CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN I. Lịch sử nghiên cứu vẫn đề: 1. Trên thé giới: Từ thời cỗ đại, cảm xúc giận dữ đã được các nhà triết học nghiên cứu đến. Những nghiên cứu này có thể đồng nhất quan điểm hoặc trái ngược nhau.
Mặc dau vậy, nhờ có những quan điểm, những nghiên cửu của họ mà lĩnh vực này được mở rộng hơn, sáng tỏ hơn và tạo nên tảng cho những nghiên cửu về sau được thuận lợi hơn. Theo Aristotle, giận dữ lả “sự thúc day có kém theo đau khổ, trả thù thăng tay sự khinh thường bất xứng, một cách công khai rõ rang hướng đến chính chúng ta hay các bạn bẻ của chúng ta”, Aristotle cũng phân biệt sự giận dữ thích đáng và không thích đáng “bat cử ai cũng có thé giận dữ, điều nay thì dễ dang. Tuy nhiên để tức giận với đúng người, với mức độ tức giận thích hợp, đúng thời điểm, vi những ly do chính đáng và biểu lộ sự tức giận đúng cách - lại là điêu không dễ". Còn đối với Lucius A.Seneca (4 trước công nguyên - 65 sau công nguyên) có đưa ra một số quan điểm có liên quan đến cảm xúc giận dữ: “giận dữ là một sự rung động tinh thần đột ngột và mạnh mẽ, hướng thăng đến việc thực hiện sự trả thù, một rung động kết hợp với ý chí và sự phán xét-trừng phạt.
Gian dữ có liên quan đến tinh trạng bừng bừng của cơ thé (ngực}”. Còn với Plotinus (204-270), giận dữ là một cảm xúc nảy sinh từ việc tri giác và hiểu biết sự đau đớn của chính mình hoặc sự đau đớn của người khác. Cảm xúc này khởi phát theo sau một biển đổi đã xảy ra trước nơi cơ thẻ (trong gan hay máu). Mật hay máu nóng lên (hoặc lưu chuyển), tâm hồn nhận ra chuyển động ấy, lý trí y thức được sự đau đớn, rỗi cảm xúc giận di được cam nhận.
Khi thuyết “Cam xúc phân hóa ra đời", giận dit được nghién cứu tỉ mi như lả một trong mười cảm xúc nên tảng của con người. Có thể nói một cách ngắn gọn, giận dữ là cảm xúc nén tảng mà việc kiểm soát sự biểu hiện của nó phải được chú y đặc biệt trong quá trình xã hội hóa. Ngảy nay, giận dữ thưởng được nghiên cửu trong mỗi liên hệ với stress, sự làm chủ cảm xúc. Nghiên cứu về cảm xúc giận dit của của học sinh THCS trên thé giới có thé kể đến các nghiên cứu của nha tâm lý học P.
M lacopxon, được thực hiện trong hàng chục năm, trong đó có van dé tinh cảm của thiểu niên. Tác phẩm “Đời sống tình cảm của học sinh” là một trong những tác phẩm tiêu biểu có liên quan đến lĩnh vực hẹp nảy. Tác giả Sandra Thomas có bai viết vẻ “Cac cảm xúc quản lý yếu kém: nghiên cứu dựa trên chiến lược quản lý sự tức giận”, trong đó có một phan nói về việc trẻ em học hỏi để nhận ra các dẫu hiệu cho thấy là họ dang tức giận. Họ học để ngăn chặn sự leo thang của cảm xúc tức giận bằng cách sử dụng các chiến lược dé thư giãn, như đếm, dùng hơi thở sâu, và làm hữu ich tự báo cáo (ví dụ: "Tôi có thé bình tĩnh”).
Trong các chương trình tiểu học, trẻ em cũng học hỏi dé áp dụng các bước giải quyết van dé. Nghiên cứu cho thay trẻ em có thể được đạy quản lý cảm xúc, chăng hạn như sự giận dữ (Nelson & Finch, 2000). “Quan lý cảm xúc giận dữ cho tudi teen” của tác giả Bozkurt tại Sở xã. hội, Đại học Califomia, Los Angeles thông qua thực nghiệm cho các em chơi môn thé thao khúc côn cầu mà đánh giá các mức độ giận dữ của trẻ va chỉ ra một số cách thức giúp quản lý cảm xúc giận dữ tốt hơn.
