Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Xem xét tình hình nghiên cứu về kỹ năng chúng tôi nhận thấy, vấn để kỹ năng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Đây là vấn để đã được nghiên cứu sâu ở nhiều tác giả trên nhiều lĩnh vực khác nhau liên quan đến kỹ năng, kỹ xảo và kỹ thuật thực hiện một công việc nào đó. Kỹ năng cũng là mảng dé tài được các nhà nghiên cứu Tâm lý học và Giáo dục học rất quan tâm.
Từ các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau cho thấy các tác giả đều thống nhất với hai khuynh hướng chính sau đây: Khuynh hướng thứ nhất: xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật thao tác của hành động, hoạt động Có thể nói V.V,Petrovxki [21], Trần Trọng Thủy [17], Hà Thế Ngữ , Phạm Thị Diệu Vân. là các tác giả đại diện cho quan niệm này. Hầu hết các tác giả này đều thống nhất: kỹ năng là cách thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và diéu kiện của hành động mà con người đã nắm vững. Nhưng theo chúng tôi, nếu con người chỉ lĩnh hội được cách thức hành động tức là mới chỉ có kiến thức vé kỹ năng thôi.
Khi con người có kiến thức về kỹ năng, hành động đúng các yêu cầu của nó, thì sẽ đạt kết quả. người ta còn xem xét kỹ năng dưới góc độ thứ 2. Khuynh hướng thứ hai: xem xét kỹ năng nghiêng về góc độ năng lực của con người. Các tác giả đại diện cho khuynh hướng này là: N.
Platdnôp đã khẳng định: “cơ sở tâm lý của kỹ năng là sự thông hiểu mối liên hệ giữa®mục đích hành động, các diéu kiện và phương thức hành động "[ 17, tr.18] và * kỹ năng là khả nang của con người thực hiện một hoạt động bất kỳ nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm cũ. Tác giả Phan Thanh Long cũng cho rằng "Theo quan niệm này thì kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, vừa có tính mục dich"| 17, u. Nhìn chung, theo khuynh hướng này. kỹ năng là năng lực của người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện khác nhau và theo một quy trình (đúng cách thức) cụ thể.
Kỹ năng không còn đơn thuần là kỹ thuật hành động mà còn là biểu hiện nang lực của con người. Theo chúng tôi, chúng tôi thống nhất với khuynh hướng thứ hai, nghĩa là xem xét kỹ năng dưới góc độ năng lực của con người. Nếu chỉ nắm vững cách thức hành động tức là mới chỉ có kiến thức vé kỹ năng thôi thì chưa đủ, mà phải thực hiện các kỹ năng đó một cách thành thao, linh hoạt, sáng tạo. qua luyện tập kỹ năng trở thành năng lực của bản thân mỗi cá nhân để có thể vận dụng linh hoạt trong những điều kiện khác nhau, khi đó, hiệu quả đạt được tối ưu hơn.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng nhận thấy, KN còn được rất nhiều nhà giáo dục học quan tâm nghiên cứu vì một trong những mục đích của việc dạy học là hình thành các kỹ năng cho học sinh. Trong ba thành tố cơ bản tạo nên nhân cách con người tri thức, kỹ năng và thái độ (knowledge - Attitude — Behaviour ~§kills) thì cả ba thành tố này là những nội dung tạo nên giá trị của con người, đồng thời tạo cho con người khả nang làm ra giá trị cho xã hội. Vì lẽ đó, ba thành tố trên cũng đồng thời là ba thành phan cơ bản của nội dung chương trình dạy học và giáo dục trong hệ thống nhà trường của mọi quốc gia, dân tộc. Trong ba chức năng dạy học, thì chức năng giáo đường bao gồm việc tiếp thu các tri thức khoa học hình thành các kỹ nang, kỹ xảo chuyên môn và học tập nói chung, Như vậy, dạy học không chỉ trang bị cho học sinh vốn trí thức mà cả - 10 - kỹ năng và kỹ xảo.
Do vậy, có thể thấy vấn để KN là vấn để rất quan trọng trong dạy học. Đối với người giáo viên. cẩn có các KNSP để làm tốt công tác giảng dạy và giáo dục học sinh. Xem xét tình hình nghiên cứu về vấn giảng dạy nói chung, từ lâu cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về vấn để này.
Trên thế giới có các công trình nghiên cứu kinh điển và quan trọng vé giảng dạy trước những năm 1970, với tên tuổi của hai tác giả lớn là A.Barr và David Ryans [20, tr. Các nhà nghiên cứu này tập trung chủ yếu nghiên cứu về phong cách của giáo viên, những sự tương tác giữa giáo viên và học sinh và những vấn để xảy ra trong lớp liên quan đến hoạt động giảng day của người giáo viên. Cho đến những năm 1970 và 1980, người ta nhắc đến tên tuổi của rất nhiều nhà nghiên cứu như : Jere Brophy [20, tr. Sylvia Ashton [20, tr.
Walter Doyle, Carolyn Evertson [20, u.55|/Thomas Good [20, tr.56], và Barak Rosenshire |20, tr. Hai xu hướng chính trong nghiên cứu của các tác giả này là: Thứ nhất: Các nghiên cứu liên quan đến bản chất của chuyên gia trong dạy học, các giáo viên dạy giỏi và cách đánh giá cũng như phân tích tình huống dạy học của những giáo viên mới vào nghề. Thứ hai: Khuyến khích các hình thức nghiên cứu về giảng dạy khác nhau dựa trên ngôn ngữ, hội thoại như : ẩn du, các câu chuyện, tiểu sử và tự chuyện, các quan điểm của các chuyên gia trong dạy học. Gần đây, còn có các tác giả tiêu biểu như: Kenneth D.
