Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC NHẰM RÈN LUYỆN KĨ NĂNG PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC CÁ NHÂN TRẺ KHUYẾT TẬT CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM MẦM NON NGÀNH GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu trên thế giới Những nghiên cứu về dạy học nhằm rèn luyện kỹ năng Vào những năm 20 của thế kỷ XX các nhà Giáo dục học Xô Viết như: H.X Macarenco [1; tr76], [39], [57] [60; tr178], [36; tr34] [37] đã đi sâu nghiên cứu ý nghĩa của việc đặt kế hoạch và tự kiểm tra, đặc biệt là H.Krupxkai rất quan tâm đến việc hình thành các kỹ năng lao động cho học sinh phổ thông trong việc dạy, hướng nghiệp cho họ. Sau 1970 khi lý thuyết hoạt động của A.N Lêônchep ra đời, hàng loạt các công trình nghiên cứu kỹ năng, kỹ xảo được công bố dưới ánh sáng lý thuyết hoạt động.
Những công trình này đã phân biệt rõ hai khái niệm và con đường hình thành kỹ năng là kinh nghiệm và tri thức trước đó.I Kixegov [57; tr88] trong công trình nghiên cứu về kỹ năng hoạt động sư phạm đã phân tích khá sâu về kỹ năng trong khi tiến hành thực nghiệm hình thành kỹ năng ở sinh viên sư phạm, ông nêu ra ý kiến: khả năng hoạt động sư phạm có đối tượng là con người, hoạt động này rất phức tạp, đòi hỏi sư sáng tạo, không thể hành động theo một khuôn mẫu cứng nhắc. Kỹ năng hoạt động sư phạm đòi hỏi tính nghiêm túc, mặt khác đòi hỏi tính mềm dẻo ở mức độ cao, ông phân biệt hai kỹ năng: Kỹ năng bậc thấp (được hình thành đầu tiên qua các hoạt động giản đơn, nó là cơ sở hình thành kỹ xảo) và Kỹ năng bậc cao (kỹ năng nảy sinh lần thứ hai sau khi đã có được tri thức và kỹ xảo) Người có công trong việc nghiên cứu kỹ năng, kỹ xảo đưa ra được các phương pháp thành kỹ năng phải kể đến là V. Bà đã nghiên cứu kỹ về kỹ năng, kỹ xảo lao động. Theo bà “kỹ năng với tư cách là khả năng (trình độ được chuẩn bị) thực hiện một hành động nào đó thì dựa trên cơ 9 sở những tri thức và kỹ năng được hoàn thiện lên cùng với chúng”.
Kỹ năng thường có liên quan đến khả năng vận dụng kinh nghiệm cũ trong việc thực hiện những hành động mới, trong điều kiện mới.Tsebưseva đã nêu lên các điều kiện và các bước hình thành kỹ năng. Bà khẳng định “các quá trình nhận thức trong học tập càng tích cực bao nhiêu thì các kỹ năng, kỹ xảo càng nhanh chóng và hoàn thiện bấy nhiêu”. Từ đó bà đưa ra kết luận sư phạm rất quan trọng “Khi huấn luyện nên rút dần vai trò của nhà giáo dục để người học tự làm lấy thì kỹ năng sẽ được hình thành nhanh chóng và ổn định hơn. Mặt khác, nhà trường cũng phải chú ý đúng mức đến chất lượng các kỹ năng, kỹ xảo nếu không ở học sinh có thể hình thành kỹ năng, kỹ xảo chưa hoàn thành mà sau này phải học lại là nhiệm vục phức tạp hơn học cái mới”.
