Luận án tiến sĩ trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giao tiếp công vụ luận án ts tâm lý học

Luận án tiến sĩ về trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giao tiếp công vụ thuộc lĩnh vực tâm lý học ứng dụng hiệu quả.

Chuyên ngành

Tâm lý học xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2012

366
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC VÀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TRONG GIAO TIẾP CÔNG VỤ

1.1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề trí tuệ cảm xúc

1.2. Một số vấn đề lý luận về trí tuệ

1.3. Một số vấn đề chung về lý luận trí tuệ cảm xúc

1.4. Một số vấn đề lý luận về trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giao tiếp công vụ

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giao tiếp công vụ

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Giai đoạn 1: Tổ chức nghiên cứu lý luận

2.2. Giai đoạn 2: Tổ chức nghiên cứu thực trạng

2.3. Giai đoạn 3: Tổ chức nghiên cứu thực nghiệm tác động

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN

3.1. Thực trạng trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

3.2. Tương quan giữa năng lực trí tuệ cảm xúc và năng lực giao tiếp của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

3.3. Thực trạng nhận thức của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở về vai trò của trí tuệ cảm xúc trong giao tiếp công vụ

3.4. Nghiên cứu một số trường hợp điển hình về trí tuệ cảm xúc trong giao tiếp công vụ của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

3.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trong giao tiếp công vụ

3.6. Kết quả thực nghiệm nâng cao trí tuệ cảm xúc cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan cách phát triển trí tuệ cảm xúc cán bộ chủ chốt trong giao tiếp công vụ

Trí tuệ cảm xúc (TTCX) là năng lực nhận biết, hiểu và điều khiển cảm xúc của bản thân và người khác, đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp công vụ của cán bộ chủ chốt. Nghiên cứu của P. Salovey và J. Mayer (1997) định nghĩa TTCX gồm bốn nhánh năng lực: nhận thức cảm xúc, sử dụng cảm xúc thúc đẩy tư duy, hiểu cảm xúc và quản lý cảm xúc. Ở Việt Nam, nhóm cán bộ chủ chốt cấp cơ sở (CBCC CCS) giữ vai trò then chốt trong hệ thống chính trị, giao tiếp công vụ hiệu quả dựa trên TTCX sẽ nâng cao chất lượng lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên, thực trạng cho thấy CBCC CCS còn hạn chế về năng lực TTCX, ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp và giải quyết công việc. Việc phát triển TTCX cho cán bộ này là nhiệm vụ cấp thiết nhằm nâng cao kỹ năng giao tiếp công vụ hiệu quả, góp phần ổn định và phát triển địa phương. Các nghiên cứu tâm lý học xã hội đã chỉ ra mối tương quan thuận chiều giữa TTCX và kỹ năng giao tiếp công vụ hiệu quả, đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng như kinh nghiệm công tác, môi trường làm việc, và sự học hỏi từ đồng nghiệp. Do đó, việc xây dựng các phương pháp phát triển TTCX cho CBCC CCS trong giao tiếp công vụ là hướng đi chiến lược để nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý tại cơ sở.

1.1. Khái niệm và vai trò của trí tuệ cảm xúc trong giao tiếp công vụ

Trí tuệ cảm xúc là khả năng nhận biết, hiểu và điều khiển cảm xúc của bản thân và người khác, giúp cá nhân thích ứng và xử lý các tình huống giao tiếp phức tạp. Trong giao tiếp công vụ, TTCX giúp cán bộ chủ chốt duy trì sự bình tĩnh, thấu hiểu tâm trạng đối tác, từ đó xây dựng mối quan hệ tin cậy và hiệu quả. Daniel Goleman (1995) nhấn mạnh TTCX quan trọng hơn IQ trong thành công nghề nghiệp, đặc biệt với cán bộ lãnh đạo, quản lý. Việc vận dụng TTCX trong giao tiếp công vụ giúp cán bộ xử lý các tình huống căng thẳng, giải quyết mâu thuẫn, nâng cao hiệu quả công việc và tạo dựng hình ảnh chuyên nghiệp, thân thiện với nhân dân.

