Chương 1 : Tổng quan về kỷ luật lao động. Chương 2 : Những quy định của pháp luật về chế độ kỷ luật lao động ở Việt nam hiện nay và thực tiễn áp dụng. Chương 3 : Phương hướng hoàn thiện pháp luật về chế độ kỷ luật lao động ở Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị. Nguyễn Huy Khoa 5 Cao học Luật K8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số vấn đề pháp lý cơ bản về kỷ luật lao động theo pháp luật Việt Nam CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG 1.
KHÁI NIỆM - Ý NGHĨA CỦA KỶ LUẬT LAO ĐỘNG. Khái niệm về kỷ luật lao động Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì thuật ngữ “Kỷ luật” được hiểu là tổng thể những điều quy định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức để đảm bảo tính chặt chẽ của tổ chức. Thông qua khái niệm về kỷ luật này chúng ta khẳng định rằng kỷ luật được coi là nền tảng để xây dựng xã hội, không có kỷ luật thì không thể điều chỉnh được mối quan hệ giữa người với người trong sản xuất và các hoạt động của họ trong các tổ chức xã hội. Kỷ luật được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý hiện hành và những chuẩn mực đạo đức của xã hội.
Trong phạm vi quan hệ lao động, cũng với cách hiểu như trên về kỷ luật thì kỷ luật lao động cũng được coi là tổng thể những điều quy định có tính bắt buộc đối với mọi thành viên trong quá trình lao động. Tính chất của kỷ luật trong quá trình lao động do quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội mà trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định. Mỗi khi phương thức sản xuất thay đổi thì bản chất và hình thức kỷ luật lao động cũng thay đổi theo cho phù hợp. Kỷ luật lao động là yếu tố tồn tại khách quan trong bất kỳ giai đoạn lịch sử chế độ xã hội nào.
Khi con người biết lao động thì kỷ luật lao động xuất hiện với những nguyên nhân, điều kiện khách quan nhất định. Vì lao động là hoạt động của con người có mục đích, mà muốn hoạt động này có hiệu quả thì phải có những quy định đảm bảo cho kết quả đó được hình thành. Dưới chế độ cộng sản nguyên thủy, tự giác và bình đẳng là những quy tắc ứng xử trong quan hệ lao động cũng như trong phân phối sản phẩm. Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ thì giai cấp chủ nô có quyền lực vô hạn đối với nô lệ và gia đình họ.
Bản thân người lao động cũng như mọi thành quả lao động của họ làm ra đều thuộc sở hữu của chủ nô. Kỷ luật lao động được Nguyễn Huy Khoa 6 Cao học Luật K8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số vấn đề pháp lý cơ bản về kỷ luật lao động theo pháp luật Việt Nam đặc trưng bằng chế độ lao động cưỡng bức và sự bóc lột tàn nhẫn của chủ nô đối với người nô lệ ở mọi nơi, mọi lúc. Chuyển sang xã hội phong kiến, tuy người nông nô vẫn bị phụ thuộc vào lãnh chúa phong kiến, nhưng xét về một mặt nào đó thì địa vị của họ cũng còn khá hơn so với nô lệ. Tuy vậy, đối với người nông nô dù cày ruộng trên đất của mình, hay làm thuê cho lãnh chúa thì họ vẫn chưa thoát được kiếp lao động bị cưỡng bức và bị bóc lột thậm tệ bằng hình thức địa tô và bằng các hình thức lao dịch khác.
Tổ chức lao động phong kiến đã dựa vào kỷ luật roi vọt cưỡng bức một cách thô bạo đối với quần chúng nông dân. Trong chế độ tư bản, do được xây dựng trên quan hệ chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất, cho nên về bản chất, đây vẫn là một xã hội bóc lột, cho dù hình thức bóc lột tinh vi hơn rất nhiều - đó là hình thức bóc lột giá trị thặng dư. Chính vì thế, tổ chức lao động dựa vào kỷ luật cưỡng bức kinh tế đối với công nhân làm thuê. Chúng ta thấy rằng, trong các hình thái kinh tế xã hội có đối kháng giai cấp, thì kỷ luật lao động thực chất chỉ là nhằm cưỡng chế người lao động đem hết sức lao động của mình để tạo ra những lợi ích vật chất cho giai cấp thống trị.
Vì thế, kỷ luật lao động luôn có tính cưỡng bức, đối lập với quyền lợi của người lao động và được dùng làm một biện pháp để tăng cường bốc lột. Mặc dù hình thức và mức độ cưỡng bức có khác nhau nhưng bản chất của kỷ luật lao động trong các xã hội này chỉ là một mà thôi. Cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa là sự ra đời và phát triển của kỷ luật lao động mới. Kỷ luật lao động xã hội chủ nghĩa biểu hiện của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và quan hệ lao động hợp tác của những người lao động.
