình ảnh ĐMPQ trên chụp mạch MDCT ở bệnh nhân ho ra máu do lao phổi được công bố năm 2021 cho thấy chụp mạch ở bệnh nhân ho ra máu là kỹ thuật an toàn và tỷ lệ phát hiện 3 động mạch thủ phạm cao [5]. Một nghiên cứu khác có cùng tác giả với nghiên cứu trên đánh giá kết quả gây tắc ĐMPQ sau khi chụp mạch bằng MDCT ở bệnh nhân ho ra máu cho kết quả rằng kỹ thật can thiệp gây tắc ĐMPQ sau khi chụp mạch MDCT đạt kết quả cao hơn [6]. Các nghiên cứu trong nước có kết quả tương đồng với những kết quả nghiên cứu trên thế giới, chúng đều đưa ra được tính ưu việt của MDCT hay còn được gọi là MSCT trong việc đánh giá đặc điểm hình ảnh hay hỗ trợ trong việc thực hiện can thiệp điều trị ho ra máu. Tuần hoàn phế quản Tuần hoàn phế quản cung cấp máu nuôi dưỡng khí quản, đường thở trên, các tế bào chế tiết ở biểu mô phế quản, tuyến phế quản, các dây thần kinh, màng phổi tạng, các hạch lympho, các động mạch phổi và các tĩnh mạch phổi.

Các mạch cung cấp máu cho cây phế quản đến tận các phế quản tận. Các cấu trúc ở xa hơn phế quản tận như các tiểu phế quản hô hấp, các ống và các túi phế nang, các phế nang được nuôi dưỡng từ nguồn máu của các tĩnh mạch và tuần hoàn phổi [7]. Máu trong động mạch phế quản qua mạng lưới mao mạch của tuần hoàn phế quản trở về tim theo các tĩnh mạch phế quản hoặc theo tĩnh mạch phế quản phổi. Tĩnh mạch phế quản đi qua rốn phổi đổ vào tĩnh mạch đơn (tĩnh mạch azygos), bán đơn (bán azygos) hoặc qua tĩnh mạch gian sườn rồi đổ về nhĩ phải theo tĩnh mạch chủ trên [7].

Mao mạch Động mạch phế quản phổi phế quản Phế nang Tĩnh mạch phế quản Tĩnh mạch phế quản Tĩnh mạch phổi Tĩnh mạch Bó mạch TK đơn Màng phổi Hình 1: Tuần hoàn phế quản 4 Không giống như tuần hoàn phổi, tuần hoàn phế quản có khả năng tăng sinh mạch và việc này có vai trò quan trọng trong một số tổn thương ở phổi, các tổn thương sẽ được cung cấp dinh dưỡng từ máu qua đó giúp nhanh phục hồi hơn. Ngược lại, việc tăng sinh này lại giúp các khối u phát triển dễ dàng hơn trong ung thư do sự tăng sinh của mạch máu khiến cơ thể cung cấp cho khối u nhiều chất dinh dưỡng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho khối u tăng trưởng mạnh mẽ hơn. Hình thái giải phẫu và các biến thể của động mạch phế quản 2. Động mạch phế quản có nguyên ủy từ động mạch chủ Các động mạch phế quản là các mạch máu thường xuất phát từ động mạch chủ xuống, xuất hiện một tỉ lệ nhỏ xuất phát từ các nhánh của động mạch chủ như động mạch dưới đòn, động mạch nách, động mạch hoành dưới, động mạch vú trong… Nhưng dù xuất phát ở đâu chúng đều đi qua rốn phổi vào phổi, rồi chia ra các nhánh tuỳ hành với phế quản, cấp máu nuôi dưỡng đường thở (cây phế quản) và nhu mô phổi (phế nang, tổ chức kẽ của phổi).

Động mạch phế quản – liên sườn phải Động mạch liên sườn phải Động mạch phế quản phải Động mạch phế quản trái Hình 2: ĐMPQ có nguyên ủy từ động mạch chủ ngực a. Vị trí xuất phát: Khoảng 95% trường hợp động mạch phế quản xuất phát từ động mạch chủ ngực, trong đó: 5 - Xuất phát từ quai động mạch chủ xuống ở mức ngang đốt sống ngực D5 và D6: tỷ lệ 87% - 92%. - Xuất phát cao hơn ở mức ngang D4: tỷ lệ khoảng 2% (trong đó 80% là động mạch phế quản trái). - Xuất phát thấp hơn ở mức ngang D8 - D12: tỷ lệ khoảng 2% [7].

Các hình thái của động mạch phế quản: Số lượng hay kiểu phân chia của ĐMPQ trên từng người có sự khác nhau và chúng có khả năng tăng sinh tùy vào tổn thương của phổi. Tuy nhiên, theo Cauldwell EW (1948) và cộng sự đã nghiên cứu và phân chia các hình thái động mạch phế quản ra làm 4 týp thường gặp [7]: - Týp I: 2 động mạch phế quản trái, 2 động mạch phế quản phải (40,6%). - Týp II: 1 động mạch phế quản trái, 1 động mạch phế quản - liên sườn phải (21,3%). - Týp III: 2 động mạch phế quản trái, 2 bên phải (động mạch phế quản, 1 động mạch phế quản – liên sườn) (20,6%).

- Týp IV: 1 động mạch phế quản trái, 2 bên phải (động mạch phế quản, 1 động mạch phế quản – liên sườn) (9,7%). Hình 3: Các týp thường gặp của động mạch phế quản 6 Ngoài ra, có các tác giả khác nghiên cứu và phân loại một cách tỷ mỷ hơn về hình thái trên thực tế của động mạch phế quản [7].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