1.2. Thực trạng năng lực trí tuệ cảm xúc của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Nghiên cứu thực trạng tại Nghệ An cho thấy mức độ phát triển TTCX của CBCC CCS còn hạn chế, đặc biệt trong năng lực nhận biết và quản lý cảm xúc tiêu cực trong giao tiếp công vụ. Các cán bộ thường gặp khó khăn trong việc thấu hiểu cảm xúc của người dân và đồng nghiệp, dẫn đến giao tiếp chưa hiệu quả, gây mất lòng tin và ảnh hưởng đến chất lượng lãnh đạo, quản lý. Mức độ TTCX có sự khác biệt theo độ tuổi, chức vụ và kinh nghiệm công tác, trong đó cán bộ trẻ và mới vào nghề thường có năng lực TTCX thấp hơn. Nhận thức về vai trò TTCX trong giao tiếp công vụ cũng chưa đồng đều, nhiều cán bộ chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng này.

II. Phương pháp nâng cao kỹ năng giao tiếp công vụ hiệu quả qua trí tuệ cảm xúc

Nâng cao kỹ năng giao tiếp công vụ hiệu quả cho cán bộ chủ chốt thông qua phát triển trí tuệ cảm xúc là giải pháp trọng tâm. Các phương pháp bao gồm đào tạo nhận thức về TTCX, thực hành kỹ năng nhận biết và điều khiển cảm xúc, và xây dựng môi trường làm việc hỗ trợ phát triển TTCX. Việc áp dụng các bài tập tình huống giao tiếp công vụ giúp cán bộ rèn luyện khả năng xử lý cảm xúc trong thực tế. Đồng thời, tổ chức các chương trình đào tạo, hội thảo về TTCX giúp cán bộ nâng cao nhận thức và kỹ năng thực hành. Các biện pháp tác động tâm lý - giáo dục được chứng minh có hiệu quả trong việc cải thiện năng lực TTCX, từ đó nâng cao chất lượng giao tiếp công vụ và hiệu quả lãnh đạo, quản lý tại cơ sở.

2.1. Hướng dẫn phát triển năng lực nhận biết và quản lý cảm xúc trong giao tiếp công vụ

Phát triển năng lực nhận biết cảm xúc giúp cán bộ chủ chốt nhận diện chính xác cảm xúc của bản thân và người khác trong các tình huống giao tiếp công vụ. Kỹ năng này bao gồm quan sát biểu hiện phi ngôn ngữ, lắng nghe tích cực và phân tích nguyên nhân cảm xúc. Quản lý cảm xúc đòi hỏi cán bộ biết kiểm soát cảm xúc tiêu cực, duy trì tâm trạng tích cực và điều chỉnh hành vi phù hợp nhằm đạt mục tiêu giao tiếp. Các bài tập thực hành như mô phỏng tình huống căng thẳng, phản hồi cảm xúc và tự đánh giá giúp cán bộ nâng cao kỹ năng này. Việc rèn luyện thường xuyên và có hệ thống sẽ giúp cán bộ chủ chốt cải thiện hiệu quả giao tiếp công vụ, giảm thiểu xung đột và tăng cường sự hợp tác.

2.2. Phương pháp đào tạo kỹ năng giao tiếp công vụ dựa trên trí tuệ cảm xúc

Đào tạo kỹ năng giao tiếp công vụ dựa trên TTCX tập trung vào việc nâng cao nhận thức về vai trò của cảm xúc trong giao tiếp, phát triển kỹ năng nhận biết, sử dụng và điều khiển cảm xúc. Chương trình đào tạo bao gồm các nội dung: lý thuyết TTCX, kỹ năng lắng nghe, đồng cảm, xử lý tình huống giao tiếp phức tạp và xây dựng mối quan hệ tích cực. Phương pháp đào tạo kết hợp lý thuyết với thực hành qua các bài tập tình huống, thảo luận nhóm và phản hồi cá nhân. Kết quả thực nghiệm cho thấy các cán bộ tham gia đào tạo có sự cải thiện rõ rệt về năng lực TTCX và kỹ năng giao tiếp công vụ, góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý.

