phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kỹ năng tổ chức thực hiện QĐQL của CTXP. Cơ sở lý luận nghiên cứu kỹ năng tổ chức thực hiện QĐQL của CTXP. Chƣơng 3 Chƣơng 4 tiễn kỹ năng tổ chức thực hiện QĐQL của CTXP.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KỸ NĂNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ, PHƢỜNG 1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ 1. Nghiên cứu về quản lý và hoạt động tổ chức thực hiện quyết định quản lý ở nước ngoài. Nghiên cứu về hoạt động quản lý nói chung và hoạt động tổ chức thực hiện QĐQL nói riêng đƣợc các nhà khoa học ở phƣơng Tây và phƣơng Đông cổ đại quan tâm nghiên cứu từ rất sớm.
Ở phƣơng Đông thời cổ đại, những tƣ tƣởng quản lý của Khổng Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Tử. có ảnh hƣởng mạnh cho đến tận ngày nay về các quan điểm, nguyên tắc và phƣơng pháp quản lý xã hội. Khổng Tử với tƣ tƣởng đức trị, lấy Nhân làm cốt lõi, với ba nội dung cơ bản là: quan niệm về con ngƣời, thái độ đối với con ngƣời, cách tác động đến con ngƣời để tạo nên sức mạnh thực hiện những yêu cầu của ngƣời quản lý [24, tr. Khổng Tử cho rằng, bản chất con ngƣời là tính thiện, hạt nhân của hệ thống tƣ tƣởng quản lý của ông là lấy dân làm gốc, đề cao vai trò của quần chúng nhân dân (Dân vi bản) [95, tr.
Khác với Khổng Tử, Hàn Phi Tử lại đề cao “Pháp trị” trong việc trị nƣớc. Theo ông, thƣởng, phạt là phƣơng tiện cơ bản để nhà vua cai trị dân. Tài năng của nhà quản trị thể hiện ở việc dùng sức, dùng trí của ngƣời khác. Ông viết: “Sức một ngƣời không địch nổi đám đông, trí một ngƣời không biết đƣợc mọi việc, dùng một ngƣời không bằng dùng cả nƣớc.
Bậc vua thấp kém dùng hết khả năng của mình, bậc vua trung bình dùng hết sức của ngƣời, bậc vua cao hơn dùng hết trí của ngƣời., dùng hết tài trí của ngƣời thì vua nhƣ thần” (Bát kinh), [dẫn theo 13, tr. Nhƣ vậy, Hàn Phi Tử đã nhìn thấy sức mạnh của con ngƣời, đặc biệt là sức mạnh tinh thần và sự hợp tác của số đông trong việc giải quyết các công việc xã hội. Ông quan niệm ngƣời quản lý phải hiểu ngƣời rồi mới giao việc, phải hết sức thận trọng khi dùng ngƣời. Ông nhắc nhở: “.
cần phải biết nghe bề tôi nói (thánh ngôn); phải khảo sát nhiều mặt (tham nghiêm) để biết lòng bề tôi, xem lời nói của họ có giá 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trị hay không; cuối cùng là giao chức cho họ; dùng thực tiễn để kiểm tra thực lực của họ” [dẫn theo 13, tr. Do những lợi ích lớn lao của quản lý, từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện hàng loạt công trình về quản lý sản xuất và quản lý hành chính với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Kết quả của các công trình nghiên cứu đã dẫn đến sự ra đời của khoa học quản lý và góp phần làm cho khoa học quản lý ngày càng hoàn thiện. Ngƣời đầu tiên đi tiên phong trong nghiên cứu và ứng dụng tổ chức lao động một cách khoa học đó là Fredrick Taylor.
Ông đã đề ra một hệ thống nguyên lý quản lý theo khoa học và đặt nền tảng cho tổ chức lao động trong suốt nửa đầu thế kỷ XX và cho đến nay trong nhiều trƣờng hợp ngƣời ta vẫn còn đi theo ông. Ông chủ trƣơng 5 nguyên lý cơ bản: một là, ngƣời lãnh đạo phải đảm nhận tất cả trách nhiệm tổ chức công việc; hai là, phải dùng phƣơng pháp khoa học để xác định phƣơng pháp tiến hành công việc cho hiệu quả nhất; ba là, lựa chọn ngƣời giỏi nhất để thực hiện nhiệm vụ đã định; bốn là, đào tạo ngƣời công nhân làm việc có hiệu quả; năm là, giám sát kết quả của ngƣời lao động để đảm bảo cho họ sử dụng đƣợc các phƣơng pháp thích hợp và đạt kết quả mong muốn [dẫn theo 9, tr. Nhƣ vậy, việc cải tiến tổ chức lao động theo hệ thống Taylor là phân chia quá trình sản xuất ra từng công đoạn nhỏ, hình thành mức khoán cho từng công đoạn đó và tiền công trả tùy theo mức khoán để kích thích công nhân và tiền lƣơng cao mà tích cực nhận khoán. Nói cách khác, cách làm của Taylor đã đánh trúng vào tâm lý của những công nhân nghèo thời đó.
