Chương 1 và kết quả ý kiến thăm dò, chúng tôi đưa ra nhiều lựa chọn theo các mức khác nhau cho HV lựa chọn. Do đó, ở câu hỏi này, chúng tôi đánh giá nhận thức của HV trường CĐ CSND II về mức độ cần thiết của các KNHT môn TLH thông qua tần số (tính tỷ lệ %) lựa chọn của HV. HV chọn 1 trong 4 mức độ (mỗi mức độ từ thấp đến cao sẽ tương ứng với một điểm số nhất định), cụ thể: mức không cần thiết (1 điểm); mức ít cần thiết (2 điểm); mức cần thiết (3 điểm); mức rất cần thiết (4 điểm). Với thang điểm như trên thì giá trị khoảng cách giữa các mức độ là 3/4 = 0,75.
Từ đó, chúng ta có thang đánh giá mức độ quan tâm như sau: ĐTB từ 1,00 - 1,75: mức độ rất thấp; ĐTB từ 1,76 - 2,50: mức độ thấp; ĐTB từ 2,51 - 3,25: mức độ trung bình; ĐTB từ 3,26 - 4,00: 6 mức độ cao; Đối với câu này, chúng tôi tính tần số, phần trăm lựa chọn các mức độ đánh giá, ĐTB, ĐLC. Câu 8: là câu dùng để tìm hiểu đánh giá của HV về khả năng sử dụng các KNHT môn TLH của bản thân. Cũng tương tự như câu 7, HV tự đánh giá bản thân thuộc 1 trong 5 mức độ KNHT: KN ở mức ban đầu (1 điểm); KN ở mức thấp (2 điểm); KN ở mức trung bình (3 điểm); KN ở mức cao (4 điểm); KN ở mức hoàn hảo (5 điểm) giá trị khoảng cách giữa các mức độ là 4/5 = 0,8. Từ đó, chúng ta có thang đánh giá mức độ quan tâm như sau: ĐTB từ 1,00 - 1,80: mức độ rất thấp; ĐTB từ 1,81 - 2,60: mức độ thấp; ĐTB từ 2,61 - 3,40: mức độ trung bình; ĐTB từ 3,41 - 4,20: mức độ cao; ĐTB từ 4,21 - 5,00: mức độ rất cao.
Đối với câu này, chúng tôi tính tần số, phần trăm lựa chọn các mức độ đánh giá, ĐTB, ĐTBC. Câu 9: là câu dùng để tìm hiểu về mức độ thường xuyên sử dụng các KNHT môn TLH của HV. Cũng tương tự như câu 7, HV tự đánh giá bản thân thuộc 1 trong 4 mức độ: mức không bao giờ (1 điểm); mức ít khi (2 điểm); mức thường xuyên (3 điểm); mức rất thường xuyên (4 điểm). Thang đánh giá về mức độ thường xuyên sử dụng các KNHT môn TLH của HV cũng giống như câu 7.
Câu 10: là câu dùng để tìm hiểu đánh giá của HV về mức độ hiệu quả sử dụng các KNHT môn TLH đối với bản thân. Cũng tương tự như câu 8, HV tự đánh giá bản thân thuộc 1 trong 5 mức độ KNHT: Không hiệu quả (1 điểm); Hiệu quả thấp (2 điểm); mức trung bình (3 điểm); Hiệu quả cao (4 điểm); Hiệu quả rất cao (5 điểm). Thang đánh giá về mức độ hiệu quả sử dụng các KNHT môn TLH đối với HV cũng giống như câu 8. Các câu 7, 8, 9, 10 có mối quan hệ mật thiết với nhau trong một chuổi logic thống nhất biện chứng, chính vì vậy chúng tôi tiến hành kiểm nghiệm mối tương quan giữa Câu 7 với câu 9; Câu 9 với câu 8; Câu 8 với câu 10.
