Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ tập trung nghiên cứu: "Kỹ năng hợp tác trong học thực hành của sinh viên các trường Đại học sư phạm kỹ thuật", thuộc chuyên ngành Tâm lý học (Tâm lý học chuyên ngành / Tâm lý học sư phạm).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh bùng nổ công nghệ và toàn cầu hóa, kỹ năng hợp tác (KNHT) là yếu tố giữ vai trò quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả lao động, sản xuất và học tập. Giáo dục đại học thế giới và Việt Nam đề cao KNHT như một kỹ năng cốt lõi giúp người học hòa nhập cộng đồng và đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp. Lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ mang đặc thù thực hành cao, phần lớn thời gian làm việc trên các thiết bị kỹ thuật, đòi hỏi sự phân công, phối hợp theo dây chuyền và làm việc nhóm chặt chẽ, khác biệt hoàn toàn với lao động thủ công nghiệp đơn lẻ.

Ngành sư phạm kỹ thuật (SPKT) đảm nhiệm mục tiêu đào tạo giáo viên dạy các môn kỹ thuật, công nghệ cho các cơ sở giáo dục hoặc chuyên gia trong lĩnh vực SPKT. Ngành có tính chất tích hợp giữa đào tạo chuyên gia kỹ thuật và đào tạo nghiệp vụ sư phạm. Do đó, KNHT trong học thực hành của sinh viên SPKT mang "ý nghĩa kép": vừa giúp sinh viên hoàn thành các nhiệm vụ học tập kỹ thuật chuyên ngành trong trường sư phạm, vừa hình thành kỹ năng nghiệp vụ sư phạm về tổ chức hợp tác trong dạy học thực hành kỹ thuật để vận dụng sau khi tốt nghiệp.

Thực tế chuyển đổi đào tạo từ niên chế sang tín chỉ đặt ra yêu cầu tự lực và làm việc nhóm cao. Tuy nhiên, sinh viên SPKT trước đây quen với mô hình học tập cá nhân ở bậc phổ thông; khi bước vào đại học, nội dung thực hành nặng tính kỹ thuật công nghệ khiến họ lúng túng, thao tác dập khuôn, cứng nhắc và thiếu kinh nghiệm hợp tác. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: dù vấn đề KNHT đã được tìm hiểu nhiều trong tâm lý học, nhưng còn rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống về KNHT trong học thực hành của sinh viên các ngành kỹ thuật nói chung và sinh viên các trường đại học SPKT nói riêng.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng KNHT trong học thực hành của sinh viên đại học SPKT; từ đó đề xuất một số biện pháp tác động tâm lý - sư phạm nhằm nâng cao KNHT trong học thực hành cho sinh viên SPKT.

Luận án thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xây dựng cơ sở lý luận về KNHT trong học thực hành của sinh viên SPKT: hệ thống hóa các khái niệm cơ bản, xác định các kỹ năng thành phần, biểu hiện, mức độ và các yếu tố ảnh hưởng.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng biểu hiện, mức độ KNHT trong học thực hành của sinh viên SPKT và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng này.
  3. Đề xuất và tổ chức thực nghiệm biện pháp tác động tâm lý - sư phạm nhằm nâng cao KNHT trong học thực hành cho sinh viên SPKT.

Giả thuyết khoa học

Văn bản luận án xác lập hệ thống giả thuyết khoa học gồm 3 nội dung:

