Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ "Trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giao tiếp công vụ" của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm được thực hiện thuộc chuyên ngành Tâm lý học xã hội (chương trình đào tạo thí điểm) tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Hữu Thụ.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở (CBCC CCS) là nhóm xã hội giữ vai trò lãnh đạo, quản lý cộng đồng dân cư tại các xã, phường, thị trấn – cấp cơ sở trong hệ thống chính trị Việt Nam. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã/phường/thị trấn" đã chỉ rõ những bất cập, yếu kém của hệ thống chính trị cơ sở trong công tác tổ chức, chỉ đạo và vận động quần chúng. Thực tiễn phản ánh cấp cơ sở vẫn là nơi phát sinh nhiều bức xúc, khiếu kiện phức tạp, trong đó nguyên nhân trực tiếp bắt nguồn từ sự yếu kém về năng lực ứng xử, giao tiếp và giải quyết công việc của cán bộ.

Trong tâm lý học, trí tuệ cảm xúc (TTCX) được khẳng định là yếu tố có tác động trực tiếp đến sự thành công nghề nghiệp và kỹ năng lãnh đạo, quản lý. Trong khi nhiều quốc gia trên thế giới đã ứng dụng lý thuyết TTCX vào quản trị công và giao tiếp quản lý, thì tại Việt Nam, các nghiên cứu về TTCX mới chỉ dừng lại ở nhóm học sinh, sinh viên, giáo viên phổ thông. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu thực nghiệm và ứng dụng lý thuyết TTCX vào hoạt động giao tiếp công vụ (GTCV) của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cơ sở.

Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận án là nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về TTCX trong GTCV của nhóm CBCC CCS; xác định các mặt mạnh, mặt hạn chế về năng lực TTCX của nhóm cán bộ này trong quá trình thực thi công vụ. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng và thử nghiệm các biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm nâng cao TTCX trong GTCV cho CBCC CCS, góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở.

Giả thuyết khoa học

Luận án xác lập 5 giả thuyết nghiên cứu cụ thể:

  1. TTCX trong GTCV của nhóm CBCC CCS biểu hiện ở 4 nhánh năng lực: năng lực nhận biết cảm xúc; năng lực sử dụng cảm xúc để thúc đẩy tư duy; năng lực hiểu và phân tích các cảm xúc; năng lực quản lý cảm xúc trong quá trình GTCV nhằm đạt mục tiêu lãnh đạo, quản lý.
  2. Có mối tương quan thuận chiều giữa TTCX chung (EQ), TTCX trong GTCV và năng lực giao tiếp của CBCC CCS.
  3. Hiện nay, nhóm CBCC CCS còn bộc lộ hạn chế trong việc nhận biết, hiểu nguyên nhân và tiến trình phát triển của các cảm xúc âm tính xuất hiện ở đối tượng GTCV.
  4. TTCX của CBCC CCS trong GTCV chịu ảnh hưởng đồng thời của các yếu tố chủ quan và khách quan; trong đó các yếu tố chủ quan giữ vị trí quan trọng, đồng thời sự tương tác giữa các thành viên trong các nhóm nhỏ mà cán bộ tham gia thường xuyên cũng đóng vai trò đáng kể.
  5. Năng lực TTCX trong GTCV của CBCC CCS sẽ được cải thiện đáng kể nếu họ được tiếp cận lý thuyết về TTCX và được rèn luyện kỹ năng thực hành thông qua các biện pháp tác động tâm lý - giáo dục phù hợp trong môi trường tương tác xã hội thuận lợi.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận: Xác lập các khái niệm công cụ (TTCX, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, TTCX của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giao tiếp công vụ); phân tích phương pháp luận, công cụ đo lường và các yếu tố ảnh hưởng.
  • Đánh giá thực trạng năng lực TTCX, mức độ nhận thức về TTCX trong GTCV của nhóm CBCC CCS và xác định các yếu tố chi phối.
  • Tiến hành thực nghiệm tác động tâm lý - giáo dục nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp nâng cao TTCX trong GTCV cho nhóm khách thể.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Năng lực TTCX của CBCC CCS trong GTCV (bao gồm mô hình cấu trúc, các biểu hiện tâm lý đặc trưng và các yếu tố ảnh hưởng).
  • Khách thể nghiên cứu:
    • Khách thể khảo sát thực trạng: 224 CBCC CCS và 982 khách thể liên quan (cán bộ, công chức cấp cơ sở, cán bộ cấp huyện và người dân trên địa bàn).
    • Khách thể thực nghiệm: 40 cán bộ được lựa chọn từ nhóm 224 CBCC CCS.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực địa tại tỉnh Nghệ An, bao gồm ba địa bàn đại diện: thành phố Vinh (đô thị), thị xã Cửa Lò (đô thị du lịch ven biển) và huyện Nam Đàn (khu vực nông thôn).
  • Phạm vi khách thể chức danh: Đề tài giới hạn tập trung vào 6 chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp xã/phường/thị trấn: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc trên thế giới