Câu 11: là câu dùng để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển KNHT của HV trường Cao đẳng CSND II. Chúng tôi đưa ra các yếu tố ảnh hưởng, tương ứng với 05 mức độ để HV lựa chọn: không ảnh hưởng (1 điểm); rất ít (2 điểm); ít (3 điểm); nhiều (4 điểm); rất nhiều (5 điểm). Thang đánh về các 7 yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển KNHT của HV trường Cao đẳng CSND II cũng giống như câu 8, câu 10. Câu 12: là câu dùng để tìm hiểu mức độ đồng ý của HV về một số biện pháp có thể giúp nâng cao KNHT môn TLH của HV trường Cao đẳng CSND II.
Chúng tôi đưa ra các biện pháp với 03 mức độ lựa chọn: không đồng ý (1 điểm), phân vân (2 điểm), đồng ý (3 điểm) nên giá trị khoảng cách giữa các mức độ là 2/3 = 0,66. Từ đó, chúng ta có thang đánh giá mức độ đồng ý như sau: ĐTB từ 1,00 - 1,66: mức độ thấp; ĐTB từ 1,67 - 2,33: mức độ trung bình; ĐTB từ 2,34 - 3,00: mức độ cao. Đối với câu này, chúng tôi tính tần số, phần trăm lựa chọn các mức độ đánh giá, ĐTB. Phương pháp pháp quan sát Kết hợp với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, tác giả tiến hành tri giác có mục đích, có kế hoạch các hoạt động học tập nghiên cứu tài liệu của HV trong nhiều hoàn cảnh, tình huống khác nhau nhằm thu thập các thông tin dữ liệu cụ thể về KNHT của HV, trong đó tập trung quan sát các tình huống do chúng tôi thiết kế (xem phụ lục 6).
Các hình thức chính của phương pháp quan sát đó là quan sát trực tiếp, gián tiếp, công khai và bí mật. Chúng tôi đã tiến hành quan sát liên tục trong suốt một số buổi học kết hợp quan sát theo từng giai đoạn của quá trình học tập học phần TLH của HV các Lớp K24S-E chuyên ngành Cảnh sát điều tra phòng chống tội phạm về kinh tế và chức vụ; Lớp H05S-G chuyên ngành Cảnh sát hình sự (học phần tâm lý học tội phạm) và Lớp H05S-B chuyên ngành Quản lý nhà nhước về TT,ATXH (học phần tâm lý học đại cương). đồng thời quan sát qua hệ thống camera giám sát được nhà trường lắp đặt tại các lớp học và thư viện, trung tâm tư liệu. Kết quả của quá trình quan sát được ghi lại bằng biên bản quan sát (xem phụ lục 7).
Phương pháp phỏng vấn Chúng tôi tiến hành phỏng vấn HV và GV theo sát các nội dung của bảng hỏi nhằm mục đích làm rõ hơn nhận thức của HV và GV về các vấn đề được khảo sát. Nội dung phỏng vấn hướng chủ yếu làm rõ hơn các nội dung: Nhận thức của HV và GV về KNHT; Khả năng sử dụng KNHT môn TLH của HV; các yếu tố ảnh hưởng 8 đến sự hình thành và phát triển KNHT của HV cũng như giải pháp nâng cao KNHT của HV trường CĐ CSND II. Quá trình tiến hành: Giới thiệu sơ lược về vấn đề nghiên cứu, sau đó tạo không khí bình đẳng, cởi mở, thân thiện với đối tượng được phỏng vấn. Phỏng vấn một số nội dung đã chuẩn bị sẵn và ghi vào biên bản phỏng vấn (xem phụ lục 4, 5).