  1. Kỹ năng hợp tác trong học thực hành của sinh viên SPKT nhìn chung ở mức trung bình; trong đó nhóm kỹ năng lập kế hoạch hợp tác đạt mức độ cao nhất, nhóm kỹ năng đánh giá hiệu quả hợp tác trong học thực hành đạt mức độ thấp nhất.
  2. KNHT trong học thực hành của sinh viên SPKT chịu ảnh hưởng của các yếu tố từ sinh viên và từ phía nhà trường. Trong đó, yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất thuộc về sinh viên là động cơ thúc đẩy sinh viên làm việc hợp tác; yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất từ phía nhà trường là phương pháp tổ chức hợp tác trong học thực hành của giảng viên.
  3. Có thể nâng cao KNHT trong học thực hành của sinh viên SPKT bằng các biện pháp bồi dưỡng nâng cao nhận thức và rèn luyện KNHT thông qua tổ chức dạy học thực hành kỹ năng nghề theo phương pháp học tập hợp tác nhóm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện và mức độ kỹ năng hợp tác trong học thực hành của sinh viên Đại học sư phạm kỹ thuật.
  • Giới hạn nội dung: Tập trung vào 3 kỹ năng thành phần cơ bản gồm: kỹ năng lập kế hoạch hợp tác, kỹ năng tổ chức thực hiện kế hoạch hợp tác và kỹ năng đánh giá hiệu quả hợp tác. Đồng thời khảo sát ảnh hưởng của 3 yếu tố từ sinh viên (thái độ, động cơ thúc đẩy, tính cách khi hợp tác) và 4 yếu tố từ nhà trường (phương pháp tổ chức của giảng viên, điều kiện cơ sở vật chất - trang thiết bị, nội dung bài học thực hành, công tác bồi dưỡng rèn luyện kỹ năng).
  • Phạm vi địa bàn: 3 trường đại học gồm Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên.
  • Khách thể nghiên cứu:
    • Khảo sát thực trạng: 452 sinh viên năm thứ 2 và thứ 3 hệ đại học sư phạm tại ĐH SPKT Vinh và ĐH SPKT Nam Định; 158 giảng viên tại cả 3 trường (ĐH SPKT Vinh, ĐH SPKT Nam Định, ĐH SPKT Hưng Yên).
    • Phỏng vấn sâu: 20 sinh viên và 9 giảng viên của ĐH SPKT Vinh và ĐH SPKT Nam Định.
    • Khách thể thực nghiệm: 70 sinh viên năm thứ 3 tại Trường Đại học SPKT Vinh, chia thành nhóm thực nghiệm (36 sinh viên ngành SPKT Công nghệ ô tô) và nhóm đối chứng (34 sinh viên ngành SPKT Công nghệ chế tạo máy).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu theo hai phân mảng chính: kỹ năng hợp tác trong học tập và kỹ năng hợp tác trong học thực hành.

Các nghiên cứu về kỹ năng hợp tác trong học tập

Nghiên cứu ở nước ngoài được tác giả phân chia theo hai hướng tiếp cận:

  • Hướng tiếp cận KNHT dưới góc độ hoạt động học tập hợp tác: Khởi nguồn từ lí thuyết học tập tương tác của L. Vưgotsky vào đầu thế kỷ XX về cơ chế kết hợp giữa học cá nhân và học hợp tác. Slavin R., Larson & LaFasto (1989) xem hợp tác là điều kiện để nhóm hoàn thành công việc chung dựa trên sự tin tưởng, sẻ chia. Johnson (1994) xác định hợp tác là hoạt động học sinh cùng làm việc để tối đa hóa việc học của bản thân và bạn học. Martin Hoegl & Hans Georg Gemuenden (2001) chỉ ra 5 yếu tố quyết định thành công nhóm: giao tiếp, phối hợp hỗ trợ, công bằng, tự giác nỗ lực và gắn kết. Zhuang cùng cộng sự (2008) phân tích KNHT qua các chiến thuật giải quyết xung đột, trao đổi công việc, thích ứng, liên kết và động viên. Baggs & Schmitt (1988) cũng nhấn mạnh sự gắn kết và hỗ trợ tự nguyện.
  • Hướng tiếp cận KNHT là quá trình gắn kết, hỗ trợ, chia sẻ: V.F. Kharlamov (1978) nhấn mạnh kỹ năng lập và thực hiện kế hoạch học tập nghiêm túc. Baggs & Schmitt (1988) cấu trúc hợp tác gồm việc lên kế hoạch, ra quyết định, giải quyết vấn đề, giao tiếp và trách nhiệm cá nhân. Tác giả luận án nhận xét hướng này đã chú ý đến đánh giá kết quả nhưng chưa làm rõ phương thức tổ chức và triển khai cụ thể.

Nghiên cứu ở Việt Nam cũng vận động theo hai hướng tương tự:

  • Hướng tiếp cận hoạt động: Ngô Thị Thu Dung (2002) chỉ ra 18 KNHT thuộc 3 nhóm (nhận thức, tổ chức, giao tiếp) ở học sinh tiểu học. Đặng Thành Hưng phân tích hệ thống kỹ năng học tập hiện đại với 5 nguyên tắc học hợp tác. Phạm Xuân Vũ phân tích vai trò của KNHT trong việc tạo dựng quan hệ liên nhân cách và giảm căng thẳng tâm lý. Nguyễn Thị Thanh (2013) đề xuất 4 nhóm kỹ năng học tập hợp tác cho sinh viên sư phạm. Nguyễn Diễm My (2017) xây dựng 71 tiêu chí với 5 mức độ đánh giá KNHT giữa sinh viên với giảng viên và sinh viên với sinh viên.
  • Hướng tiếp cận quá trình: Nguyễn Thị Quỳnh Phương (2012) phân chia hệ thống kỹ năng học tập hợp tác của sinh viên sư phạm thành 4 nhóm (hình thành nhóm, giao tiếp, xây dựng niềm tin, giải quyết bất đồng). Nguyễn Thành Kỉnh nghiên cứu phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên trung học cơ sở (thiết kế bài học, tiến hành giảng dạy, hỗ trợ). Phan Thị Thanh Hội và Phạm Huyền Phương (2015) chia năng lực hợp tác thành nhóm kỹ năng tổ chức - quản lý, hoạt động và đánh giá. Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2012) đề xuất mô hình 5 nhóm với 35 kỹ năng cụ thể cho sinh viên sư phạm.