III. Bí quyết quản lý cảm xúc trong công việc nhà nước cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Quản lý cảm xúc trong công việc nhà nước là kỹ năng thiết yếu giúp cán bộ chủ chốt duy trì sự chuyên nghiệp và hiệu quả trong giao tiếp công vụ. Bí quyết quản lý cảm xúc bao gồm nhận diện cảm xúc tiêu cực, áp dụng kỹ thuật kiểm soát stress, và duy trì thái độ tích cực trong mọi tình huống. Việc xây dựng môi trường làm việc dân chủ, đoàn kết cũng hỗ trợ cán bộ phát triển TTCX. Các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng cán bộ được hướng dẫn kỹ năng quản lý cảm xúc có khả năng xử lý tình huống giao tiếp phức tạp tốt hơn, giảm thiểu xung đột và nâng cao sự hài lòng của người dân. Do đó, việc áp dụng các bí quyết này là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng giao tiếp công vụ và hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý.

3.1. Các kỹ năng kiểm soát stress và cảm xúc tiêu cực trong giao tiếp công vụ

Kiểm soát stress và cảm xúc tiêu cực giúp cán bộ chủ chốt duy trì sự bình tĩnh và sáng suốt khi đối mặt với áp lực công việc và các tình huống khó khăn. Kỹ năng này bao gồm nhận biết dấu hiệu stress, áp dụng các kỹ thuật thở sâu, thiền định, và tư duy tích cực để giảm căng thẳng. Ngoài ra, cán bộ cần học cách chuyển hóa cảm xúc tiêu cực thành động lực tích cực, tránh phản ứng bộc phát gây ảnh hưởng xấu đến giao tiếp. Thực hành thường xuyên các kỹ năng này giúp cán bộ nâng cao khả năng quản lý cảm xúc, từ đó cải thiện hiệu quả giao tiếp công vụ và mối quan hệ với nhân dân.

3.2. Xây dựng môi trường làm việc hỗ trợ phát triển trí tuệ cảm xúc

Môi trường làm việc tích cực, dân chủ và đoàn kết tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ chủ chốt phát triển TTCX. Việc khuyến khích chia sẻ kinh nghiệm, phản hồi xây dựng và hỗ trợ lẫn nhau giúp cán bộ nâng cao nhận thức và kỹ năng giao tiếp. Lãnh đạo cần tạo ra các chương trình đào tạo, hội thảo về TTCX và kỹ năng giao tiếp công vụ, đồng thời xây dựng văn hóa tổ chức coi trọng sự thấu cảm và tôn trọng cảm xúc. Môi trường làm việc như vậy không chỉ giúp cán bộ phát triển năng lực cá nhân mà còn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị cơ sở.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc trong giao tiếp công vụ

Nghiên cứu thực nghiệm tại Nghệ An đã chỉ ra mối tương quan thuận chiều giữa năng lực TTCX và kỹ năng giao tiếp công vụ của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở. Các cán bộ có điểm TTCX cao thường có khả năng giao tiếp hiệu quả, xử lý tình huống linh hoạt và duy trì mối quan hệ tích cực với người dân. Thực nghiệm nâng cao TTCX thông qua các bài tập tình huống và đào tạo kỹ năng đã mang lại kết quả tích cực, cải thiện đáng kể năng lực giao tiếp và quản lý cảm xúc của cán bộ. Kết quả này khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp phát triển TTCX trong thực tiễn công tác lãnh đạo, quản lý tại cơ sở, góp phần nâng cao chất lượng hệ thống chính trị và sự hài lòng của nhân dân.