Phương pháp thống kê toán học Sau khi thu thập được phiếu khảo sát thực trạng KNHT của HV trường CĐ CSND II, tác giả tiến hành nhập liệu vào Microsoft Excel 2010. Sau đó sử dụng Sử dụng phần mềm R 3.3 với các package: psych, plotrix, gmodels nhằm tính độ tin cậy cronbach’s alpha; thống kê mô tả bằng tần số, tỷ lệ %, điểm trung bình và vẽ biểu đồ; đánh giá mối tương quan giữa các biến số bằng kiểm định Chi bình phương, tính hệ số tương quan Pearson. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG HỌC TẬP MÔN TÂM LÝ HỌC CỦA HỌC VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN II 1. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề kỹ năng học tập 1.
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Trong cuốn “Tam Tự Kinh” của học giả Vương Ưng Lân (1223-1296) thời nhà Tống (Trung Quốc) đã khẳng định: “Ngọc bất trác, bất thành khí; Nhân bất học, bất tri lí”. Điều này có nghĩa: Ngọc là vật quý nhất trên đời nhưng không mài giũa thì cũng không có giá trị, cũng như Người không học thì không thể biết đạo lí ở đời. Việc học cũng như mài giũa Ngọc, phải kiên nhẫn, phải khổ luyện, phải hy sinh thì mới nên Người. Có lẽ “Tam Tự Kinh” là một trong những cuốn sách giáo khoa đầu tiên trên thế giới nói về việc học và kỹ năng học, đã từng là cuốn sánh vỡ lòng cho hệ thống giáo dục phong kiến ở Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản suốt hàng ngàn năm lịch sử.
Năm 1990, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hợp quốc (UNESCO) cũng đã xếp “Tam tự kinh” vào “Tùng thư đạo đức nhi đồng” (Tủ sách giáo dục đạo đức nhi đồng) để giáo dục nhi đồng trên toàn thế giới. Bước sang thời kỳ cận đại (bắt đầu từ thế kỷ XVIII) gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, những tiến bộ của công nghệ và các cuộc cánh mạng xã hội. Các công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục học nổi tiếng như Jean-Jacques Rousseau với tác phẩm Émile ou de l'éducation (là một tuyệt tác nói về nền giáo dục công dân), qua đó ông khẳng định mục đích của giáo dục là học cách sống và điều này có thể đạt được khi có người chỉ dẫn con đường đi để có một cuộc sống tốt đẹp; K.Comenxki cũng đã đề cập đến kỹ năng trí tuệ và sự hình thành kỹ năng này. Tuy nhiên, “từ thế kỷ XIX trở về trước vấn đề kỹ năng chưa được nghiên cứu một cách rõ rệt và có hệ thống” (Nguyễn Huy Toàn, 2011).
Từ thế kỷ XX tới nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học trong đó có Tâm lý học - Giáo dục học, vấn đề kỹ năng đã được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn. Vào những năm 20-30 của thế kỷ XX, vấn đề kỹ năng được nhiều nhà giáo dục học Liên Xô quan tâm nghiên cứu Như N. 10 Makarenko đi sâu nghiên cứu ý nghĩa của việc dạy kế hoạch và tự kiểm tra.Crupxcaia rất quan tâm tới việc hình thành những kỹ năng lao động và hướng nghiệp cho học sinh phổ thông. Năm 1932 nhà giáo dục vĩ đại A.Makarenko đưa ra nhận xét: Đối với chúng ta không thể có vấn đề nào quan trọng hơn vấn đề logic của phương tiện sư phạm; Bản chất của vấn đề “logic sư phạm” đó là phương pháp luận khoa học giáo dục XHCN, bàn về bản chất của các quá trình sư phạm dưới ánh sáng triết học Mác – Lênin nhằm giải quyết một cách khoa học các mâu thuẫn trong quá trình giáo dục con người XHCN; Lôgic sư phạm là sự giải quyết hợp lý, trọn vẹn, cân bằng đồng bộ các yêu cầu phát triển toàn diện nhân cách, trí tuệ, tình cảm, nhận thức, ý chí, năng lực, thể chất để mỗi người có khả năng tự điều chỉnh nhu cầu, hứng thú, nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi và quyền hạn… A.