phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 3 chƣơng 14 tiết. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC VÀ TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ TRONG GIAO TIẾP CÔNG VỤ 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề trí tuệ cảm xúc 1. Nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc ở nƣớc ngoài Khi các nhà tâm lý học bắt đầu viết về vấn đề trí tuệ/trí thông minh, họ tập trung vào khía cạnh nhận thức, ví dụ nhƣ năng lực phát hiện logic của bài toán, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực ghi nhớ.
Tuy nhiên, đã có những nhà nghiên cứu sớm nhận ra rằng khía cạnh không phải là nhận thức cũng rất quan trọng. Chẳng hạn, từ năm 1940, D.Weschler đã đề cập đến yếu tố “phi nhận thức” (non- intellective) trong trí thông minh chung của con ngƣời, cái mà ông gọi là yếu tố tình cảm, yếu tố nhân cách và yếu tố xã hội. Hơn thế nữa, ông đã đề xuất rằng những yếu tố “phi nhận thức” là rất cần thiết cho việc dự đoán khả năng thành công của con ngƣời trong cuộc sống. Ông viết: "Câu hỏi chính đặt ra là yếu tố “phi nhận thức” có thể được thừa nhận là thành tố của trí tuệ nói chung? Luận điểm của tôi đã đưa ra rằng những yếu tố này không chỉ được thừa nhận mà còn rất cần thiết.
Tôi đã cố gắng chỉ ra rằng những yếu tố “phi nhận thức” không chỉ được thừa nhận là thành tố của trí tuệ nói chung mà còn quyết định hành vi thông minh” [104] Weschler không phải là ngƣời duy nhất nhận thấy khía cạnh không phải là nhận thức của trí tuệ là rất quan trọng đối với sự thích ứng và sự thành công của con ngƣời. Trƣớc đó, vào cuối những năm 20 của thế kỷ XX, giáo sƣ tâm lý học Rober Thorndike (Đại học tổng hợp Columbia - Mỹ) đã viết về “trí tuệ xã hội” (social intelligence – SI). Trí tuệ xã hội, theo ông, là năng lực mà một người dùng để hành động một cách khôn ngoan trong các quan hệ của con người. Kế thừa ý tƣởng của R.
Thorndike, David Weschler (1958) định nghĩa “ trí thông minh là 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng lực tổng thể hoặc năng lực chung của cá nhân để hành động có mục đích, để suy nghĩ hợp lý và để ứng phó có hiệu quả với môi trường của mình” [105]. Điều không may là công việc của những ngƣời tiên phong này trong một thời gian khá dài đã bị bỏ qua, ít đƣợc chú ý. Với sự phát triển của xã hội phƣơng Tây giai đoạn đại công nghiệp, nói đến trí thông minh, xã hội vẫn dành sự chú ý nhiều hơn đến năng lực nhận thức, tƣ duy theo cách hiểu truyền thống, đƣợc đo bằng các trắc nghiệm IQ về năng lực suy luận logic - toán và năng lực ngôn ngữ, năng lực nhớ kiến thức. Cho đến tận năm 1983, khi mà Howard Gardner, nhà tâm lý học Mỹ, công bố tác phẩm “Lý thuyết đa trí tuệ” (The theory of Multiple Intelligences – viết tắt là lý thuyết MI), các học giả và công chúng bắt đầu quan tâm đến nhiều thành phần khác nhau trong cơ cấu của trí tuệ của con ngƣời.
Cốt lõi của lý thuyết tâm lý học MI là sự thừa nhận nhiều thành phần trí tuệ trong năng lực ngƣời. Những dạng trí tuệ khác nhau đó là: trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ logic – toán, trí tuệ không gian, trí tuệ về vận động - cơ thể, và trí tuệ về con người (trí tuệ về con ngƣời lại bao gồm hai thành phần: trí tuệ về bản thân (intrapersonal intelligence) – hiểu mình, và trí tuệ về người khác (interpersonal intelligence)– hiểu về ngƣời khác).Gardner (1983), một ngƣời có thể mạnh về dạng trí tuệ này nhƣng lại kém về dạng trí tuệ khác. Kém cỏi về một dạng trí tuệ nào đó, cá nhân vẫn có thể có đƣợc những thành tựu cao nếu phát huy đƣợc thế mạnh của dạng trí tuệ khác [24]. Ví dụ, chỉ với trí thông minh logic – toán, một ngƣời có thể đi xa trong lĩnh vực này.