4.1. Kết quả thực nghiệm nâng cao trí tuệ cảm xúc cho cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Thực nghiệm tác động tâm lý - giáo dục nhằm nâng cao TTCX cho CBCC CCS đã được triển khai với nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Kết quả cho thấy nhóm thực nghiệm có sự cải thiện rõ rệt về điểm số TTCX và kỹ năng giao tiếp công vụ sau khi tham gia chương trình đào tạo và thực hành bài tập tình huống. Các nhánh năng lực như nhận biết cảm xúc, sử dụng cảm xúc thúc đẩy tư duy và quản lý cảm xúc đều được nâng cao. Điều này chứng minh hiệu quả của các biện pháp tác động tâm lý - giáo dục trong việc phát triển TTCX, từ đó nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý và giao tiếp công vụ của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở.

4.2. Ảnh hưởng của trí tuệ cảm xúc đến hiệu quả giao tiếp trong cơ quan nhà nước

TTCX ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giao tiếp trong cơ quan nhà nước thông qua việc giúp cán bộ chủ chốt nhận biết và điều chỉnh cảm xúc, tăng cường sự thấu cảm và xây dựng mối quan hệ tích cực với đồng nghiệp và người dân. Nghiên cứu cho thấy cán bộ có năng lực TTCX cao thường có kỹ năng giao tiếp hiệu quả hơn, giảm thiểu xung đột và nâng cao sự hợp tác trong công việc. Điều này góp phần cải thiện chất lượng phục vụ công dân, tăng cường niềm tin và sự hài lòng của nhân dân đối với cơ quan nhà nước, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động lãnh đạo, quản lý.

V. Hướng dẫn tương lai phát triển trí tuệ cảm xúc cho cán bộ chủ chốt trong giao tiếp công vụ

Phát triển TTCX cho cán bộ chủ chốt trong giao tiếp công vụ cần được coi là chiến lược lâu dài và toàn diện. Tương lai nghiên cứu và ứng dụng cần tập trung vào xây dựng chương trình đào tạo bài bản, tích hợp TTCX vào các khóa đào tạo cán bộ, công chức. Đồng thời, cần phát triển các công cụ đo lường TTCX phù hợp với đặc thù công vụ Việt Nam để đánh giá và theo dõi hiệu quả phát triển năng lực. Việc tạo dựng môi trường làm việc hỗ trợ phát triển TTCX, khuyến khích sự chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm cũng là yếu tố then chốt. Ngoài ra, cần tăng cường nghiên cứu thực tiễn để liên tục hoàn thiện các phương pháp nâng cao TTCX, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt có kỹ năng giao tiếp công vụ hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển của hệ thống chính trị cơ sở.

5.1. Phát triển chương trình đào tạo trí tuệ cảm xúc chuyên sâu cho cán bộ công vụ

Chương trình đào tạo chuyên sâu về TTCX cần được thiết kế phù hợp với đặc thù công việc và môi trường giao tiếp công vụ của cán bộ chủ chốt. Nội dung đào tạo bao gồm lý thuyết TTCX, kỹ năng nhận biết và quản lý cảm xúc, kỹ năng giao tiếp hiệu quả, xử lý tình huống phức tạp và xây dựng mối quan hệ tích cực. Phương pháp đào tạo kết hợp lý thuyết với thực hành qua các bài tập tình huống, mô phỏng và phản hồi cá nhân. Việc đào tạo liên tục và cập nhật kiến thức giúp cán bộ nâng cao năng lực TTCX, từ đó cải thiện hiệu quả giao tiếp công vụ và chất lượng lãnh đạo, quản lý.

5.2. Nghiên cứu và ứng dụng công cụ đo lường trí tuệ cảm xúc trong công vụ

Việc phát triển và ứng dụng các công cụ đo lường TTCX phù hợp với đặc điểm công vụ Việt Nam là cần thiết để đánh giá chính xác năng lực TTCX của cán bộ chủ chốt. Công cụ đo lường cần đảm bảo độ tin cậy, hiệu lực và dễ sử dụng trong thực tiễn. Các kết quả đo lường giúp xác định điểm mạnh, điểm yếu của cán bộ, từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo và phát triển cá nhân hiệu quả. Đồng thời, công cụ này cũng hỗ trợ lãnh đạo trong việc tuyển chọn, đánh giá và phát triển đội ngũ cán bộ chủ chốt, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 3 chƣơng 14 tiết. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC VÀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TRONG GIAO TIẾP CÔNG VỤ 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề trí tuệ cảm xúc 1. Nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc ở nƣớc ngoài Khi các nhà tâm lý học bắt đầu viết về vấn đề trí tuệ/trí thông minh, họ tập trung vào khía cạnh nhận thức, ví dụ nhƣ năng lực phát hiện logic của bài toán, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực ghi nhớ.

