Chương 1. Cơ sở lý luận về HVQL của chủ tịch UBND phường/xã - Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu - Chương 3. Kết quả nghiên cứu thực trạng HVQL của chủ tịch UBND phường/xã - Kết luậnvà kiến nghị - Danh mục công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án - Tài liệu tham khảo - Phụ lục 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI QUYỀN LỰC CỦA CHỦ TỊCH UỶ BAN NHÂN DÂN PHƢỜNG/XÃ 1.
Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề Vấn đề quyền lực trong hoạt động LĐ, QL được bàn đến từ rất sớm trong lịch sử phát triển xã hội. Có thể nói từ khi xã hội loài người hình thành thì người ta đã bàn đến vấn đề quyền lực và HVQL. Khi khoa học ra đời và phát triển thì vấn đề quyền lực được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu. Ở mỗi quốc gia, dân tộc tuỳ theo bản sắc văn hoá truyền thống và trình độ văn minh mà quan niệm về quyền lực và HVQL có những đặc thù riêng.
Hiện nay, vấn đề này được nhiều khoa học quan tâm nghiên cứu như Luật học, Chính trị học, Triết học, Khoa học quản lý, Tâm lý học… Trong luận án này, chúng tôi chỉ đề cập đến những nghiên cứu về HVQL dưới góc độ Tâm lý học. Những nghiên cứu về hành vi quyền lực ở nước ngoài HVQL đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu trên các góc độ khác nhau, bao gồm có bốn hướng tiếp cận chủ yếu. Đó là: 1) Hướng nghiên cứu sử dụng “quyền lực địa vị” của người LĐ, QL ảnh hưởng tới thái độ và hành vi của người dưới quyền; 2) Hướng nghiên cứu sử dụng “quyền lực cá nhân” của người LĐ, QL ảnh hưởng tới thái độ và hành vi của người dưới quyền; 3) Hướng nghiên cứu nguồn gốc, bản chất của quyền lực và mức độ ảnh hưởng của các loại quyền lực của người LĐ tới người dưới quyền trong QL; 4) Hướng nghiên cứu quá trình sử dụng quyền lực của người LĐ, QL trong các tình huống QL. Nghiên cứu sử dụng “quyền lực địa vị” của người lãnh đạo, quản lý ảnh hưởng tới thái độ và hành vi của người dưới quyền Vào thế kỷ thứ XVII – XVIII, cuộc cách mạng công nghiệp ở nhiều nước Phương Tây nổ ra và đưa xã hội loài người tiến vào nền văn minh công nghiệp tạo tiền đề cho sự phát triển của khoa học, trong đó có Khoa học quản lý và Tâm lý học quản lý.
Taylor (1856 - 1915) đưa ra lý thuyết quản lý người theo khoa học. Học thuyết này được đánh giá là “chìa khoá” mở ra “một kỷ nguyên vàng” trong quản lý xí nghiệp ở nước Mỹ. Dưới góc độ Tâm lý học quản lý có thể thấy, P.Taylor nhìn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhận con người như một cái máy, là những kẻ “thích trốn việc”. Vì thế để đưa lại hiệu quả trong QL thì phải dùng quyền lực ép buộc người ta làm việc theo kiểu “người lính” và đòi hỏi những người lao động phục tùng một cách tuyệt đối các mệnh lệnh của quyền uy.
Muốn thực hiện được yêu cầu này, những người LĐ, QL phải phân chia công việc một cách khoa học nhằm chuyên môn hoá các thao tác của người lao động, đưa họ vào trong một dây chuyền và bị giám sát chặt chẽ khiến họ không thể lười biếng. Ông viết: “Khi người ta bảo anh nhặt một thanh kim loại và khênh đi, anh sẽ nhặt nó và mang đi; và khi người ta bảo anh ngồi xuống nghỉ thì anh hãy ngồi xuống. Anh phải làm việc đó ngay lập tức trong suốt cả ngày và không một lời cãi lại” [dẫn theo 79, tr. Hạn chế của F.Taylor là với quan điểm thực dụng, ủng hộ lý thuyết “con người kinh tế”, ông đã tuyệt đối hóa vai trò quyền lực địa vị – sự tác động của các quyền hạn của người đứng đầu đến sự phục tùng của người lao động mà không quan tâm đến các đặc điểm tâm lý, quan hệ, nhu cầu, tình cảm… của đối tượng QL.
Trong cuốn “Lý thuyết quản lý hành chính chung và trong công nghiệp”, Henry Fayol (1841 – 1925) đã nghiên cứu và đưa ra hệ thống những nguyên tắc trong hành vi của người LĐ, QL. Bao gồm các nguyên tắc sau đây: - Có kế hoạch chu đáo và thực hiện kế hoạch một cách nghiêm chỉnh. - Việc tổ chức (nhân, tài, vật, lực) phải phù hợp với mục tiêu, lợi ích, yêu cầu của doanh nghiệp. - Cơ quan LĐ, điều hành phải là duy nhất, có khả năng và tích cực hoạt động.
- Kết hợp hài hoà các hoạt động trong doanh nghiệp với những cố gắng phối hợp. - Các quyết định đưa ra phải rõ ràng, chính xác và dứt khoát. - Tổ chức tuyển chọn nhân viên tốt, mỗi bộ phận cần có một người có khả năng và biết hoạt động; mỗi nhân viên phải được bố trí vào nơi có thể phát huy khả năng của họ. - Nhiệm vụ phải được xác định rõ ràng.