Tác giả hệ thống hóa lịch sử hình thành khái niệm TTCX từ các nghiên cứu về thành tố "phi nhận thức" và trí tuệ xã hội:

  • Thời kỳ khởi nguyên các yếu tố phi nhận thức: R. Thorndike (cuối thập niên 1920) với khái niệm "trí tuệ xã hội" (Social Intelligence - SI). D. Wechsler (1940, 1958) khẳng định các yếu tố phi nhận thức (tình cảm, nhân cách, xã hội) giữ vai trò quyết định đối với hành vi thông minh và khả năng thích ứng của con người.
  • Thuyết đa trí tuệ: H. Gardner (1983) công bố tác phẩm "Frames of Mind: The Theory of Multiple Intelligences", xác lập 7 dạng trí tuệ (sau bổ sung dạng thứ 8 là trí tuệ tự nhiên), trong đó hai dạng trí tuệ nội cá nhân (hiểu bản thân) và trí tuệ tương tác cá nhân (hiểu người khác) là tiền đề trực tiếp cho các lý thuyết TTCX sau này.
  • Nghiên cứu về mối quan hệ giữa cảm xúc và lãnh đạo: Hemphill, Fleishman và Harris (1962) tại Trung tâm Nghiên cứu Lãnh đạo bang Ohio chỉ ra sự quan tâm, khả năng thiết lập sự tin cậy và hòa hợp cảm xúc quyết định chất lượng lãnh đạo.
  • Sự ra đời của thuật ngữ và các mô hình TTCX:
    • R. Bar-On (1985, 1997, 2000): Người đưa ra thuật ngữ chỉ số cảm xúc (EQ - Emotional Intelligence Quotient) trong luận án tiến sĩ (1985). Ông phát triển mô hình hỗn hợp (mixed model) gồm 5 cụm năng lực: kỹ năng nội bản thân, kỹ năng tương tác cá nhân, khả năng thích nghi, kiểm soát stress và tâm trạng chung; xây dựng bảng kiểm EQ-i.
    • P. Salovey và J. Mayer (1990, 1997): Đưa ra thuật ngữ khoa học "Emotional Intelligence" trong bài báo năm 1990 trên tạp chí Imagination, Cognition and Personality. Năm 1997, hai tác giả định nghĩa lại và hoàn thiện mô hình thuần năng lực (mental ability model) gồm 4 nhánh. Đến năm 2002, Mayer, Salovey và Caruso hoàn thiện bộ công cụ trắc nghiệm MSCEIT (version 2.0).
    • D. Goleman (1995, 1998, 2001, 2002): Xuất bản cuốn sách "Emotional Intelligence" (1995), phát triển mô hình TTCX ứng dụng trong tổ chức và quản lý, kết hợp năng lực nhận thức cảm xúc với các nét nhân cách.
    • Các nghiên cứu thực nghiệm khác: D. Wong và cộng sự (2005), J. Mayer và cộng sự (2006) khẳng định mối liên hệ giữa TTCX với kết quả học tập và năng suất lao động.
  • Tiến trình lịch sử nghiên cứu quốc tế được chia làm 3 giai đoạn:
    • Giai đoạn 1990 - 1994: Tranh luận về sự tồn tại của TTCX như một dạng trí tuệ độc lập.
    • Giai đoạn 1995 - 1997: Khái niệm được phổ biến rộng rãi trong công chúng và xuất hiện các thang đo hỗn hợp.
    • Giai đoạn 1998 đến nay: Tinh lọc khái niệm, chuẩn hóa các công cụ đo lường khách quan (tiêu biểu là thang đo MSCEIT năm 2002).