Nhƣng với thành tựu cao đó, nếu ngƣời ấy còn có thêm thành phần trí tuệ về con ngƣời thì con ngƣời ấy có cơ may thể hiện mình hoàn chỉnh hơn nhiều. Ngƣợc lại, một ngƣời với trí tuệ logic- toán rất nổi trội, có nhiều thành công trên lĩnh vực này nhƣng trí tuệ về bản thân rất kém cỏi (cảm nhận về cái Tôi kém, nhận thức về 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngƣời khác kém) thì rất có thể cô đơn với những thành công của mình, thậm chí còn tạo ra nhiều “kẻ thù” cho mình. Với những công việc cần nhiều đến sự liên kết, hợp tác thì khó có thể có đƣợc những thành công nếu năng lực trí tuệ về con ngƣời chỉ đạt mức thấp. Vào giữa thế kỷ XX, dƣới sự chỉ đạo của Hemphill, trung tâm Nghiên cứu Lãnh đạo bang Ohio, Fleishman và Harris (1962) chỉ ra rằng “sự quan tâm” là một khía cạnh quan trọng của sự LĐ hiệu quả.
Cụ thể hơn, nghiên cứu này gợi ý rằng những ngƣời LĐ mà có thể thiết lập đƣợc “sự tin cậy, kính trọng lẫn nhau, và sự hòa hợp, ấm áp một cách bền vững” với các thành viên trong nhóm của họ thì sẽ đạt hiệu quả LĐ tốt hơn. Để thiết lập đƣợc điều đó, ít nhất phải có năng lực nhận thức để hiểu về bản thân và hiểu về ngƣời khác [81]. Trong việc nhận thức về chính mình và ngƣời khác thì Reuven Bar-On là ngƣời đặc biệt quan tâm đến khía cạnh những diễn biến CX ở con ngƣời. CX chi phối rất mạnh đến hành vi, quan hệ xã hội của chúng ta.
Vì vậy, nhận biết về CX là rất quan trọng để có đƣợc những hành vi thông minh. Ông là ngƣời đầu tiên đƣa ra thuật ngữ chỉ số EQ (Emotional Intelligence Quotient) trong luận án tiến sĩ của ông (1985), ông nêu ra mô hình 5 yếu tố liên quan đến TTCX giúp cá nhân có khả năng thành công hơn những ngƣời khác, bao gồm: năng lực nhận diện và làm chủ CX của mình, năng lực nhận diện và điều khiển CX của những ngƣời khác, năng lực thích ứng, kiểm soát stress, tâm trạng chung [40]. Kế thừa và phát triển tƣ tƣởng của R. Thorndike, David Weschler, H.
Gardner, hai tác giả P.Mayer cũng đặc biệt quan tâm đến năng lực nhận thức và kiểm soát CX của con ngƣời. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, cuộc sống vật chất dồi dào hơn nhƣng áp lực tinh thần, căng thẳng cũng nhiều hơn; sự thiếu kiểm soát cân bằng đời sống CX có thể gây bất hạnh cho bản thân và ngƣời khác, cho cộng đồng. Ngƣợc lại, sự nhận thức và kiểm soát CX tốt giúp thích ứng tốt với hoàn cảnh. Hai ông đã nhận thấy giá trị của những nghiên cứu trƣớc đó về khía cạnh không phải nhận thức trong trí tuệ, nhận thấy vai trò quan trọng của CX, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đặt nó trong mối liên hệ với lĩnh vực nhận thức, từ đó đƣa ra khái niệm và mô hình TTCX.
