Chương 1. Cơ sở lý luận Chương 2. Thực trạng kỹ năng học tập phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 2 Chương 3. Thử nghiệm biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng học tập phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 2.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ -8- PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu ó l n qu n đến đề tài khóa luận Kỹ năng học tập là một vấn đề quan trọng và cần thiết ở mọi cấp học. Chính vì vậy nó rất được quan tâm chú ý, trở thành đề tài nghiên cứu tìm hiểu ở mọi quốc gia. Trên thế giới đại diện một số tác giả nghiên cứu về vấn đề này như A.
Vpetrvxki có công trình nghiên cứu về kỹ năng vận dụng sáng tạo tri thức, N.A Menchinxkasa có công trình về kỹ năng độc lập học tập… Ở Việt Nam, có tác giả Nguyễn Minh Hải nghiên cứu về kỹ năng giải toán có lời văn của học sinh tiểu học và những điều kiện tâm lí hình thành chúng. Tác giả Nguyễn Thị Mùi nghiên cứu về kỹ năng sử dụng mô hình trong giải bài tập toán có lời văn của học sinh lớp 3. Tác giả Nguyễn Thụ Thông Thái thì nghiên cứu về hình thành kỹ năng học tập cơ bản cho học sinh lớp 1 thông qua một số môn học…. Ngoài ra thì còn có 1 số tác giả nghiên cứu về kỹ năng trong giảng dạy các môn học.
Điển hình như môn Tiếng Việt có tác giả Lê Phương Nga, Đỗ Xuân Thảo… Lê Hữu Tỉnh và những tác giả khác đã chỉ ra sự mã hóa và giải mã trong môn Tiếng Việt có liên quan đến sự mã hóa và giải mã nói chung. Tác giả Nguyễn Trí đã đưa ra các yêu cầu luyện tập các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh tiểu học. -9- Như vậy là đã có nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng học tập của học sinh. Nhưng thực trạng kỹ năng học tập phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Thị trấn Sóc Sơn thì chưa ai nghiên cứu.
Vì thế tôi chọn đề tài “Tìm hiểu kỹ năng học tập phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Thị trấn Sóc Sơn” để nghiên cứu.Những vấn đề lý luận l n qu n đến đề tài 1. Hoạt động học của học sinh tiểu học Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học. Cho đến nay các nhà tâm lí học quan tâm nghiên cứu về trẻ em đều thống nhất quan điểm về sự phân chia các giai đoạn phát triển tâm lí trẻ em tương ứng với hoạt động chủ đạo và đều nhất trí với nhau trong việc xác định hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học. Hoạt động này có một số đặc điểm sau: - Hoạt động học đích thực lần đầu tiên xuất hiện ở học sinh tiểu học đó là hoạt động có đối tượng, có phương pháp và được tổ chức chuyên biệt.
- Hoạt động học tạo ra sự phát triển tâm lí học sinh, đó là sự phát triển các quá trình tâm lí, hình thành các thuộc tính tâm lí và nhân cách học sinh, đáng lưu ý ở cấp học này là sự phát triển trí tuệ của các em. - Hoạt động học được hình thành ở học sinh bằng phương pháp nhà trường do người có tay nghề tổ chức chỉ đạo. - Hoạt động học có đối tượng chuyên biệt, đối tượng này được cụ thể hóa ở nội dung học tập của học sinh. Nội dung đó chính là hệ thống khái niệm khoa học, hệ thống tri thức khoa học thuộc các môn học như Tiếng Việt, Toán, Đạo Đức.Nội dung này được nhà trường chọn lọc đưa đến cho học sinh trên cơ sở của lôgic khoa học xác định với những nguyên tắc của nhà trường, nhằm đạt mục tiêu nhất định.
Học sinh lĩnh hội nội dung trên bằng hoạt động học với các thành tố như động cơ học, nhiệm vụ học và các hành động học. - Động cơ học là cái vì nó mà học sinh học, là cái thôi thúc học sinh học. Động cơ học tập chân chính, đích thực của học sinh tiểu học chính là nội dung học và phương pháp lĩnh hội nội dung đó. - 10 - - Nhiệm vụ học tập là hình thức cụ thể hóa nội dung học thành mục đích học và phương tiện đạt mục đích đó.
Mỗi nhiệm vụ học tạo ra ở học sinh năng lực mới, cái mới trong tâm trí chứ không đơn thuần là tích lũy thêm, không phải là gộp thêm vào vốn kinh nghiệm đã có. - Hành động học, học sinh thực hiện nhiệm vụ học bằng các hành động học. Có ba loại hành động học : + Hành động phân tích là hành động tiên quyết trong quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh. Đó là quá trình học sinh phân giải đối tượng thành các yếu tố và mối liên hệ giữa chúng.
Mục đích của hành động phân tích là phát hiện ra nguồn gốc, cấu trúc của khái niệm. + Hành động mô hình hóa là quá trình học sinh xác lập mối quan hệ giữa đối tượng và mô hình của nó bằng phép tương ứng hay đẳng câu. Thông qua mô hình học sinh nghiên cứu gián tiếp đối tượng. Học sinh lập mô hình phải dựa vào kết quả của hành động phân tích.