Các nghiên cứu về kỹ năng hợp tác trong học thực hành

Nghiên cứu ở nước ngoài: Cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ ban hành chương trình đào tạo nghề và Liên Xô nghiên cứu tổ chức dạy học thực hành theo nguyên công công nghệ kết hợp sản xuất. R. Slavin xây dựng hai mô hình nhóm học tập (STAD) và giảng dạy dựa vào nhóm (TAI). Davidson nêu các đặc trưng của nhóm hợp tác (tương tác trực diện, phụ thuộc tích cực, phân công trách nhiệm). Cuốn "Cơ sở giáo dục học nghề nghiệp" (Liên Xô, 1960/1982) đề cập học tập nhóm nhỏ để rèn luyện kỹ năng lao động. Thập niên 50-60 của thế kỷ XX, Kolb D.A. khởi xướng phương pháp học tập trải nghiệm tại Úc, Anh, Mỹ. Cuốn "Lý luận dạy học thực hành nghề" của Đức (thập niên 70, Nguyễn Đức Trí dịch) bàn về cách thức học nhóm nhỏ. Joan Kelly-Plate và Ruth Volz-Patton (1991) chỉ ra các kỹ năng nghề chung (lập kế hoạch, tính toán). Các mô hình phong cách học tập của Dunn & Dunn, Honey & Mumford, Kolb được ứng dụng trong dạy thực hành kỹ thuật. Cobbe Jim (2008) nghiên cứu kỹ năng mềm và làm việc nhóm. Tsêbưsêva phân tích kỹ xảo lao động trong "Tâm lý học dạy lao động". David Jaques & Gilly Salmon (2006) chỉ rõ nhóm thực hành nhỏ dưới 7 thành viên có tính gắn kết và luân phiên vai trò cao.

Nghiên cứu ở Việt Nam: Đặng Danh Ánh (1977) nêu 4 kỹ năng nghề nghiệp (lập kế hoạch, tổ chức, kiểm tra, điều chỉnh). Trần Trọng Thủy (1978) trong "Tâm lý học lao động" làm rõ quy luật hình thành kỹ năng, kỹ xảo sản xuất. Nguyễn Đức Trí (1988) nghiên cứu các kỹ năng lao động chung trong luyện tập thực hành. Vũ Xuân Hùng và Nguyễn Thế Mạnh phân tích cơ chế tâm sinh lý của quá trình luyện tập kỹ thuật. Dương Phúc Tý (2006) phân tích hiện tượng tương tác mặt đối mặt và phụ thuộc tích cực trong thực hành nhóm. Nguyễn Văn Khôi đề xuất 7 kỹ năng làm việc nhóm thực hành kỹ thuật (lắng nghe, chất vấn, thuyết phục, tôn trọng, trợ giúp, chia sẻ, chung sức). Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2006) khảo sát kỹ năng xã hội trong học hợp tác tại khoa SPKT. Nguyễn Cẩm Thanh (2015) nghiên cứu dạy học thực hành kỹ thuật theo tiếp cận tương tác.

Khoảng trống luận án giải quyết

Tác giả luận án chỉ rõ: các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào KNHT trong học tập lý thuyết nói chung hoặc kỹ năng lao động nghề nghiệp đơn lẻ; chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên biệt về KNHT trong học thực hành của sinh viên SPKT dưới góc độ tâm lý học. Cấu trúc tâm lý, các tiêu chí đánh giá mức độ biểu hiện cụ thể và các yếu tố ảnh hưởng đến KNHT trong môi trường xưởng thực hành kỹ thuật vẫn chưa được giải quyết tường minh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ

Luận án tổng hợp 3 cách tiếp cận về kỹ năng trong tâm lý học:

  1. Kỹ năng là mặt kỹ thuật của thao tác, hành động (V. Covaliov, Tsêbưsêva, Trần Trọng Thủy, Trần Hữu Luyến).
  2. Kỹ năng là biểu hiện năng lực cá nhân trong việc vận dụng tri thức, kinh nghiệm để giải quyết nhiệm vụ.
  3. Kỹ năng là hành vi ứng xử của cá nhân (Richard, Đặng Thành Hưng).

Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra định nghĩa: Kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm hành động/hoạt động đã có để thực hiện hành động/hoạt động có kết quả trong điều kiện cụ thể xác định theo mục đích đặt ra.

Cấu trúc tâm lý của kỹ năng bao gồm:

  • Tri thức trong kỹ năng: Hiểu biết về đối tượng, công cụ, quy trình, hoàn cảnh và chính bản thân chủ thể.
  • Kinh nghiệm hành động: Các hành động cùng loại đã tiến hành có kết quả được tích lũy lại.
  • Thao tác trong hành động: Mặt kỹ thuật diễn ra qua 4 mức (bắt chước theo mẫu $\rightarrow$ thao tác rời rạc thử - sai $\rightarrow$ thao tác đầy đủ đúng logic $\rightarrow$ thao tác thuần thục, linh hoạt).

Về thang đo mức độ, luận án vận dụng quan điểm của K. Golubev kết hợp 2 tiêu chí là tính chính xác và tính linh hoạt để xác lập 5 mức độ hình thành kỹ năng:

Mức độ Tên mức độ Biểu hiện của kỹ năng
1 Rất thấp Hành động hoàn toàn không phù hợp giữa nhận thức và thực tế, sai quy trình, kỹ thuật. Vận dụng tri thức, kinh nghiệm cứng nhắc, dập khuôn, máy móc.
2 Thấp Hành động không phù hợp giữa nhận thức và thực tế, có nhiều sai sót về quy trình, kỹ thuật. Vận dụng tri thức, kinh nghiệm chưa linh hoạt.
3 Trung bình Hành động tương đối phù hợp giữa nhận thức và thực tế, giữa hiểu và làm, tương đối đúng quy trình, kỹ thuật. Vận dụng tri thức, kinh nghiệm tương đối linh hoạt.
4 Cao Hành động khá phù hợp giữa nhận thức và thực tế, thực hiện đúng quy trình, kỹ thuật, đạt kết quả. Vận dụng tri thức, kinh nghiệm khá linh hoạt khi điều kiện thay đổi.
5 Rất cao Hành động rất phù hợp giữa nhận thức và thực tế, thực hiện chính xác quy trình, thao tác kỹ thuật, đạt kết quả cao. Vận dụng tri thức, kinh nghiệm rất linh hoạt trong các tình huống khác nhau.

Từ các khái niệm nền tảng về hợp tác (Vũ Dũng, Nguyễn Hữu Châu, Trịnh Văn Biểu, Tạ Nhật Ánh) và đặc thù đào tạo SPKT, luận án xác định khái niệm cốt lõi: Kỹ năng hợp tác trong học thực hành của sinh viên SPKT là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm của các cá nhân vào việc gắn kết, chia sẻ, hỗ trợ nhau lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch và đánh giá hiệu quả hợp tác giữa các thành viên trong nhóm học thực hành nhằm hoàn thành có kết quả học tập chung là lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp trong điều kiện cụ thể.

Cấu trúc KNHT trong học thực hành gồm 3 kỹ năng thành phần:

  1. Kỹ năng lập kế hoạch hợp tác: Thống nhất mục tiêu, nhiệm vụ, phương thức phối hợp, phân công công việc theo năng lực, chuẩn bị phương tiện, vật tư.
  2. Kỹ năng tổ chức thực hiện kế hoạch hợp tác: Triển khai các thao tác kỹ thuật theo đúng quy trình công nghệ, hỗ trợ, phối hợp nhịp nhàng, kiểm soát an toàn lao động, động viên nhau khi làm việc.
  3. Kỹ năng đánh giá hiệu quả hợp tác: Đôn đốc, giám sát, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau về tiến độ, chất lượng sản phẩm, thái độ làm việc, rút kinh nghiệm.

Học thực hành kỹ thuật gồm 2 dạng (thực hành trí tuệ và thực hành thể chất), diễn ra trong ca học 3-4 giờ tại xưởng thực hành theo 3 giai đoạn:

Các giai đoạn Nội dung hợp tác trong học thực hành Yêu cầu đối với sinh viên
Hướng dẫn ban đầu - Xác định yêu cầu bài thực hành.
- Xác định nhiệm vụ học thực hành, trách nhiệm cá nhân, nhóm; cách thức, điều kiện, phương tiện.
- Tính toán thông số kỹ thuật đầu vào, xây dựng quy trình, chọn vật liệu.
- Phân tích sai hỏng và cách khắc phục.
- Thành lập nhóm thực hành.
- Chủ động tìm hiểu, nhận biết yêu cầu bài học, sẵn sàng thực hiện.
- Kết nối các nhiệm vụ, nắm rõ mục đích và phương tiện.
- Tính toán chính xác thông số, lập quy trình rõ ràng, chọn đúng vật liệu.
- Chỉ rõ các dạng sai hỏng tiềm ẩn và biện pháp phòng tránh.
- Nhanh chóng lập nhóm, tạo bầu không khí đoàn kết, cởi mở.
Hướng dẫn thường xuyên - Triển khai luyện tập theo quy trình công nghệ đã lập.
- Lập kế hoạch hợp tác trong thực hành (phân công nhiệm vụ logic, phù hợp).
- Tổ chức thực hiện kế hoạch hợp tác (triển khai thao tác, phối hợp công nghệ, hỗ trợ nhau đúng tiến độ, đảm bảo an toàn thiết bị và con người).
- Đánh giá hiệu quả hợp tác (giám sát, tự đánh giá và nhận xét lẫn nhau).
- Đảm bảo đúng quy trình công nghệ, kỹ thuật, thời gian và an toàn tuyệt đối.
- Phân công công việc rõ ràng, hiểu biết lẫn nhau.
- Tích cực nỗ lực cá nhân, chủ động chia sẻ chuyên môn, bàn bạc thống nhất phương tiện.
- Gắn kết, đôn đốc, chịu trách nhiệm chung và xử lý tình huống phát sinh.
- Tự giác chỉ ra mặt làm được và hạn chế để rút kinh nghiệm.
Hướng dẫn kết thúc - Tiến hành kiểm tra, đánh giá sản phẩm thực hành.
- Thu dọn, vệ sinh xưởng thực hành sạch sẽ, ngăn nắp.
- Giảng viên và sinh viên căn cứ tiêu chí, tiêu chuẩn để nhận xét khách quan sản phẩm.
- Cùng nhau thu dọn thiết bị, dụng cụ và vệ sinh xưởng thực hành ngăn nắp.

Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên 4 nguyên tắc phương pháp luận:

  • Tiếp cận hoạt động: Tâm lý là sản phẩm của hoạt động; KNHT được đo lường qua các thao tác, hành vi, thái độ và sản phẩm thực hành thực tế của sinh viên.
  • Tiếp cận hệ thống: Đánh giá KNHT qua mối quan hệ tương hỗ giữa 3 kỹ năng thành phần và hệ thống các yếu tố tác động từ chủ quan (sinh viên) đến khách quan (nhà trường).
  • Tiếp cận phát triển: Xem xét kỹ năng trong trạng thái vận động, biến đổi qua các giai đoạn rèn luyện.
  • Tiếp cận thực tiễn: Gắn liền với điều kiện thực tế xưởng trường tại các trường đại học SPKT cụ thể.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp tài liệu, sách, tạp chí chuyên ngành.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Điều tra bằng bảng hỏi (khảo sát 452 sinh viên và 158 giảng viên).
    • Phương pháp quan sát hoạt động thực hành của sinh viên tại xưởng.
    • Phương pháp phỏng vấn sâu (20 sinh viên, 9 giảng viên).
    • Phương pháp giải bài tập tình huống thực hành kỹ thuật.
    • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động (bản vẽ, phôi gia công, sản phẩm lắp ráp).
    • Phương pháp chuyên gia.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm tác động (thực nghiệm trên 70 sinh viên tại ĐH SPKT Vinh).
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng thống kê toán học với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS phiên bản 20.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về kỹ năng hợp tác trong học thực hành của sinh viên đại học sư phạm kỹ thuật

Chương này tập trung giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu thứ nhất của luận án. Tác giả phân tích lịch sử nghiên cứu vấn đề KNHT trong học tập và trong học thực hành ở trong và ngoài nước; xác định các khoảng trống tri thức khoa học. Luận án phân tích 3 cách tiếp cận về khái niệm kỹ năng, cấu trúc tâm lý kỹ năng và lựa chọn thang 5 mức độ của K. Golubev. Tiếp đó, tác giả xây dựng hệ thống khái niệm công cụ: hợp tác, kỹ năng hợp tác, hợp tác trong học tập, học thực hành kỹ thuật, hợp tác trong học thực hành và kỹ năng hợp tác trong học thực hành của sinh viên SPKT.