Năm 1990 hai ông công bố bài báo “Emotional Intelligence” trên tạp chí Imagination, Cognition and Personality. Trong bài báo này, TTCX đƣợc mô tả là “một dạng của trí tuệ xã hội có liên quan đến khả năng điều khiển tình cảm, CX của bản thân và của những người khác, khả năng phân biệt chúng, và sử dụng những thông tin này để hướng dẫn suy nghĩ, hành động của con người” [100]. Năm 1997, trong bài viết "Trí tuệ cảm xúc là gì?” (What is Emotional Intelligence?) hai tác giả này chính thức định nghĩa: “TTCX như là năng lực nhận biết, bày tỏ CX, hòa CX vào ý nghĩ, hiểu và suy luận với CX, điều khiển, kiểm soát CX của mình và người khác” [84]. Trên cơ sở đó, họ đƣa ra Mô hình TTCX là một bộ gồm 4 nhánh năng lực: + Nhận thức CX ở bản thân và ở ngƣời khác.
+ Sử dụng CX để thúc đẩy tƣ duy. + Hiểu CX và biết phân tích CX. + Điều khiển các CX một cách có suy nghĩ để đạt mục đích [84]. Hai tác giả cũng dẫn ra nhiều cứ liệu cho thấy những năng lực nhằm đáp ứng với đòi hỏi luôn thay đổi của hoàn cảnh có liên quan chặt chẽ với TTCX.Mayer cũng khởi xƣớng một chƣơng trình nghiên cứu nhằm phát triển các phép đo TTCX có hiệu lực và khám phá tầm quan trọng của TTCX.
Ví dụ nhƣ, trong một nghiên cứu, họ nhận thấy rằng, khi một nhóm ngƣời xem một bộ phim tình cảm thì những ngƣời mà đạt điểm số cao về sự phân biệt rõ ràng các CX (khả năng xác định và gọi tên một tâm trạng đang đƣợc thể hiện) đã trở lại trạng thái cũ nhanh hơn những ngƣời khác. Trong một nghiên cứu khác, các cá nhân mà đạt điểm số cao hơn về khả năng quan sát một cách chính xác, hiểu và đánh giá CX của những ngƣời khác thì phản ứng một cách linh hoạt với sự thay đổi trong môi trƣờng xã hội của họ và xây dựng đƣợc mạng lƣới xã hội tích cực (Salovey, Bedell, Detweiler and Mayer, 1999). 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vào đầu những năm 1990, Daniel Goleman - ngƣời biên tập khoa học cho tờ New York Times, lĩnh vực phụ trách là những nghiên cứu về não và hành vi, đã chú ý theo dõi các nghiên cứu của P.Mayer và các công trình khác liên quan.Goleman viết cuốn sách “Trí tuệ cảm xúc” (Emotional Intelligence) (xuất bản năm 1995) – một trong những cuốn sách bán chạy nhất trên thị trƣờng Mỹ lúc đó và đã đƣợc dịch ra nhiều thứ tiếng. Kể từ khi cuốn sách này ra đời, công chúng mới thực sự chú ý đến chủ đề TTCX.
Trƣớc đó, khi D.Goleman làm luận án tiến sĩ Tâm lý học tại Đại học Harvard, ông đã từng cộng tác với giáo sƣ David McClelland và những cộng sự khác để nghiên cứu vấn đề: Tại sao các trắc nghiệm đo trí thông minh ít nói cho chúng ta biết cái gì tạo nên thành công của con người trong cuộc sống? Sau cuốn sách đầu tiên về TTCX, D.Goleman tiếp tục viết một loạt sách khác về TTCX nhƣ: + “Trí tuệ cảm xúc: Làm thế nào để biến những cảm xúc của mình thành trí tuệ” (1997), đề cập đến vai trò của TTCX đối với sự phát triển nhân cách và cách rèn luyện TTCX. + "Trí tuệ cảm xúc ứng dụng trong công việc" (1998), “Nghệ thuật lãnh đạo cơ bản: Việc nhận thấy sức mạnh của trí tuệ cảm xúc” (2002), và bài báo nổi tiếng “Cái gì làm nên ngƣời lãnh đạo?