Trong tác phẩm của mình bà đã nêu lên những phương pháp và điều kiện rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh. Bà cho rằng “Tuỳ theo đặc điểm của các kỹ năng, kỹ xảo mà định ra các hình thức tổ chức, phương pháp và biện pháp giảng dạy thích hợp. Bà nhấn mạnh yếu tố tích cực của học sinh. Vì vậy mà việc áp dụng các phương pháp, biện pháp dạy học nâng cao tính tích cực tư duy của học sinh có ý nghĩa rất quan trọng.Smưch nhà giáo dục học Liên Xô (cũ) trong tác phẩm “nghề của tôi - giáo viên mầm non” đã nói rằng “để hình thành kỹ năng vấn đề quan trọng phải có tình cảm hứng thú đến với nó, làm cho quá trình rèn luyện rút ngắn và đỡ tiêu hao sức lực”.
[162], [168] Một số tác giả như N.Savin chỉ đề cập đến năng lực sư phạm. Ông cho rằng năng lực sư phạm được coi là sự kết hợp phức tạp các thuộc tính tâm lý cá nhân, là điều kiện để đạt kết quả cao trong việc giáo dục và giảng dạy trẻ em [32] Chúng tôi cho rằng kỹ năng sư phạm là khả năng nắm vững và vận dụng sáng tạo những tri thức, cách thức, biện pháp nhằm thực hiện có hiệu quả một số thao tác hay một loạt các thao tác phức tạp của hành động sư phạm. Để rèn luyện kỹ năng sư phạm, người ta đi xác định những kỹ năng cụ thể và O.Abdullina dựa vào chức năng của người thầy giáo đã phân loại các nhóm kỹ năng sau: [9], [27], [39], [57] 1). Kỹ năng nghiên cứu học sinh; 2).
Kỹ năng tổ chức giảng dạy và giáo dục; 3). Kỹ năng tiến hành công tác giáo dục xã hội 10 Ba nhóm kỹ năng trên tương ứng vào ba chức năng: chức năng nghiên cứu học sinh, chức năng tổ chức giảng dạy và giáo dục, chức năng tiến hành công tác giáo dục xã hội. Trong các kỹ năng trên thì kỹ năng tổ chức giảng dạy và giáo dục là cơ bản nhất.Petropxkin dựa vào chức năng nhiệm vụ của người thầy giáo, đặc điểm nghề nghiệp dạy học đã nêu ra hệ thống kỹ năng và kỹ xảo sau: 1). Kỹ năng kỹ xảo thông tin; 2).
Kỹ năng kỹ xảo động viên; 3). Kỹ năng kỹ xảo phát triển.Kỹ năng kỹ xảo định hướng [62, Sđd] Giáo sư N.Kuzơmina dựa vào quá trình đào tạo sinh viên thành người chuyên gia, người thầy giáo đã nêu ra 05 nhóm kỹ năng cơ bản là: 1). Nhóm kỹ năng nhận thức; 2). Nhóm kỹ năng thiết kế; 3).
Nhóm kỹ năng kết cấu; 4). Nhóm kỹ năng giao tiếp; 5). Nhóm kỹ năng tổ chức Cách phân loại hệ thống kỹ năng sư phạm trên đã nêu ra hệ thống một cách đầy đủ những kỹ năng cơ bản cần thiết trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của người giáo viên. Đồng thời cách phân loại như trên cũng chỉ ra được mối quan hệ giữa kỹ năng nền tảng và kỹ năng chuyên biệt là mối quan hệ giữa cái bộ phận và cái toàn thể, cái riêng và cái chung trong hệ thống kỹ năng sư phạm.
Những nghiên cứu về dạy học nhằm rèn luyện kỹ năng phát triển chương trình và chương trình GDCN Thuật ngữ chương trình dạy học đã xuất hiện từ những năm 1820, tuy nhiên việc sử dụng thuật ngữ này như một cách chuyên nghiệp thì chỉ xuất hiện khoảng một thế kỷ sau đó. Từ những năm 20 của thế kỷ XX, ở Mĩ bắt đầu có những cuộc thảo luận về cương trình, đặc biệt từ cuối những năm 50 trở đi, những vấn đề về chương trình và lý luận về chương trình trở thành trung tâm chú ý của khoa học giáo dục Mỹ, của các nước nói Tiếng Anh, sau đó lan sang khu vực các nước nói tiếng Đức, tiếng Pháp… Jean Mare Gaspard Itard (1774 - 1836), người đầu tiên đưa ra “Kế hoạch cá nhân”. Ông là một bác sĩ kiêm nhà giáo dục người Pháp -. Ông được giao chăm sóc một “cậu bé hoang dã vùng Eveyron”, là một thiếu niên mà người ta tìm thấy em khi em đang gào thét man rợ tại khu rừng Eveyron [132].