Chương 1 chỉ rõ tính đặc thù của học thực hành kỹ thuật (thực hành trí tuệ kết hợp thực hành thể chất; các bài thực hành thiết kế, chế tạo, lắp ráp, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa) và phân tích "ý nghĩa kép" của kỹ năng này đối với sinh viên SPKT. Tác giả xác lập cấu trúc KNHT trong học thực hành gồm 3 nhóm kỹ năng thành phần (lập kế hoạch hợp tác, tổ chức thực hiện kế hoạch, đánh giá hiệu quả hợp tác), chỉ rõ nội dung - yêu cầu qua 3 giai đoạn hướng dẫn (ban đầu, thường xuyên, kết thúc), đồng thời phân tích cơ chế tác động của 3 yếu tố từ sinh viên (thái độ, động cơ, tính cách) và 4 yếu tố từ nhà trường (phương pháp tổ chức của giảng viên, cơ sở vật chất, nội dung bài học, công tác bồi dưỡng).

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu của luận án dựa trên 4 nguyên tắc tiếp cận (hoạt động, hệ thống, phát triển, thực tiễn). Tác giả mô tả tiến trình nghiên cứu gồm các giai đoạn: xây dựng khung lý thuyết, thiết kế bộ công cụ khảo sát, chọn mẫu khảo sát thực trạng, tiến hành điều tra thực tế, thu thập - xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS phiên bản 20, và thiết kế quy trình thực nghiệm sư phạm tác động.

Các công cụ thu thập dữ liệu định lượng và định tính được trình bày cụ thể, gồm hệ thống bảng hỏi dành cho 452 sinh viên năm 2, năm 3 và 158 giảng viên tại 3 trường (ĐH SPKT Vinh, ĐH SPKT Nam Định, ĐH SPKT Hưng Yên); phiếu phỏng vấn sâu dành cho 20 sinh viên và 9 giảng viên; phiếu quan sát hành vi; bài tập tình huống thực hành kỹ thuật. Luận án xác lập tiêu chí, thang điểm đánh giá định lượng 5 mức độ kỹ năng và thiết kế kế hoạch thực nghiệm tác động trên 70 sinh viên năm 3 tại ĐH SPKT Vinh (36 sinh viên thực nghiệm ngành SPKT Công nghệ ô tô và 34 sinh viên đối chứng ngành SPKT Công nghệ chế tạo máy).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng về kỹ năng hợp tác trong học thực hành của sinh viên các trường Đại học sư phạm kỹ thuật

Chương 3 trình bày các kết quả phân tích số liệu thực trạng thu được từ khảo sát định lượng và định tính. Tác giả đánh giá mức độ biểu hiện chung của KNHT trong học thực hành của sinh viên SPKT (kiểm chứng giả thuyết kỹ năng đạt mức trung bình); phân tích chi tiết thực trạng từng nhóm kỹ năng thành phần:

  • Nhóm kỹ năng lập kế hoạch hợp tác (được kiểm chứng đạt điểm trung bình cao nhất trong 3 nhóm kỹ năng).
  • Nhóm kỹ năng tổ chức thực hiện kế hoạch hợp tác trong xưởng thực hành.
  • Nhóm kỹ năng đánh giá hiệu quả hợp tác (được kiểm chứng đạt điểm trung bình thấp nhất, chỉ ra hạn chế của sinh viên trong việc tự phê bình, nhận xét lẫn nhau và rút kinh nghiệm kỹ thuật).

Chương này cũng phân tích sự tương quan và khác biệt trong đánh giá giữa sinh viên và giảng viên; đồng thời lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các yếu tố từ phía sinh viên (trong đó động cơ học tập hợp tác có tác động mạnh nhất) và các yếu tố từ phía nhà trường (trong đó phương pháp tổ chức dạy học hợp tác của giảng viên có ảnh hưởng chi phối nhất). Cuối cùng, chương 3 trình bày kết quả thực nghiệm tác động tâm lý - sư phạm, so sánh đối chứng trước và sau tác động giữa nhóm thực nghiệm (SPKT Công nghệ ô tô) và nhóm đối chứng (SPKT Công nghệ chế tạo máy), khẳng định tính khả thi của các biện pháp đề xuất.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án góp phần làm sáng tỏ lý luận về kỹ năng hợp tác trong học thực hành của sinh viên SPKT. Tác giả đã định nghĩa và chuẩn hóa hệ thống khái niệm: hợp tác, kỹ năng hợp tác, kỹ năng hợp tác trong học tập, kỹ năng hợp tác trong học thực hành của sinh viên SPKT, bổ sung lý luận về kỹ năng trong tâm lý học chuyên ngành và tâm lý học sư phạm.
  2. Xác định cấu trúc tâm lý gồm 3 nhóm kỹ năng thành phần của KNHT trong học thực hành của sinh viên SPKT: kỹ năng lập kế hoạch hợp tác; kỹ năng tổ chức thực hiện kế hoạch hợp tác; kỹ năng đánh giá hiệu quả hợp tác.
  3. Xác định hệ thống các yếu tố ảnh hưởng gồm 3 yếu tố từ sinh viên (thái độ, động cơ, tính cách) và 4 yếu tố từ nhà trường (phương pháp tổ chức của giảng viên, cơ sở vật chất, nội dung bài học, công tác bồi dưỡng).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Luận án làm sáng tỏ mức độ biểu hiện thực tế của các kỹ năng thành phần ở sinh viên các trường đại học SPKT hiện nay, xác định các hạn chế cốt lõi (đặc biệt ở khâu đánh giá hiệu quả hợp tác) và chỉ ra các nguyên nhân tâm lý, phương pháp dạy học chi phối thực trạng này.
  2. Đề xuất và thực nghiệm thành công hệ thống biện pháp tác động tâm lý - sư phạm có tính khả thi nhằm nâng cao KNHT trong học thực hành cho sinh viên SPKT (kết hợp bồi dưỡng nhận thức và rèn luyện kỹ năng qua phương pháp học tập hợp tác nhóm trong các bài tập thực hành nghề).
  3. Cung cấp nguồn tư liệu thực tiễn cho giảng viên và sinh viên các trường SPKT trong việc giảng dạy, học tập nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên dạy nghề; đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo cho giáo viên giảng dạy môn kỹ thuật, công nghệ ở các trường phổ thông và cơ sở đào tạo nghề khác.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