+ Hành động cụ thể hóa là quá trình học sinh vận dụng tri thức, phương pháp chung để giải bài tập, hình thành kỹ năng, kỹ xảo. Mục đích của hành động này là vận dụng mối quan hệ tổng quát của khái niệm vào các trường hợp cụ thể. Vận dụng cấu trúc của hoạt động học vào quá trình dạy và học tập phân môn Tập làm văn, giáo viên căn cứ vào nội dung học để thiết kế thành các nhiệm vụ học. Hướng dẫn học sinh thực hiện các hành động học để giải quyết nhiệm vụ học.
Khái niệm kỹ năng Xét về phương diện lí luận các công trình nghiên cứu đều có nhiều điểm thống nhất khi bàn về kỹ năng, có thể nhận thấy ba quan niệm sau: a. Quan niệm thứ nhất Khái niệm kỹ năng là khả năng thực hiện hành động phù hợp với các mục đích và điều kiện mà trong đó con người được định hướng. Theo quan niệm này chú trọng đến khía cạnh cách thức hành động, còn việc nắm được - 11 - cách thức hành động là có kỹ năng. Các tác giả theo hướng này nhấn mạnh mặt kỹ thuật của hành động (V.
Quan niệm thứ hai Xét về mặt kết quả hình thành, để đánh giá một cá nhân có kỹ năng hành động nào đó dựa vào những tiêu chuẩn sau: Cá nhân phải hiểu rõ mục đích của hành động, các yếu tố (cách thức, điều kiện, phương tiện) để triển khai nó, biết triển khai hành động đúng đắn và thành thục trong thực tiễn. Một hành động còn phạm lỗi hay tốn nhiều thời gian, sức lực chưa thể là hành động có kỹ năng. Như vậy quan niệm thứ hai coi kỹ năng không chỉ đơn thuần bao gồm mặt kỹ thuật của hành động mà còn trú trọng tới mặt kết quả của nó trong mối quan hệ với mục đích, phương tiện, điều kiện và cách thức tiến hành hành động. Quan niệm thứ ba Quan niệm thứ ba cho rằng kỹ năng là việc vận dụng những tri thức và các kỹ xảo đã có vào việc lựa chọn và thực hiện những phương thức hành động đã được đặt ra.Petrovxki: Để cho tri thức trở thành cơ sở của sự lựa chọn đúng đắn các hành động, thì cần phải lựa chọn đúng đắn và vận dụng đúng đắn những tri thức này.
Từ các quan niệm trên, có thể khái quát những điểm chung nhất về kỹ năng như sau: Người có kỹ năng về một hành động nào đó cần phải có tri thức về hành động nào đó, bao gồm: mục đích của hành động, các cách thức thực hiện hành động, các điều kiện, phương tiện để đạt được mục đích. Tiến hành hành động theo đúng các yêu cầu của nó. Đạt được kết quả phù hợp với mục đích đề ra. Biến hành động có kết quả trong những điều kiện khác.
Cơ chế hình thành kỹ năng: Kỹ năng thực chất là cơ chế hình thành hành động và luyện tập hành động đó trong các điều kiện khác nhau. Các bước hình thành kỹ năng: - 12 -. Bước 1: Cá nhân nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện thực hiện hành động. Cá nhân phải xác định được các yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng.
Bước 2: Cá nhân quan sát mẫu và làm thử theo mẫu, theo sự định hướng ở bước trên. Bước 3: Cá nhân luyện tập hành động theo đúng yêu cầu, điều kiện của hành động nhằm đạt được kết quả đề ra. Kỹ năng học tập Trong tâm lí học kỹ năng học tập được hiểu là khả năng vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức thực hiện các hành động học tập đã được học sinh lĩnh hội để giải quyết nhiệm vụ học tập đề ra, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cho phép. Kỹ năng học tập của học sinh có các đặc trưng như sau: - Kỹ năng học tập thể hiện mặt năng lực học tập của học sinh, nó liên quan chặt chẽ với hiệu quả học tập và là yếu tố có tính chất quyết định đến kết quả học tập.
- Kỹ năng học tập thể hiện mặt kỹ thuật của hành động học tập, là sự tổ hợp các phương thức thực hiện hành động học tập đã được học sinh nắm vững và vận dụng có hiệu quả vào việc giải quyết các nhiệm vụ học tập đề ra. - Kỹ năng học tập là một hệ thống phức tạp và phát triển, bao gồm trong nó những kỹ năng chuyên biệt. Có những kỹ năng chung cơ bản, cần thiết cho nhiều môn học, có những kỹ năng riêng của từng môn học. Tác giả Nguyễn Kế Hào đã chỉ ra một hệ thống các kỹ năng học tập cơ bản của học sinh tiểu học bao gồm: hệ thống kỹ năng thực hiện hành động phân tích như kỹ năng thao tác với vật thật hoặc vật thay thế để phát hiện lôgic của đối - 13 - tượng nghiên cứu ẩn tàng trong đó.
Hệ thống kỹ năng thực hiện hành động lập mô hình như kỹ năng vẽ hình, ghi ký hiệu.Hệ thống kỹ năng cụ thể hóa, kỹ năng vận dụng trong học tập và trong đời sống hành ngày như kỹ năng tính nhẩm (cộng, trừ, nhân, chia), kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.