Năm 2009, nhóm tác gia Kelly. Burns, Raymond Diguiseppe của khoa Tam ly học - St. John’s University- New york đã có công trình nghiên cứu về “Một cach nhìn xuyên văn hóa trong việc đánh giả cơn tức giận và tính gây han (tính công kích) của thanh niên Việt Nam vả thanh niên Mỹ. Mục dich chỉnh của công trình nghiên cứu nảy nhằm khảo sát những cảm xúc, mức độ, quan điểm vả hành vi của cơn tức giận cũng như tính công kích của thanh thiểu niên trong nhà trường ở Việt Nam, tir đó có cai nhìn rõ hơn khi so sánh đặc điểm nay với thanh niên Mỹ, 2.
Trong nước: Trong những năm gan đây, những để tài liên quan đến cảm xúc nói chung vả cảm xúc giận dữ nói riêng cũng như những đẻ tải liên quan đến kỹ năng cũng kha nhiều, tuy nhiên người nghiên cứu chỉ nêu ra một vai dé tai có liên quan. Trong bai viết “Bo lường các chỉ số trí tuệ: 1Q, CQ, EQ ở học sinh, sinh viên”, tác giả Hoàng Ngọc Yến, Tran Kiéu cho rằng để có thể phát hiện, ly giải mỗi tương quan của các chỉ số 1Q, EQ, CQ của từng cá nhân, cách đo không thẻ tiến hành một cách riêng biệt trên từng thể nghiệm khác nhau mà phải đo trên cùng một thể nghiệm, tức là mỗi học sinh, sinh viên làm bon trac nghiệm để đánh giá cùng lúc ba chỉ số này. Theo tác giả Nguyễn Công Khanh, Dinh Thị KimThoa và Nguyễn Thanh Đoàn có ban đến “Phương pháp luận nghiên cứu tri thông minh cảm xúc”, trong đó tác giả nhắn mạnh ý nghĩa của việc nghiên cứu trí tuệ cảm xúc ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa ra phương pháp đo lưởng và cách thức tiếp cận đo lường. “Những tổn thương tâm ly của thiêu niên do bé mẹ ly hôn” của tác giả Văn Thị Kim Cúc cho thay ảnh hưởng của yếu tổ hoàn cảnh sống lên đời sống tinh cảm cua trẻ như thé nao.
Dé tải giúp người nghiên cửu lưu tâm hơn đến ảnh hưởng của yêu tổ hoàn cánh sống với kỹ nang quản lý cảm xúc giận dữ của trẻ thiểu niên. Trong dé tai khóa luận tốt nghiệp đại học của tác giả Cao Văn Quang (2008) “Tim hiểu những biểu hiện trí tuệ cảm xúc của học sinh một số trường THCS Tp. HCM hiện nay” trong đó người nghiên cứu tham khảo phan cơ sở lý luận, làm sang tỏ hơn khải niệm cảm xúc trong đẻ tải của minh. Để tải khóa luận tốt nghiệp đại học của tác giả Lương Tri Dũng (2003) nghiên cứu vẻ “Bude dau tìm hiểu xúc cảm giận dữ ở học sinh THCS” nghiên cửu một số van dé liên quan đến cảm xúc giận dữ như mức độ xảy ra cảm xúc giận dữ, cách thức giải tỏa cơn giận, thai độ sau khi giận, một số yếu tổ anh hướng đến cảm xúc giận dữ.