Căn cứ vào giới hạn phạm vi nghiên cứu do tác giả xác lập trong văn bản, luận án có các giới hạn sau:

  • Về địa bàn: Nghiên cứu thực trạng chỉ khảo sát tại 3 trường đại học SPKT ở khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ (ĐH SPKT Vinh, ĐH SPKT Nam Định, ĐH SPKT Hưng Yên), chưa khảo sát các trường đại học sư phạm kỹ thuật ở khu vực miền Nam.
  • Về khách thể: Khảo sát thực trạng giới hạn ở sinh viên năm thứ 2 và năm thứ 3 hệ đại học sư phạm kỹ thuật (452 sinh viên); chưa khảo sát sinh viên năm thứ nhất và năm cuối.
  • Về nội dung: Nghiên cứu chỉ tập trung vào 3 nhóm kỹ năng thành phần cơ bản và 7 yếu tố ảnh hưởng được xác định trước, chưa bao quát toàn bộ các khía cạnh tâm lý xã hội khác của quá trình tương tác nhóm.
  • Về thực nghiệm: Địa bàn thực nghiệm tác động chỉ tiến hành tại một cơ sở (Trường ĐH SPKT Vinh) trên quy mô 70 sinh viên thuộc 2 ngành kỹ thuật cụ thể (SPKT Công nghệ ô tô và SPKT Công nghệ chế tạo máy).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi khảo sát thực trạng sang các cơ sở đào tạo sư phạm kỹ thuật trên toàn quốc, bao gồm khu vực miền Nam, nhằm đối sánh đặc thù vùng miền.
  • Khảo sát sự biến đổi KNHT theo các giai đoạn học tập từ năm thứ nhất đến khi sinh viên đi thực tập tốt nghiệp tại các trường nghề hoặc doanh nghiệp.
  • Mở rộng phạm vi thực nghiệm tác động sang nhiều ngành nghề đào tạo kỹ thuật khác nhau như SPKT Điện - Điện tử, SPKT Công nghệ thông tin, SPKT Công nghệ may.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các đối tượng cụ thể:

  • Giảng viên các trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật và cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Cung cấp tài liệu tham khảo về cấu trúc bài học thực hành 3 giai đoạn (hướng dẫn ban đầu, hướng dẫn thường xuyên, hướng dẫn kết thúc), bảng tiêu chí đánh giá kỹ năng 5 mức độ và phương pháp tổ chức chia nhóm dưới 7 sinh viên nhằm tối ưu hóa sự tương tác kỹ thuật.
  • Sinh viên ngành Sư phạm Kỹ thuật: Giúp người học nhận thức rõ "ý nghĩa kép" của việc rèn luyện KNHT trong xưởng thực hành, nắm vững các bước lập kế hoạch, phối hợp thao tác công nghệ và phương pháp tự đánh giá lẫn nhau.
  • Cán bộ quản lý đào tạo và phát triển chương trình: Cung cấp căn cứ thực tiễn để thiết kế môn học tích hợp, đầu tư trang thiết bị xưởng thực hành đảm bảo không gian làm việc nhóm và xây dựng chương trình bồi dưỡng kỹ năng mềm cho sinh viên sư phạm kỹ thuật trong hệ thống đào tạo tín chỉ.