Tuy nhiên, hạn chế của Taylor ở chỗ ông coi con ngƣời nhƣ một rôbốt, chủ yếu rèn luyện thói quen, kỹ năng lao động, trong khi đó tính sáng tạo và sức mạnh trí tuệ của ngƣời lao động đã không đƣợc tính tới để phát huy. Đây cũng chính là nguyên nhân làm nảy sinh những lý thuyết mới về tổ chức và quản lý sau này. Henry Fayol là một nhà quản lý doanh nghiệp xuất sắc, ông đã đƣa ra lý thuyết quản lý hành chính vào năm 1915, theo ông quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra. Tổ chức theo quan điểm của Fayol là một trong những chức năng cơ bản của quản lý.
Ông nhấn mạnh, nguyên tắc của quản lý là không đƣợc cứng nhắc, mà phải tƣơng đối linh hoạt và có thể đáp ứng mọi yêu cầu. Lý thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol là sáng tạo, khoa học và thiết thực cho hoạt động quản lý các doanh nghiệp nửa đầu thế kỷ XX. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chester Irwing. Barnard [13], [74], [100] đã nghiên cứu về vấn đề ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định từ những năm 1940 trong các tác phẩm nhƣ: “Tổ chức và quản lý” (1948), “Chức năng của ngƣời quản lý”.
Ông đã phân tích về bản chất, vai trò của việc ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định, các loại quyết định, lý do ra quyết định và đánh giá cao vai trò của các yếu tố tâm lý nhƣ linh cảm, trực giác, ý thức trách nhiệm, tƣ duy lôgíc và phi lôgíc đối với quá trình ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định. Tuy nhiên, Ch. Barnard chƣa phân tích sâu sắc, toàn diện và đề cập đến các yếu tố tâm lý ảnh hƣởng đến quá trình ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định. [74], [13] kế tục tƣ tƣởng của Barnard Ch.
đề nghiên cứu sâu về vấn đề ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định. Điển hình nhƣ tác phẩm: “Hoạt động quản lý” (1947), “Khoa học mới về quyết định quản lý” (1960), “Các mô hình về hợp lý có giới hạn”. Ông đã phân tích về vai trò của việc ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định, các loại quyết định, các yếu tố quy định việc ra quyết định của ngƣời quản lý và đƣa ra mô hình ra quyết định hợp lý có giới hạn. Những nghiên cứu của Simon đã đƣợc nhiều nhà khoa học quản lý và tâm lý học quản lý của Mỹ và Nga đánh giá cao.
Tuy nhiên ông chƣa nghiên cứu, phân tích cụ thể, có hệ thống và cơ bản về các yếu tố tâm lý của quá trình ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định. Cũng nhƣ Barnard Ch. chịu ảnh hƣởng sâu sắc của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa hành vi trong nghiên cứu và phân tích về quản lý, ra quyết định và tổ chức thực hiện QĐQL. Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich [38] là các nhà khoa học quản lý Mỹ.
Trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” các tác giả đã chỉ ra việc ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định có hiệu quả đòi hỏi một sự lựa chọn phƣơng hƣớng hành động hợp lý. Để có thể ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định có hiệu quả đòi hỏi ngƣời quản lý phải có những điều kiện nhƣ: hiểu biết rõ ràng về các phƣơng án lựa chọn mà nhờ đó có thể đạt tới mục đích trong những điều kiện và những hạn chế hiện có; có thông tin và năng lực phân tích, đánh giá các phƣơng án theo mục đích đang theo đuổi và phải có hoài bão để đi tới giải pháp tốt nhất bằng cách thỏa mãn tối đa cho việc đạt tới mục đích. trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” [34] đã phân tích một số mô hình và lý thuyết về tình huống trong nghiên cứu vấn đề lãnh đạo. Các tác giả cho rằng có 3 thành tố quan trọng của quá trình lãnh đạo đó là nhà lãnh đạo, thuộc cấp và tình huống.
Trên cơ sở phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các biến số này, các tác giả cho rằng để lãnh đạo có hiệu quả đòi hỏi nhà lãnh đạo phải có kỹ năng cần thiết nhƣ kỹ năng ứng xử linh hoạt, kỹ năng chẩn đoán phong cách lãnh đạo phù hợp với tình huống. Nhƣ vậy, điểm chung của các nhà khoa học quản lý Mỹ, Pháp là phân tích về quản lý nói chung, ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định nói riêng đều dựa trên quan điểm của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa hành vi, những yếu tố tâm lý tác động tới quá trình tổ chức thực hiện QĐQL chƣa đƣợc phân tích một cách toàn diện và có hệ thống. Ở Nhật Bản, các nhà khoa học quản lý nhƣ Sakaue, Uwayaki, Konosuke cũng đã có những công trình nghiên cứu sâu về hoạt động quản lý trong kinh doanh. Sakaue cho rằng, để thành công cần phải tích cực tăng cƣờng thống nhất ba sức mạnh tinh thần đó là: ham muốn, lòng tin và sự nhiệt tình.
Từ việc xác định mục tiêu đến việc lập kế hoạch hành động thực hiện mục tiêu và thực hiện mục tiêu phải là một quá trình thống nhất. Để phát triển năng lực cần phải kết hợp phát triển đồng thời cả 3 yếu tố tâm lý đó là, tri thức, kỹ năng và thái độ [76, tr. Tác giả cho rằng mục tiêu chỉ có thể đạt đƣợc khi có sự thống nhất giữa ba yếu tố là ý thức, ý chí và quan niệm lại làm một.