Các nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc tại Việt Nam

  • Năm 1997: Khái niệm TTCX lần đầu tiên được giới thiệu chính thức tại hội thảo thuộc chương trình khoa học xã hội cấp Nhà nước KX-07 do GS.TSKH. Phạm Minh Hạc chủ nhiệm.
  • Các nghiên cứu lý luận ban đầu: Nguyễn Huy Tú (2002, 2003) nghiên cứu bản chất, phương pháp chẩn đoán TTCX và vai trò của TTCX đối với hoạt động quản lý, lãnh đạo; Nguyễn Công Khanh (2002) nghiên cứu cơ sở phương pháp luận về trí thông minh xúc cảm; Lê Đức Phúc, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn tiếp cận dưới góc độ cấu trúc trí tuệ.
  • Nghiên cứu thực tiễn và chuẩn hóa công cụ: Đề tài cấp Nhà nước KX-05-06 do Viện Khoa học Giáo dục chủ trì đã thực hiện việc thích ứng, Việt hóa trắc nghiệm MSCEIT phiên bản 2.0 trên mẫu 2.678 học sinh, sinh viên và lao động trẻ (nhóm nghiên cứu: Lê Đức Phúc, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Công Khanh).
  • Các luận án tiến sĩ chuyên biệt:
    • Nguyễn Thị Dung (2008): Nghiên cứu TTCX của giáo viên chủ nhiệm lớp trung học cơ sở; áp dụng biện pháp tăng cường nhận thức và tác động hồi tưởng.
    • Dương Thị Hoàng Yến (2010): Nghiên cứu TTCX của giáo viên tiểu học; bổ sung biện pháp tác động hiện thời.
    • Phan Trọng Nam (2012): Nghiên cứu TTCX của sinh viên đại học sư phạm; xây dựng quy trình tác động theo 3 bước: nhận thức, hồi tưởng và hiện thời.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Toàn bộ các công trình thực tiễn trong nước trước năm 2012 đều tập trung vào ngành giáo dục (giáo viên, học sinh, sinh viên). Chưa có đề tài nào khảo sát thực nghiệm trên đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý hành chính nhà nước. Luận án của Nguyễn Thị Thanh Tâm đã lấp đầy khoảng trống này bằng việc khảo sát trực tiếp nhóm cán bộ chủ chốt chính quyền và tổ chức chính trị cơ sở trong bối cảnh giao tiếp công vụ tại địa bàn tỉnh Nghệ An.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  1. Quan niệm về trí tuệ: Luận án tiếp cận khái niệm trí tuệ theo hướng năng lực thích ứng của cá nhân trước biến đổi môi trường (kế thừa quan điểm của J. Piaget, R. Sternberg, H. Gardner, D. Wechsler). Trí tuệ là cấu trúc phức hợp bao gồm nhiều năng lực giúp cá nhân suy nghĩ hợp lý, hành động có mục đích và ứng phó hiệu quả với hoàn cảnh.
  2. Khái niệm cảm xúc và cơ chế sinh lý thần kinh: Cảm xúc là quá trình tâm lý phản ánh mối quan hệ giữa kích thích khách quan với nhu cầu chủ thể, biểu hiện qua phản ứng cơ thể và sắc thái nét mặt. Hoạt động cảm xúc có sự phối hợp giữa các vùng não:
    • Hệ thống "rìa" (limbic system): Vùng tiến hóa sớm, chỉ huy các cảm xúc nền tảng.
    • Thể hạnh nhân (amygdala): Đóng vai trò cơ quan cảnh báo tâm lý, lưu giữ ký ức cảm xúc và đưa ra phản ứng tức thì (theo J. LeDoux).
    • Hồi cá ngựa (hippocampus): Ghi nhận và tái hiện bối cảnh sự kiện khách quan.
    • Vỏ não mới (neocortex): Nơi tư duy, phân tích logic và điều tiết, kiềm chế các xung động từ hệ viền.
  3. Mô hình cấu trúc TTCX được luận án lựa chọn: Tác giả lựa chọn mô hình 4 nhánh thuần năng lực của P. Salovey và J. Mayer (1997):
    • Nhánh 1: Nhận biết cảm xúc ở bản thân và người khác.
    • Nhánh 2: Sử dụng cảm xúc để thúc đẩy hoạt động tư duy.
    • Nhánh 3: Hiểu và phân tích nguyên nhân, sự phát triển của cảm xúc.
    • Nhánh 4: Quản lý, điều khiển cảm xúc của bản thân và người khác.
  4. Khái niệm TTCX của CBCC CCS trong GTCV: Là năng lực nhận biết chính xác cảm xúc của bản thân và đối tượng giao tiếp, sử dụng cảm xúc để trợ giúp quá trình tư duy, phân tích hiểu rõ nguyên nhân và diễn biến cảm xúc, từ đó làm chủ và điều tiết cảm xúc nhằm đạt được mục tiêu công vụ và quản lý nhà nước tại địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp tiếp cận định lượng và định tính theo tiến trình 3 giai đoạn:

Giai đoạn Phương pháp triển khai Công cụ và quy mô mẫu
Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận Phân tích tài liệu, phương pháp chuyên gia. Hệ thống hóa công trình trong và ngoài nước; hoàn thiện khung khái niệm và thiết kế bộ công cụ.
Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực trạng - Trắc nghiệm tâm lý khách quan.
- Bài tập đo nghiệm tình huống.
- Điều tra bảng hỏi.
- Quan sát, phỏng vấn sâu.
- Nghiên cứu trường hợp điển hình.
- Thang đo MSCEIT v2.0 (chuẩn hóa tại Việt Nam).
- Bài tập tình huống giao tiếp (BT THGT).
- Phiếu trưng cầu ý kiến tự đánh giá (TĐG) và đánh giá khách quan (ĐGKQ).
- Mẫu: 224 CBCC CCS và 982 người dân, cán bộ phối hợp.
Giai đoạn 3: Nghiên cứu thực nghiệm Thực nghiệm tác động tâm lý - giáo dục (đối chứng trước - sau). 40 cán bộ chia đều thành 2 nhóm: nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC); áp dụng mô hình "Ống kính cảm xúc".

Kỹ thuật xử lý dữ liệu thống kê

Dữ liệu định lượng được xử lý bằng các thuật toán thống kê toán học: kiểm tra độ tin cậy nội tại của thang đo (hệ số Cronbach's Alpha); độ khó của item; tính điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn, phân phối điểm; phân tích tương quan Pearson; kiểm định sai biệt thống kê (t-test, ANOVA) giữa các nhóm theo độ tuổi, giới tính, thâm niên, chức vụ và so sánh hiệu quả can thiệp trước - sau thực nghiệm.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về trí tuệ cảm xúc và trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giao tiếp công vụ

Chương 1 gồm 5 tiết, trình bày hệ thống lý thuyết về trí tuệ, cảm xúc và giao tiếp công vụ:

  1. Lịch sử nghiên cứu TTCX: Tổng thuật chi tiết các xu hướng nghiên cứu quốc tế từ thập niên 1920 đến 2012; điểm lại các mốc thời gian nghiên cứu tại Việt Nam từ năm 1997.
  2. Lý luận về trí tuệ: Phân tích các thuyết đơn trí tuệ (A. Binet, C. Spearman với thuyết hai nhân tố $g$ và $s$, L. Thurstone với 7 năng lực trí tuệ nguyên thủy, Horn và Cattell với trí tuệ kết tinh/thể lỏng, P. Vernon) và các thuyết đa trí tuệ (mô hình 3 chiều của J.P. Guilford, thuyết ba nhân tố của R. Sternberg, thuyết Đa trí tuệ của H. Gardner).
  3. Lý luận chung về TTCX: Phân tích các định nghĩa cảm xúc của C.E. Izard, N.H. Frijda, C. Detterman; so sánh 3 mô hình cấu trúc tiêu biểu: mô hình thuần năng lực của Mayer - Salovey (1990, 1997) và hai mô hình hỗn hợp của R. Bar-On (1997, 2000) và D. Goleman (1995, 2001). Luận án lập bảng so sánh chi tiết các mô hình và các công cụ đo lường TTCX hiện hành.
  4. Lý luận về TTCX của CBCC CCS trong GTCV: Phân tích bản chất của hoạt động giao tiếp công vụ ở cấp xã, phường, thị trấn; xác lập cấu trúc tâm lý gồm 4 nhánh năng lực của CBCC CCS khi tiếp xúc với nhân dân và xử lý văn bản hành chính.
  5. Các yếu tố ảnh hưởng: Xác định nhóm yếu tố chủ quan (kinh nghiệm công tác, trình độ học vấn, kỹ năng lắng nghe, động cơ phấn đấu cá nhân) và nhóm yếu tố khách quan (môi trường văn hóa công sở, tính chất dân chủ trong tập thể lãnh đạo, áp lực công việc hành chính tại địa phương).