- Khuyến khích sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của mọi người trong xí nghiệp. - Bù đắp lâu dài và thoả đáng cho những công việc đã được hoàn thành. - Các lỗi lầm và khuyết điểm phải bị trừng phạt. - Phải tăng cường giám sát trong doanh nghiệp.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Kiểm tra tất cả mọi việc [dẫn theo 79, tr. Như vậy, về mặt tâm lý, giống như F. Fayol đã đề cập đến vấn đề tính hiệu quả, vai trò của quyền lực địa vị của người LĐ trong hành vi LĐ và sự phục tùng uy quyền của người LĐ, QL một cách nghiêm ngặt. Từ những nguyên tắc này có thể thấy, ông đã quan tâm đến tính chặt chẽ trong xây dựng các nguyên tắc tổ chức xí nghiệp cũng như sức mạnh của quyền lực địa vị của người LĐ, QL nhằm ép buộc đối tượng bị LĐ, QL làm việc một cách cứng nhắc.
Có thể thấy rằng, như đánh giá của giới khoa học quản lý, hướng nghiên cứu này đã mở ra một thời kỳ mới trong QL xí nghiệp, đưa quyền lực từ một hoạt động theo kinh nghiệm trở thành một hoạt động khoa học, góp phần nâng cao năng suất lao động trong các xí nghiệp. Đóng góp chính của hướng nghiên cứu này là đã xác định được những nguyên tắc cơ bản, ý nghĩa của việc sử dụng quyền lực địa vị trong QL. Nghiên cứu chỉ ra kết quả hoạt động QL phụ thuộc vào sự phục tùng một cách nghiêm ngặt của người dưới quyền đối với quyền lực địa vị của người LĐ. Tuy nhiên, đây cũng chính là những hạn chế, hướng nghiên cứu này đã đề cao sử dụng quyền lực địa vị, đòi hỏi sự phục tùng của người lao động một cách “máy móc” dẫn đến những hậu quả về sự phản ứng tiêu cực của người lao động đối với giới QL xí nghiệp.
Vì thế, cùng với sự phát triển của xã hội, hướng nghiên cứu này trở nên không phù hợp với thực tiễn QL. Nghiên cứu sử dụng “quyền lực cá nhân” của người lãnh đạo, quản lý ảnh hưởng tới thái độ và hành vi của người dưới quyền Nhằm khắc phục những hạn chế của hướng nghiên cứu trên, các nhà nghiên cứu cố gắng tìm hiểu cách thức ứng xử của người LĐ sao cho phát huy được sự tích cực, chủ động của người lao động vào công việc. Follet (1868-1933) đã rất quan tâm tới yếu tố tâm lý của người dưới quyền. Theo tác giả, trong quyền lực cần phải quan tâm tới toàn bộ đời sống kinh tế và tinh thần của người lao động; sự hòa hợp thống nhất giữa người LĐ, QL và người lao động sẽ là nền tảng và động lực cho sự phát triển của tổ chức.
Tác giả đã phản đối quan điểm QL truyền thống dựa trên sự ép buộc và cho rằng, LĐ cần sử dụng quyền lực cá nhân trên cơ sở kiến thức rộng và chuyên môn giỏi của người LĐ, QL [dẫn theo 33]. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Elton Mayo (1880-1949) là người đã xây dựng học thuyết về “quan hệ con người” và đã tiến hành thực nghiệm tại nhà máy điện lực Hawthorne ở miền Tây nước Mỹ. Ông đã quan tâm đến nhiều vấn đề về người dưới quyền trong đó có quan hệ của cá nhân và nhóm. Theo ông, để nâng cao hiệu quả của hoạt động QL thì người LĐ, QL cần quan tâm đến các đặc tính tâm lý của cá nhân và nhóm [dẫn theo 15].
Gregor (1906-1964) phân tích hành vi của đối tượng QL và đề xuất quan điểm QL phù hợp. Ông đã phân tích, khái quát các quan niệm truyền thống trong QL và đề xuất lý thuyết X (về bản chất tiêu cực của người dưới quyền), trên cơ sở đó ông đưa ra thuyết Y về bản chất tích cực của người dưới quyền. Theo ông để QL có hiệu quả cần có sự phân quyền trong QL - tức là người LĐ, QL phải đề cao tính tự giác, tích cực ở người dưới quyền, tạo điều kiện để họ chủ động, tự chủ trong thực hiện những nhiệm vụ của mình [dẫn theo 51]. Như vậy, cũng như hướng tiếp cận thứ nhất, hướng nghiên cứu này nghiên cứu việc sử dụng quyền lực của người LĐ, QL và sự phục tùng của khách thể LĐ, QL.
Tuy nhiên, khác biệt của hướng tiếp cận này là ở chỗ, các tác giả đề cao việc sử dụng quyền lực cá nhân của người LĐ và sự tự giác, chủ động tham gia vào các hoạt động QL của người dưới quyền. Hướng tiếp cận này đã chỉ ra rằng, để QL thành công, người LĐ cần quan tâm đến các đặc điểm tâm lý của người dưới quyền; chủ động gần gũi, chia sẻ, động viên người dưới quyền và tạo điều kiện để họ tự giác, chủ động trong hoạt động của mình. Tuy nhiên, những ứng dụng của hướng nghiên cứu này đã dẫn đến tình trạng vi phạm các nguyên tắc, thiếu tập trung vào thực hiện các mục tiêu và hậu quả là hiệu quả hoạt động QL không cao. Nghiên cứu về nguồn gốc, bản chất, phân loại quyền lực của người lãnh đạo và mức độ ảnh hưởng của các loại quyền lực tới người dưới quyền trong quản lý Cùng với sự phát triển của sản xuất và xã hội, tri thức và kỹ năng lao động, vai trò của người lao động trong quá trình sản xuất xã hội ngày càng được nâng cao, những mô hình sử dụng quyền lực theo truyền thống QL cũ trở nên không phù hợp đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần phải tìm ra những mô hình, cách thức QL mới phù hợp hơn nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.