Tuy nhiên, đã có những nhà nghiên cứu sớm nhận ra rằng khía cạnh không phải là nhận thức cũng rất quan trọng. Chẳng hạn, từ năm 1940, D.Weschler đã đề cập đến yếu tố “phi nhận thức” (non- intellective) trong trí thông minh chung của con ngƣời, cái mà ông gọi là yếu tố tình cảm, yếu tố nhân cách và yếu tố xã hội. Hơn thế nữa, ông đã đề xuất rằng những yếu tố “phi nhận thức” là rất cần thiết cho việc dự đoán khả năng thành công của con ngƣời trong cuộc sống. Ông viết: "Câu hỏi chính đặt ra là yếu tố “phi nhận thức” có thể được thừa nhận là thành tố của trí tuệ nói chung? Luận điểm của tôi đã đưa ra rằng những yếu tố này không chỉ được thừa nhận mà còn rất cần thiết.

Tôi đã cố gắng chỉ ra rằng những yếu tố “phi nhận thức” không chỉ được thừa nhận là thành tố của trí tuệ nói chung mà còn quyết định hành vi thông minh” [104] Weschler không phải là ngƣời duy nhất nhận thấy khía cạnh không phải là nhận thức của trí tuệ là rất quan trọng đối với sự thích ứng và sự thành công của con ngƣời. Trƣớc đó, vào cuối những năm 20 của thế kỷ XX, giáo sƣ tâm lý học Rober Thorndike (Đại học tổng hợp Columbia - Mỹ) đã viết về “trí tuệ xã hội” (social intelligence – SI). Trí tuệ xã hội, theo ông, là năng lực mà một người dùng để hành động một cách khôn ngoan trong các quan hệ của con người. Kế thừa ý tƣởng của R.

Thorndike, David Weschler (1958) định nghĩa “ trí thông minh là 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng lực tổng thể hoặc năng lực chung của cá nhân để hành động có mục đích, để suy nghĩ hợp lý và để ứng phó có hiệu quả với môi trường của mình” [105]. Điều không may là công việc của những ngƣời tiên phong này trong một thời gian khá dài đã bị bỏ qua, ít đƣợc chú ý. Với sự phát triển của xã hội phƣơng Tây giai đoạn đại công nghiệp, nói đến trí thông minh, xã hội vẫn dành sự chú ý nhiều hơn đến năng lực nhận thức, tƣ duy theo cách hiểu truyền thống, đƣợc đo bằng các trắc nghiệm IQ về năng lực suy luận logic - toán và năng lực ngôn ngữ, năng lực nhớ kiến thức. Cho đến tận năm 1983, khi mà Howard Gardner, nhà tâm lý học Mỹ, công bố tác phẩm “Lý thuyết đa trí tuệ” (The theory of Multiple Intelligences – viết tắt là lý thuyết MI), các học giả và công chúng bắt đầu quan tâm đến nhiều thành phần khác nhau trong cơ cấu của trí tuệ của con ngƣời.

Cốt lõi của lý thuyết tâm lý học MI là sự thừa nhận nhiều thành phần trí tuệ trong năng lực ngƣời. Những dạng trí tuệ khác nhau đó là: trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ logic – toán, trí tuệ không gian, trí tuệ về vận động - cơ thể, và trí tuệ về con người (trí tuệ về con ngƣời lại bao gồm hai thành phần: trí tuệ về bản thân (intrapersonal intelligence) – hiểu mình, và trí tuệ về người khác (interpersonal intelligence)– hiểu về ngƣời khác).Gardner (1983), một ngƣời có thể mạnh về dạng trí tuệ này nhƣng lại kém về dạng trí tuệ khác. Kém cỏi về một dạng trí tuệ nào đó, cá nhân vẫn có thể có đƣợc những thành tựu cao nếu phát huy đƣợc thế mạnh của dạng trí tuệ khác [24]. Ví dụ, chỉ với trí thông minh logic – toán, một ngƣời có thể đi xa trong lĩnh vực này.