Moore [33], Rita A Jensen - Therese J.nghiên cứu nhiều về hoạt động day học va các hành vi giảng day của người giáo viên. Chẳng han như tác gid Kenneth D.Moore [33] đã tập trung trình bày về các đặc điểm để day học có hiệu quả và một số kỹ năng dạy học cắn thiết nhất. Tuy nhiên, tác giả này lại chưa trình bày cụ thể hệ thống các kỹ năng giảng day, mà chi dưới hình thức nêu quan điểm của một số nhà nghiên cứu. Tác giả Rita AJensen - Therese J.Kiley [32] cũng bàn về vấn dé giảng dạy và học tập, vấn để chuẩn bị các kỹ nang nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm.
Theo tác giả, việc dạy học có kết quả thể hiện ở trình độ chuyên môn, kĩ năng diễn đạt, vấn để đánh giá và đo lường trong dạy học, và phải có kế hoạch giảng dạy cụ thể. Qua những nghiên cứu trên, chúng tôi rút ra một số nhận xét như sau: Trong nhiều năm qua, hàng nghìn công trình nghiên cứu trên thế giới đã được thực hiện để xác định các hành ví giảng dạy của người giáo viên trong hoạt động dạy hoc, Các tác giả nhấn mạnh rằng điều quan trọng nhất là người giáo viên phải hiểu họ Dạy ai? Dạy cái gì? Để biết việc họ có thể dạy như thế nào. Vấn để kỹ nang, kỹ năng sư phạm hay kỹ năng giảng dạy được quan tâm nghiên cứu dưới góc độ năng lực sư phạm của người thấy giáo, các hành vi giảng dạy hiệu quả và không hiệu quả của người giáo viên, những nghiên cứu chuyên sâu về các kỹ năng và kỹ thuật dạy học đã được nghiên cứu nhiều nhưng thiên vẻ tổng kết những kinh nghiệm giảng dạy của một số giáo viên. Các kỹ năng giảng dạy được xem xét trong từng hành vi cụ thể và qua các đặc điểm của người giáo viên.
Đặc biệt, các tác giả thường giới thiệu vé những tấm gương điển hình vé các nhà giáo ưu tú đã từng thành công, phân tích ưu, nhược điểm của họ để học tập. Xem xét tình hình nghiên cứu về vấn dé kỹ năng giảng dạy trên lớp, chúng tôi nhận thấy nổi bật lên những vấn để sau: Kỹ năng giảng dạy trên lớp được tìm hiểu trước hết là trong lý luận dạy học và trong các bộ môn phương pháp giảng dạy. Hệ thống kỹ năng giảng dạy trên lớp lai là một bộ phận quan trong trong hệ thống kỹ năng su phạm. Do đó, các nghiên cứu vẻ kỹ năng sư phạm, kỹ năng dạy học.
trong đó cũng bàn đến ay iy Tế vấn dé kỹ năng, kỹ năng dạy học hay kỹ năng giảng day và hoạt động day học ở trên lớp, nhằm mục đích nâng cao hiệu quả đào tạo giáo viên. Trong đó, đáng chú ý là hai khuynh hướng nghiên cứu sau: Thứ nhất: Các tác giả bàn về hệ thống các kỹ năng sư phạm, về các phẩm chất, năng lực cẩn thiết của người giáo viên trong day học và giáo dục Ban về vấn để này, có nhiều tác giả khác nhau, trong đó có các tác giả như: Abramôvich [1], Lê Văn Hồng [11], Nguyễn Như An [2], Nguyễn Hữu Dũng [5], Gônôbôlin [8], Abđullina[2], Nguyễn Quang Uẩn và Ngô Công Hoàn [26], Nguyễn Sinh Huy - Nguyễn Văn Lê [12],.Nhìn chung, các tác giả déu thống nhất kỹ năng sư phạm là một bộ phận quan wong trong cấu trúc năng lực sư phạm của người giáo viên. Các KNSP giúp giáo viên tổ chức tốt hoạt động dạy học và giáo dục học sinh. Có nhiều cách phân chia hệ thống KNSP theo từng mục đích nghiên cứu của các tác giả.Gônôbôlin với "Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên" năm 1976, tác phẩm nói lên những phẩm chất tâm lý chủ yếu quyết định thành công trong công tác của người giáo viên, trong đó, tác giả còn bàn đến mười năng lực hoạt động sư phạm chủ yếu nhất [tr.
Bên cạnh đó, hai tác giả Nguyễn Quang Uẩn và Ngô Công Hoàn với “Mô hình nhân cách sinh viên ĐHSP lúc tốt nghiệp” đã nêu lên hệ thống KN cụ thể mà sinh viên cẩn đạt được lúc tốt nghiệp ĐHSP là: KN dạy học, KN giáo dục, KN giao tiếp và KN nghiên cứu khoa học. Tác giả Nguyễn Hữu Dũng trong “ Nhà trường trung học và người giáo viên trung học ”[5], bàn đến người giáo viên trong nhà trường phổ thông trung học, những yêu cẩu về năng lực và phẩm chất của người giáo viên phổ thông trung học. Trong đó, bước đẩu tác giả đã phân nhóm các kỹ năng sư phạm thành 6 nhóm kỹ năng cơ bản.86] Ngoài ra trong các tài liệu tâm lý học sư phạm, các tác giả như: N.cũng bàn đến các kỹ năng sư phạm «13% của người giáo viên. Các cách phân chia khác nhau về hệ thống KNSP được nhắc đến trong hầu hết các công trình luận án tiến sĩ, thạc sĩ của nhiều tác giả Việt Nam.
Có thể kể đến các tác giả như: Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức, Lê Khánh Bằng, Nguyễn Như An, Trần Anh Tuấn, Phan Thanh Long,.