Trong đó, người nghiên cứu có thể tham khảo kết quả của vẫn dé “cach thức giải tỏa cơn giận, một số yêu tô ảnh hưởng đến cảm xúc giận dữ" và một số khái niệm có liên quan đến cảm xúc giận dữ”. Đề tài tốt nghiệp thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Long, nghiên cứu về “Kỹ năng sống của học sinh Trung học cơ sở tại Tp. HCM”, mục dich làm rõ thực trạng kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở Thành phỏ Hỗ Chi Minh, qua đó đề xuất những biện pháp tác động tâm ly phù hợp nhằm hình thành và phát triển kỹ năng sông cho học sinh trung học cơ sở, trong đó có kỹ nang quản ly cảm xúc. "Thực trạng kỹ năng song của sinh viên một số trường Đại học tại Tp.
HCM hiện nay” của nhóm tác gia là giảng viên của khoa Tam ly - Giáo dục trường Đại học sư phạm TP. HCM do tác giả Huynh Văn Sơn chủ nhiệm cũng làm sáng tỏ khải niệm về kỹ năng quản lý giúp xây dựng khái niệm kỹ năng quan ly cảm xúc giận did của học sinh THCS. Nhin chung, những nghiên cứu liên quan đến kỹ năng quản ly cảm xúc giận dữ ở lửa tudi học sinh Trung học cơ sở ở Việt Nam hiện nay còn khả it, trong phạm vi năng lực có hạn, hy vọng dé tai sẽ góp một phan vào lĩnh vực kha mới mẻ nảy. Cơ sở lý luận của vẫn dé nghiên cứu: 1.
Tình cảm: Ld. Định nghĩa: Theo Lê Thị Bừng thi “tình cảm là những thái độ cảm xúc ôn định của con người đôi với những sự vật hiện tượng của hiện thực, phản ánh ý nghĩa của ching trong mỗi liên hệ với nhu câu động cơ của họ. Tinh cảm là sản phẩm cao cấp của sự phát triển các quá trình cảm xúc trong các điều kiện xã hội" [I, trl]. Theo Nguyễn Xuân Thức thi “tinh cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những sự vật, hiện tượng của hiện thực, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mỗi liên quan với nhu cầu và động cơ của con người” [39, tr.
Người nghiên cứu đồng quan điểm với tác giả Nguyễn Xuân Thức vì định nghĩa của ông làm rõ nội ham của định nghĩa “tinh cam” hơn. Vai trò của tình cảm: 1. Tình cảm với nhận thức: Tinh cảm vừa hạn chế vừa có thể thúc day nhận thức tùy thuộc vào các tỉnh huỗng cụ thể. Tinh cảm có thé hạn chế quả trình nhận thức là các tình cảm, cảm xúc tiêu cực, các trạng thái xúc cảm âm tính hoặc những xúc động mạnh làm con người không thể tập trung vào đối tượng nhận thức hoặc thúc đây con người hành động nhanh chóng mà không kịp suy nghĩ [1, tr.
10 Tình cam cũng có thé trở thành động cơ thúc day con người tiền hành hoạt động nhận thức để nhận thức rõ hơn, sâu sắc hơn sự vật, hiện tượng. Những nghiên cửu gan đây của A. Damasio (1994) cho thay rang những người bị suy giảm khả năng trải nghiệm cảm xúc sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc đưa ra các quyết định trí tuệ mang tỉnh thực tiễn. Ngảy nay, các nha tam lý học đã di đến chỗ thừa nhận sự kết hợp độc dao giữa cảm xúc và nhận thức trong tri tuệ cảm xúc của con người (1, tr.
Tình cảm doi với hoạt động: Bang con đường thực nghiệm, Ð. Hebb đã chỉ ra ảnh hưởng của tình cảm đổi với hoạt động của con người. Theo kết quả của thực nghiệm, dé dat mức độ hiệu quả nhất trong hoạt động, con người can có mức độ hưng phan câm xúc trung bình. Cường độ yếu và qúa mạnh của cảm xúc không phải là cường độ tôi ưu cho hoạt động.
Tinh cảm chiém vị trí quan trọng trong số những động lực và nhân tô điêu chỉnh hành vi và hoạt động của con người. Tình cảm nảy sinh, biểu hiện, thúc đây con người hoạt động. Tình cảm có thé làm tăng cường nghị lực, củng cô quyết tâm của con người trong khi thực hiện những công việc can có sự khắc phục khó khăn.