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày quy trình xây dựng công cụ, lấy mẫu và kiểm định thang đo:

  1. Giai đoạn nghiên cứu lý luận (Tiết 2.1): Xây dựng các khái niệm thao tác và tiêu chí đánh giá năng lực TTCX.
  2. Giai đoạn nghiên cứu thực trạng (Tiết 2.2):
    • Lập mẫu khách thể: Bảng 2.A và Bảng 2.1 mô tả đặc điểm nhân khẩu học và trình độ chuyên môn của 224 CBCC CCS tại Nghệ An (phân chia theo độ tuổi, giới tính, thâm niên và địa bàn thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, huyện Nam Đàn).
    • Thiết kế bộ công cụ: Luận án sử dụng trắc nghiệm MSCEIT v2.0 gồm 8 tiểu thang đo; xây dựng bộ trắc nghiệm "Bài tập tình huống giao tiếp" (BT THGT) gồm các kịch bản giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai, hòa giải mâu thuẫn cơ sở; bảng hỏi TĐG và ĐGKQ dành cho đồng nghiệp và cấp dưới.
    • Kiểm định độ tin cậy: Trình bày độ tin cậy qua Bảng 2.2, 2.3, 2.4 (Phiếu trưng cầu ý kiến), Bảng 2.5 (Độ tin cậy của bài tập tình huống), Bảng 2.6 (Độ khó của các item bài tập tình huống), Bảng 2.7 (Tương quan giữa các tiểu thang đo).
  3. Giai đoạn nghiên cứu thực nghiệm tác động (Tiết 2.3):
    • Xây dựng mô hình "Ống kính cảm xúc" (Hình 2.1) và mô hình "Kết quả mong muốn và Ống kính cảm xúc" (Hình 2.2) kết hợp với Bảng 2.8 (Sơ đồ phân tích cảm xúc) làm cơ sở cho quy trình tập huấn.
    • Thiết kế giáo trình can thiệp gồm các bài tập tình huống mô phỏng, kỹ thuật nhận diện nét mặt, kỹ thuật lắng nghe phản hồi tích cực và phương pháp kiểm soát cơn giận dữ trong giao tiếp với người dân.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn

Chương 3 trình bày các kết quả phân tích định lượng và nghiên cứu trường hợp qua 6 nội dung lớn:

  1. Thực trạng TTCX qua trắc nghiệm MSCEIT và BT THGT (Mục 3.1):
    • Phân tích điểm trung bình tổng thể và tỷ lệ phần trăm phân loại mức độ phát triển TTCX của CBCC CCS (Bảng 3.1, Bảng 3.2, Biểu đồ 3.1).
    • So sánh điểm giữa 4 nhánh năng lực (Bảng 3.3): Điểm nhận biết cảm xúc và sử dụng cảm xúc đạt mức trung bình khá; điểm hiểu nguyên nhân và quản lý cảm xúc (đặc biệt là cảm xúc âm tính) ở mức thấp hơn.
    • So sánh năng lực TTCX theo kinh nghiệm và TTCX mang tính chiến lược (Bảng 3.4).
    • Phân tích kết quả qua trắc nghiệm "Bài tập tình huống giao tiếp" (Bảng 3.A, Bảng 0.B, Biểu đồ 3.2).
    • Phân tích mức độ tự đánh giá (TĐG) và đối chiếu với đánh giá khách quan (ĐGKQ) từ cấp dưới và nhân dân (Bảng 3.9 đến Bảng 3.14). Cán bộ có xu hướng tự đánh giá năng lực kiểm soát cảm xúc của bản thân cao hơn so với kết quả đánh giá khách quan.
    • Khảo sát sự khác biệt theo các biến nhân khẩu học: thâm niên công tác (Bảng 3.15), độ tuổi (Bảng 3.16), chức vụ (Bảng 3.17, Bảng 3.19) và giới tính (Bảng 3.18).
  2. Mối tương quan giữa TTCX và năng lực giao tiếp (Mục 3.2):
    • Tương quan thuận chiều có ý nghĩa thống kê giữa điểm trắc nghiệm MSCEIT và điểm bài tập tình huống GTCV (Bảng 3.20).
    • Tương quan giữa điểm năng lực giao tiếp công vụ với điểm EQ tổng thể và các nhánh năng lực thành phần (Bảng 3.21).
  3. Nhận thức về vai trò của TTCX (Mục 3.3):
    • Đa số cán bộ nhận thức được tầm quan trọng của việc làm chủ cảm xúc trong tiếp dân và điều hành công vụ (Bảng 3.22), tuy nhiên kiến thức chuyên sâu về kỹ thuật điều tiết cảm xúc còn nhiều hạn chế.
  4. Nghiên cứu trường hợp điển hình (Mục 3.4):
    • Phân tích sâu chân dung tâm lý của các cá nhân có điểm số trắc nghiệm MSCEIT và BT THGT ở nhóm cao nhất và nhóm thấp nhất; đối chiếu hành vi thực tế trong giải quyết khiếu nại tại địa phương để kiểm chứng tính giá trị của bộ công cụ đo lường.
  5. Các yếu tố ảnh hưởng (Mục 3.5):
    • Bảng 3.A và Bảng 3.B phân tích thứ bậc và mức độ tác động của các yếu tố. Yếu tố kinh nghiệm thực tế, sự tích cực học hỏi từ người đi trước, kỹ năng lắng nghe, tấm gương ứng xử của gia đình và bầu không khí dân chủ, đoàn kết tại cơ quan có mức độ ảnh hưởng lớn nhất.
  6. Kết quả thực nghiệm tác động tâm lý - giáo dục (Mục 3.6):
    • Kiểm tra tính tương đồng trước thực nghiệm giữa nhóm TN và nhóm ĐC: kết quả không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm số (Bảng 3.24, Bảng 3.25).
    • Sau quá trình can thiệp thực nghiệm: Điểm số EQ tổng thể (Bảng 3.26) và điểm TTCX trong GTCV (Bảng 3.27) của nhóm TN tăng lên rõ rệt, có ý nghĩa thống kê ($p < 0.05$); trong khi nhóm ĐC không có sự thay đổi đáng kể (minh họa qua Biểu đồ 3.3 đến 3.6).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án làm rõ khái niệm, cấu trúc tâm lý và hệ thống các biểu hiện đặc trưng của năng lực TTCX ở nhóm cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong quá trình giao tiếp công vụ tại Việt Nam dưới góc độ tiếp cận tâm lý học xã hội và tâm lý học nhóm.
  2. Xác định các quy luật hình thành, phát triển và hệ thống các yếu tố chủ quan, khách quan chi phối năng lực TTCX trong bối cảnh văn hóa công vụ địa phương.
  3. Thiết kế, hiệu chỉnh và chuẩn hóa bộ công cụ đo lường chuyên biệt đánh giá TTCX trong giao tiếp công vụ (kết hợp trắc nghiệm MSCEIT phiên bản 2.0 với Bài tập tình huống giao tiếp và phiếu trưng cầu ý kiến tự đánh giá/đánh giá khách quan), đảm bảo các chỉ số độ tin cậy và độ hiệu lực thống kê.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực trạng về mức độ phát triển TTCX của 224 cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tại tỉnh Nghệ An; xác định điểm nghẽn hiện nay là năng lực nhận biết, thấu hiểu nguyên nhân và xử lý các cảm xúc tiêu cực, bức xúc của nhân dân.