Câu hỏi thường gặp

1. "Ý nghĩa kép" của kỹ năng hợp tác trong học thực hành đối với sinh viên sư phạm kỹ thuật là gì?

Theo luận án, sinh viên sư phạm kỹ thuật được đào tạo để trở thành giáo viên dạy các môn kỹ thuật, công nghệ trong các cơ sở giáo dục hoặc chuyên gia trong lĩnh vực SPKT. Do đó, KNHT trong học thực hành có ý nghĩa kép: một mặt giúp sinh viên hoàn thành các nhiệm vụ học tập chuyên môn kỹ thuật trong nhà trường sư phạm; mặt khác giúp hình thành kỹ năng nghiệp vụ sư phạm về tổ chức hợp tác trong dạy học thực hành kỹ thuật để sau khi tốt nghiệp có thể vận dụng vào hoạt động giảng dạy.

2. Luận án xác định kỹ năng hợp tác trong học thực hành gồm những nhóm kỹ năng thành phần nào?

Luận án xác định 3 nhóm kỹ năng thành phần cơ bản:

  • Kỹ năng lập kế hoạch hợp tác.
  • Kỹ năng tổ chức thực hiện kế hoạch hợp tác.
  • Kỹ năng đánh giá hiệu quả hợp tác.

3. Khách thể khảo sát thực trạng và khách thể thực nghiệm tác động của luận án gồm những ai?

  • Khảo sát thực trạng: 452 sinh viên năm thứ 2, năm thứ 3 và 158 giảng viên tại 3 trường: Đại học SPKT Vinh, Đại học SPKT Nam Định, Đại học SPKT Hưng Yên; cùng 20 sinh viên và 9 giảng viên tham gia phỏng vấn sâu tại ĐH SPKT Vinh và ĐH SPKT Nam Định.
  • Khảo sát thực nghiệm tác động: 70 sinh viên năm thứ 3 tại Trường Đại học SPKT Vinh, gồm 36 sinh viên ngành SPKT Công nghệ ô tô (nhóm thực nghiệm) và 34 sinh viên ngành SPKT Công nghệ chế tạo máy (nhóm đối chứng).

4. Giả thuyết nghiên cứu nhận định như thế nào về mức độ các kỹ năng thành phần và các yếu tố ảnh hưởng?

Giả thuyết khoa học của luận án nhận định:

  • KNHT trong học thực hành của sinh viên SPKT nhìn chung ở mức trung bình; trong đó nhóm kỹ năng lập kế hoạch hợp tác đạt mức độ cao nhất, nhóm kỹ năng đánh giá hiệu quả hợp tác đạt mức độ thấp nhất.
  • Yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất từ phía sinh viên là động cơ thúc đẩy sinh viên làm việc hợp tác; yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất từ phía nhà trường là phương pháp tổ chức hợp tác trong học thực hành của giảng viên.

5. Tiêu chí và thang đánh giá mức độ hình thành kỹ năng của luận án dựa trên mô hình lý thuyết nào?

Luận án dựa trên mô hình phát triển kỹ năng của K. Golubev, phân chia quá trình hình thành kỹ năng thành 5 mức độ: Rất thấp (mức 1), Thấp (mức 2), Trung bình (mức 3), Cao (mức 4) và Rất cao (mức 5). Hai tiêu chí quan trọng nhất được sử dụng xuyên suốt để đánh giá là tính chính xác và tính linh hoạt của hành động.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Kỹ năng hợp tác trong học thực hành của sinh viên các trường Đại học sư phạm kỹ thuật" đã giải quyết một vấn đề vừa mang tính cấp thiết lý luận tâm lý học sư phạm, vừa gắn liền với thực tiễn đào tạo giáo viên dạy nghề kỹ thuật trong bối cảnh học chế tín chỉ. Công trình đã làm rõ bản chất "ý nghĩa kép" của kỹ năng hợp tác trong học thực hành, xác lập cấu trúc gồm 3 nhóm kỹ năng thành phần cùng thang đo 5 mức độ chuẩn hóa. Dữ liệu khảo sát trên 452 sinh viên và 158 giảng viên tại 3 trường đại học sư phạm kỹ thuật cùng kết quả thực nghiệm trên 70 sinh viên đã kiểm chứng các giả thuyết khoa học về thực trạng kỹ năng ở mức trung bình và khẳng định tính khả thi của biện pháp tác động tâm lý - sư phạm. Đây là tài liệu khoa học hữu ích cho công tác đào tạo giáo viên kỹ thuật và phát triển phương pháp dạy học thực hành tích hợp hiện nay.