Nhƣng với thành tựu cao đó, nếu ngƣời ấy còn có thêm thành phần trí tuệ về con ngƣời thì con ngƣời ấy có cơ may thể hiện mình hoàn chỉnh hơn nhiều. Ngƣợc lại, một ngƣời với trí tuệ logic- toán rất nổi trội, có nhiều thành công trên lĩnh vực này nhƣng trí tuệ về bản thân rất kém cỏi (cảm nhận về cái Tôi kém, nhận thức về 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời khác kém) thì rất có thể cô đơn với những thành công của mình, thậm chí còn tạo ra nhiều “kẻ thù” cho mình. Với những công việc cần nhiều đến sự liên kết, hợp tác thì khó có thể có đƣợc những thành công nếu năng lực trí tuệ về con ngƣời chỉ đạt mức thấp. Vào giữa thế kỷ XX, dƣới sự chỉ đạo của Hemphill, trung tâm Nghiên cứu Lãnh đạo bang Ohio, Fleishman và Harris (1962) chỉ ra rằng “sự quan tâm” là một khía cạnh quan trọng của sự LĐ hiệu quả.

Cụ thể hơn, nghiên cứu này gợi ý rằng những ngƣời LĐ mà có thể thiết lập đƣợc “sự tin cậy, kính trọng lẫn nhau, và sự hòa hợp, ấm áp một cách bền vững” với các thành viên trong nhóm của họ thì sẽ đạt hiệu quả LĐ tốt hơn. Để thiết lập đƣợc điều đó, ít nhất phải có năng lực nhận thức để hiểu về bản thân và hiểu về ngƣời khác [81]. Trong việc nhận thức về chính mình và ngƣời khác thì Reuven Bar-On là ngƣời đặc biệt quan tâm đến khía cạnh những diễn biến CX ở con ngƣời. CX chi phối rất mạnh đến hành vi, quan hệ xã hội của chúng ta.

Vì vậy, nhận biết về CX là rất quan trọng để có đƣợc những hành vi thông minh. Ông là ngƣời đầu tiên đƣa ra thuật ngữ chỉ số EQ (Emotional Intelligence Quotient) trong luận án tiến sĩ của ông (1985), ông nêu ra mô hình 5 yếu tố liên quan đến TTCX giúp cá nhân có khả năng thành công hơn những ngƣời khác, bao gồm: năng lực nhận diện và làm chủ CX của mình, năng lực nhận diện và điều khiển CX của những ngƣời khác, năng lực thích ứng, kiểm soát stress, tâm trạng chung [40]. Kế thừa và phát triển tƣ tƣởng của R. Thorndike, David Weschler, H.

Gardner, hai tác giả P.Mayer cũng đặc biệt quan tâm đến năng lực nhận thức và kiểm soát CX của con ngƣời. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, cuộc sống vật chất dồi dào hơn nhƣng áp lực tinh thần, căng thẳng cũng nhiều hơn; sự thiếu kiểm soát cân bằng đời sống CX có thể gây bất hạnh cho bản thân và ngƣời khác, cho cộng đồng. Ngƣợc lại, sự nhận thức và kiểm soát CX tốt giúp thích ứng tốt với hoàn cảnh. Hai ông đã nhận thấy giá trị của những nghiên cứu trƣớc đó về khía cạnh không phải nhận thức trong trí tuệ, nhận thấy vai trò quan trọng của CX, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đặt nó trong mối liên hệ với lĩnh vực nhận thức, từ đó đƣa ra khái niệm và mô hình TTCX.