  2. Khẳng định bằng dữ liệu thực nghiệm mối tương quan thuận chiều giữa chỉ số TTCX chung (EQ) với năng lực giải quyết tình huống giao tiếp công vụ và hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý cơ sở.
  3. Xác lập thứ bậc các yếu tố ảnh hưởng, làm cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch, tuyển chọn cán bộ cơ sở dựa trên các tố chất tâm lý xã hội bên cạnh bằng cấp chuyên môn.
  4. Xây dựng và thực nghiệm quy trình tập huấn tâm lý - giáo dục dựa trên mô hình "Ống kính cảm xúc" và hệ thống bài tập tình huống thực tế. Kết quả kiểm định khẳng định quy trình này có khả năng nâng cao kỹ năng xử lý cảm xúc trong giao tiếp của cán bộ cơ sở.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đưa chuyên đề rèn luyện TTCX và kỹ năng giao tiếp công vụ vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại các trường chính trị tỉnh và trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện.
  • Đổi mới tiêu chuẩn đánh giá cán bộ cấp cơ sở, tích hợp các tiêu chí đánh giá mức độ hài lòng của người dân về phong cách giao tiếp, thái độ phục vụ vào công tác thi đua, khen thưởng định kỳ.
  • Xây dựng môi trường làm việc dân chủ, cởi mở tại các cơ quan Đảng ủy, HĐND, UBND cấp xã, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tương tác, chia sẻ kinh nghiệm xử lý tình huống giao tiếp giữa các thế hệ cán bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Giới hạn về phạm vi địa bàn: Dữ liệu khảo sát thực trạng của luận án chỉ tập trung tại một tỉnh (Nghệ An), gồm 3 địa bàn (thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, huyện Nam Đàn). Do sự khác biệt về đặc điểm văn hóa vùng miền và tập quán địa phương, kết quả chưa thể khái quát hóa cho toàn bộ đội ngũ cán bộ cấp cơ sở trên toàn quốc.
  • Giới hạn về nhóm khách thể: Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu 6 chức danh lãnh đạo chủ chốt (Chủ tịch/Phó Chủ tịch UBND, Bí thư/Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch/Phó Chủ tịch HĐND), chưa khảo sát các chức danh công chức chuyên môn cấp cơ sở (như địa chính, tư pháp - hộ tịch, tài chính - kế toán) – những người trực tiếp tiếp xúc thường xuyên với nhân dân.
  • Giới hạn về quy mô thực nghiệm: Thực nghiệm tác động mới được triển khai trên quy mô 40 cán bộ và thời gian theo dõi sau thực nghiệm còn ngắn, chưa đo lường được tính bền vững dài hạn của các kỹ năng đã được hình thành.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu trên các vùng văn hóa khác nhau (miền núi, đồng bằng sông Hồng, Tây Nguyên, Nam Bộ); khảo sát mở rộng sang đội ngũ công chức chuyên môn; nghiên cứu bổ sung tác động của các công cụ quản lý hành chính hiện đại và cải cách thủ tục hành chính đến áp lực cảm xúc của cán bộ cấp xã.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ sở đào tạo và giảng viên: Học viện Hành chính Quốc gia, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị cấp tỉnh và khoa tâm lý học các trường đại học có thể sử dụng khung lý thuyết và bộ bài tập tình huống giao tiếp (Chương 2 và Phụ lục) để xây dựng giáo trình giảng dạy kỹ năng lãnh đạo.
  • Cơ quan quản lý và làm chính sách cán bộ: Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ có căn cứ khoa học để đưa tiêu chí năng lực kiểm soát cảm xúc vào quy trình đánh giá, luân chuyển và bổ nhiệm cán bộ cơ sở.
  • Cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở: Cung cấp tài liệu tự rèn luyện kỹ năng lắng nghe, kỹ thuật hạ hỏa cảm xúc bức xúc của nhân dân trong các cuộc tiếp dân, hòa giải cơ sở và đối thoại trực tiếp.
  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo về phương pháp kết hợp thang đo chuẩn hóa quốc tế (MSCEIT) với các bài tập tình huống thực tế để đo lường các cấu trúc tâm lý phức hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn mô hình lý thuyết TTCX nào làm cơ sở phân tích chính?