Itard đã phản đối quan điểm cho rằng cậu bé này bị bệnh điên, theo ông nguyên nhân của tình trạng đó là 11 do cậu bé đã bị tước đoạt những trải nghiệm sống. Ông nhìn nhận cậu này như là một người có các cơ quan không được linh hoạt, sự cảm nhận diễn ra chậm chạp, đó là một trường hợp bệnh lí đơn thuần và thuộc phạm vi điều trị của y tế. Itard thực hiện kế họạch của mình không chỉ vì động cơ nhân đạo mà còn nhằm thử nghiệm nhằm “xác định mức độ trí tuệ và tình trạng tư duy của một thiếu niên đã bị tách rời giáo dục từ lúc ấu thơ, bị cô lập khỏi những cá thể cùng loài”. Kế hoạch nghiên cứu của Itard về tác động của việc tách trẻ khỏi giáo dục quá sớm đã trở thành một thử nghiệm cho việc áp dụng các phương pháp hướng dẫn có hệ thống cho người bệnh su này.
Dựa theo quan niệm của Condillac ông cho rằng: “Suy nghĩ tức là cảm giác” và ông đã thiết kế một “chương trình có khả năng kích thích các cảm giác”, sau đó đưa chúng vào quá trình học ngôn ngữ và nhận thức. Kế hoạch hướng dẫn này bao gồm những hoạt động nhằm phát triển các chức năng cảm giác, các chức năng tư duy, và các chức năng tình cảm. Những hoat động này được thiết kế như một chuỗi các hành động liên tiếp, nhưng trong thực tế Itard nhận thấy rằng chúng cần có sự kết nối và liên hệ với nhau. Phương pháp của ông được tiến hành với 5 mục tiêu: [128; tr225], [41; tr28] - Làm trẻ quan tâm tới cuộc sống xã hội bằng cách mang lại cho trẻ những điều tốt đẹp thay vì cuộc sống mà trẻ đã trải qua - Đánh thức sự nhạy cảm của thần kinh bằng những kích thích và tình cảm mạnh mẽ - Mở rộng tầm tư duy cho trẻ bằng cách gây cho trẻ những nhu cầu mới và tăng các tiếp xúc xã hội - Hướng dẫn trẻ sử dụng ngôn ngữ bằng cách tạo ra các bài tập bắt chước - Buộc trẻ phải thực hiện phân tích tư duy đơn giản đối với những đồ vật mà trẻ cần tới trong một thời gian, sau đó áp dụng quá trình tư duy này lên những đồ vật được chon để hướng dẫn Như vậy là Itard đã tạo ra một phương pháp có ảnh hưởng lớn tới thực hành cho đến nay, đó là ý tưởng vận dụng các mục tiêu và chiến lược hướng dẫn, giảng dạy vào việc phát triển nhu cầu và điểm mạnh của từng đứa trẻ, hay chính là “chương trình giáo dục cá nhân” và nó đã trở thành dấu hiệu để xác định chất lượng của Giáo dục đặc biệt.
12 Phát triển niềm tin của Itard, Seguin [157; tr32] đã cho rằng các giác quan vốn không hoạt động có thể khôi phục và xuất hiện trở lại một cách có hệ thống trong quá trình học tập, rèn luyện, Seguin đã công nhận có một vòng tròn khép kín liên kết mỗi cảm giác của giác quan với một hoạt động tinh thần (chính là phản ánh) và chức năng tinh thần (biểu hiện).