Năm 1990 hai ông công bố bài báo “Emotional Intelligence” trên tạp chí Imagination, Cognition and Personality. Trong bài báo này, TTCX đƣợc mô tả là “một dạng của trí tuệ xã hội có liên quan đến khả năng điều khiển tình cảm, CX của bản thân và của những người khác, khả năng phân biệt chúng, và sử dụng những thông tin này để hướng dẫn suy nghĩ, hành động của con người” [100]. Năm 1997, trong bài viết "Trí tuệ cảm xúc là gì?” (What is Emotional Intelligence?) hai tác giả này chính thức định nghĩa: “TTCX như là năng lực nhận biết, bày tỏ CX, hòa CX vào ý nghĩ, hiểu và suy luận với CX, điều khiển, kiểm soát CX của mình và người khác” [84]. Trên cơ sở đó, họ đƣa ra Mô hình TTCX là một bộ gồm 4 nhánh năng lực: + Nhận thức CX ở bản thân và ở ngƣời khác.

+ Sử dụng CX để thúc đẩy tƣ duy. + Hiểu CX và biết phân tích CX. + Điều khiển các CX một cách có suy nghĩ để đạt mục đích [84]. Hai tác giả cũng dẫn ra nhiều cứ liệu cho thấy những năng lực nhằm đáp ứng với đòi hỏi luôn thay đổi của hoàn cảnh có liên quan chặt chẽ với TTCX.Mayer cũng khởi xƣớng một chƣơng trình nghiên cứu nhằm phát triển các phép đo TTCX có hiệu lực và khám phá tầm quan trọng của TTCX.

Ví dụ nhƣ, trong một nghiên cứu, họ nhận thấy rằng, khi một nhóm ngƣời xem một bộ phim tình cảm thì những ngƣời mà đạt điểm số cao về sự phân biệt rõ ràng các CX (khả năng xác định và gọi tên một tâm trạng đang đƣợc thể hiện) đã trở lại trạng thái cũ nhanh hơn những ngƣời khác. Trong một nghiên cứu khác, các cá nhân mà đạt điểm số cao hơn về khả năng quan sát một cách chính xác, hiểu và đánh giá CX của những ngƣời khác thì phản ứng một cách linh hoạt với sự thay đổi trong môi trƣờng xã hội của họ và xây dựng đƣợc mạng lƣới xã hội tích cực (Salovey, Bedell, Detweiler and Mayer, 1999). 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vào đầu những năm 1990, Daniel Goleman - ngƣời biên tập khoa học cho tờ New York Times, lĩnh vực phụ trách là những nghiên cứu về não và hành vi, đã chú ý theo dõi các nghiên cứu của P.Mayer và các công trình khác liên quan.Goleman viết cuốn sách “Trí tuệ cảm xúc” (Emotional Intelligence) (xuất bản năm 1995) – một trong những cuốn sách bán chạy nhất trên thị trƣờng Mỹ lúc đó và đã đƣợc dịch ra nhiều thứ tiếng. Kể từ khi cuốn sách này ra đời, công chúng mới thực sự chú ý đến chủ đề TTCX.

Trƣớc đó, khi D.Goleman làm luận án tiến sĩ Tâm lý học tại Đại học Harvard, ông đã từng cộng tác với giáo sƣ David McClelland và những cộng sự khác để nghiên cứu vấn đề: Tại sao các trắc nghiệm đo trí thông minh ít nói cho chúng ta biết cái gì tạo nên thành công của con người trong cuộc sống? Sau cuốn sách đầu tiên về TTCX, D.Goleman tiếp tục viết một loạt sách khác về TTCX nhƣ: + “Trí tuệ cảm xúc: Làm thế nào để biến những cảm xúc của mình thành trí tuệ” (1997), đề cập đến vai trò của TTCX đối với sự phát triển nhân cách và cách rèn luyện TTCX. + "Trí tuệ cảm xúc ứng dụng trong công việc" (1998), “Nghệ thuật lãnh đạo cơ bản: Việc nhận thấy sức mạnh của trí tuệ cảm xúc” (2002), và bài báo nổi tiếng “Cái gì làm nên ngƣời lãnh đạo?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