Tác giả lựa chọn mô hình 4 nhánh thuần năng lực của Peter Salovey và John Mayer (công bố năm 1997), phân tách TTCX khỏi các nét nhân cách thuần túy. Mô hình gồm 4 nhánh: (1) Nhận biết cảm xúc ở bản thân và người khác; (2) Sử dụng cảm xúc để hỗ trợ và thúc đẩy tư duy; (3) Hiểu và phân tích nguyên nhân, sự phát triển của cảm xúc; (4) Quản lý, điều khiển cảm xúc của bản thân và người khác.

2. Bộ công cụ đo lường thực trạng trong luận án gồm những gì?

Bộ công cụ gồm:

  • Trắc nghiệm MSCEIT phiên bản 2.0 (chuẩn hóa tại Việt Nam bởi nhóm nghiên cứu Đề tài KX-05-06).
  • Bài tập đo nghiệm "Bài tập tình huống giao tiếp" (BT THGT) do tác giả tự xây dựng dựa trên các tình huống quản trị công thực tế tại địa phương.
  • Phiếu trưng cầu ý kiến tự đánh giá (TĐG) của cán bộ và đánh giá khách quan (ĐGKQ) từ cấp dưới, người dân.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu, quan sát hành vi và nghiên cứu trường hợp điển hình.

3. Quy mô và cơ cấu mẫu khảo sát của luận án được tổ chức như thế nào?

Tổng thể khảo sát thực trạng bao gồm 224 cán bộ chủ chốt cấp cơ sở (giữ các chức danh: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã/phường/thị trấn) và 982 khách thể liên quan (cán bộ, công chức cơ sở, cán bộ huyện, người dân) tại 3 địa bàn thuộc tỉnh Nghệ An: TP. Vinh, TX. Cửa Lò và huyện Nam Đàn. Khách thể thực nghiệm can thiệp gồm 40 cán bộ được chọn từ nhóm 224 người này.

4. Kết quả khảo sát thực trạng chỉ ra mặt hạn chế lớn nhất của CBCC CCS là gì?

Nhóm cán bộ cơ sở bộc lộ hạn chế lớn nhất ở nhánh năng lực hiểu nguyên nhân, tiến trình phát triển cảm xúc và năng lực quản lý cảm xúc, đặc biệt là khi đối mặt với các trạng thái cảm xúc âm tính (tức giận, phản đối, thất vọng) của người dân trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại kéo dài. Ngoài ra, có sự chênh lệch rõ rệt giữa mức tự đánh giá (thường tự đánh giá cao) so với kết quả đánh giá khách quan của người dân và cấp dưới.

5. Kết quả thực nghiệm tác động tâm lý - giáo dục đạt được điều gì?

Qua thử nghiệm mô hình can thiệp trên 40 cán bộ (chia làm 2 nhóm: thực nghiệm và đối chứng), kết quả kiểm định sau can thiệp cho thấy nhóm thực nghiệm có sự gia tăng có ý nghĩa thống kê ($p < 0.05$) ở cả điểm chỉ số EQ tổng thể (đo bằng MSCEIT) lẫn điểm giải quyết tình huống giao tiếp công vụ; trong khi nhóm đối chứng không có biến động đáng kể.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm là công trình nghiên cứu thực nghiệm chuyên sâu về trí tuệ cảm xúc của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã/phường/thị trấn trong giao tiếp công vụ tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp thang đo chuẩn hóa quốc tế MSCEIT với bài tập tình huống thực tế trên mẫu 224 cán bộ tại Nghệ An, tác giả đã làm rõ thực trạng năng lực, các yếu tố ảnh hưởng và khẳng định mối tương quan thuận giữa trí tuệ cảm xúc với hiệu quả giao tiếp lãnh đạo. Đề tài đã xây dựng và kiểm chứng thành công quy trình can thiệp tâm lý - giáo dục, mang lại tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng trực tiếp cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của hệ thống chính trị cơ sở hiện nay.