Quan hệ sản xuất này đã tạo ra và khuyến khích mối quan hệ tự nguyện, tự giác đối với người lao động và coi lao động là nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội. Trong tác phẩm của mình, Lênin đã Nguyễn Huy Khoa 7 Cao học Luật K8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số vấn đề pháp lý cơ bản về kỷ luật lao động theo pháp luật Việt Nam cho rằng: “Tổ chức lao động xã hội chủ nghĩa thì dựa vào và ngày càng dựa vào kỷ luật tự nguyện tự giác của chính ngay những người lao động” (1) Đối với nền kinh tế thị trường, khi sức lao động được coi là “hàng hoá” được đem ra mua bán, trao đổi, mọi công dân có quyền thuê mướn lao động, sử dụng sức lao động; mục tiêu lợi nhuận được đặt lên hàng đầu thì vấn đề kỷ luật lao động trong các đơn vị sử dụng sức lao động càng trở nên cần thiết và quan trọng. Trong khoa học luật lao động, kỷ luật lao động được xem xét dưới hai khía cạnh chủ yếu là: Hoặc như một yếu tố của quan hệ pháp luật lao động, hoặc như một chế độ của pháp luật lao động. * Với khía cạnh như là một yếu tố của quan hệ pháp luật lao động, kỷ luật lao động thể hiện ở quyền và nghĩa vụ của hai bên chủ thể, trong đó quyền thiết lập và duy trì kỷ luật lao động là thuộc về người sử dụng lao động.
Sở dĩ đặc quyền này được trao cho người sử dụng lao động là vì trong quan hệ lao động nói chung, lao động hiệp tác cần thiết phải có tổ chức quá trình lao động, phải phối hợp giữa các hoạt động riêng lẻ. Và chỉ có như vậy người sử dụng lao động mới có thể đạt được mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tuy nhiên, quyền thiết lập và duy trì kỷ luật lao động không phải là vô hạn mà được hạn chế trong khôn khổ của những quy định của pháp luật nói chung và pháp luật lao động nói riêng còn nghĩa vụ thực hiện kỷ luật lao động là thuộc về phía người lao động. * Dưới khía cạnh là một chế định của Luật lao động thì kỷ luật lao động là tổng hợp những quy phạm pháp luật của nhà nước, trong đó chứa đựng những quy định về việc tuân theo thời gian công nghệ và điều hành sản xuất kinh doanh cũng như những biện pháp xử lý đối với những người không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ những quy định ấy.
Như vậy, dựa vào những quy định này, kỷ luật lao động là khuôn mẫu mà người sử dụng lao động thiết lập nên; là sự điều hành, phân công của (1) Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb Tiến bộ,1978 trang 16 Nguyễn Huy Khoa 8 Cao học Luật K8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một số vấn đề pháp lý cơ bản về kỷ luật lao động theo pháp luật Việt Nam những người sử dụng lao động. Người lao động trong đơn vị sử dụng lao động phải tuân theo khuôn mẫu và sự điều hành của người sử dụng lao động. Khi người lao động không tuân theo thì họ phải gánh chịu một hoặc nhiều hậu quả pháp lý nhất định mà pháp luật lao động đã quy định như họ phải chịu trách nhiệm kỷ luật hay trách nhiệm vật chất chẳng hạn. Việc nghiên cứu và tìm hiểu về kỷ luật lao động sẽ là toàn diện hơn, nếu chúng ta đặt nó trong mối quan hệ chung giữa nó với các dạng kỷ luật khác, để từ đó chúng ta có được sự phân biệt giữa các dạng kỷ luật này.
Một trong những dạng kỷ luật gần gũi và nhiều khi gây nhầm lẫn với kỷ luật lao động đó chính là kỷ luật hành chính. Tuy nhiên giữa chúng cũng có những nét khác nhau về cơ bản, cụ thể là: Thứ nhất: Nếu như kỷ luật lao động là một nội dung của quan hệ pháp luật lao động, tức là quan hệ lao động “giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động” và chúng được xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động hay thoả ước lao động tập thể thì kỷ luật hành chính lại được hình thành trên quan hệ hành chính - quan hệ mang tính quyền lực và phục tùng giữa một bên là chủ thể của quản lý nhà nước với bên kia là đối tượng quản lý trong các cơ quan, đơn vị Nhà nước và được xác lập thông qua hình thức tuyển dụng vào biên chế Nhà nước. Thứ hai, kỷ luật hành chính thể hiện tính quyền lực tuyệt đối, bởi đó là mệnh lệnh của nhà nước nhằm để đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội. Còn kỷ luật lao động, tính quyền lực thể hiện hạn chế hơn do sự ràng buộc của các quy phạm pháp luật, sự tham gia, giám sát của tổ chức công đoàn, sự kiểm tra - quản lý của nhà nước và đặc biệt là sự thoả thuận giữa các bên trong quản lý lao động.
Chính vì thế, tính quyền lực của người sử dụng lao động được thể hiện mềm dẻo, linh loạt và chỉ ở một mức độ nhất định, trong khi đó tính quyền lực của kỷ luật hành chính mang tính nghiêm khắc và triệt để. Thứ ba, do kỷ luật lao động đặt ra đối với người lao động khi tham gia quan hệ lao động trong đơn vị sử dụng lao động, vì thế phạm vi áp dụng kỷ Nguyễn Huy Khoa 9 Cao học Luật K8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.