Chương 1: Khái quát chung về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bởi người sử dụng lao động - Chương 2: Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bởi người sử dụng lao động và thực tiễn thi hành - Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bởi người sử dụng lao động. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐƠN PHƢƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG BỞI NGƢỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 1. Khái niệm đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động bởi ngƣời sử dụng lao động Trong hoạt động quản lý nhà nước, HĐLĐ là cơ sở để quản lý nguồn nhân lực nội bộ của mỗi cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp. Trong tranh chấp lao động, HĐLĐ được xem là cơ sơ chủ yếu để giải quyết tranh chấp.
Với vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội, HĐLĐ chính là căn cứ pháp lý cơ bản góp phần duy trì mối quan hệ lao động lâu dài, ổn định giữa NSDLĐ và NLĐ. Khái niệm hợp đồng lao động có nhiều cách tiếp cận khác nhau phụ thuộc vào truyền thống, khoa học pháp lí, cơ sở kinh tế, tình hình chính trị- xã hội. của từng nước. Theo hệ thống luật của Đức, Pháp thì HĐLĐ là sự thỏa thuận, tự nguyện của người đến làm việc cho người khác, được trả công và chịu sự quản lý của người đó.
Điều 16 Luật lao động của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1994 định nghĩa “HĐLĐ là sự hiệp nghị (thỏa thuận) xác lập quan hệ lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của NLĐ và NSDLĐ. Xây dựng quan hệ lao động cần phải lập HĐLĐ”. Khái niệm này có ưu điểm là xác định được rõ các bên của HĐLĐ, khẳng định việc thiết lập quan hệ lao động phải thông qua HĐLĐ nhưng nhược điểm là chưa nêu được nội dung, bản chất của HĐLĐ. Luật các tiêu chuẩn lao động của Hàn Quốc số 286 ban hành ngày 10/5/1953 và được sửa đổi, bổ sung bằng rất nhiều đạo luật mà gần đây nhất là Luật số 4220 ngày 13/1/1990 tại Điều 17 quy định: “Thuật ngữ HĐLĐ trong luật này có nghĩa là hợp đồng được ký kết để ghi nhận rằng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NLĐ làm việc cho NSDLĐ và NSDLĐ trả lương cho việc làm đó”.
Theo ILO, HĐLĐ được định nghĩa là: “Thỏa thuận ràng buộc pháp lý giữa một NSDLĐ và một công nhân, trong đó xác lập các điều kiện và chế độ việc làm”. Tại Việt Nam, khái niệm hợp đồng lao động cũng thay đổi theo điều kiện kinh tế, xã hội từng thời kì. Hợp đồng lao động trước đây được quy định trong Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa dưới hình thức “khế ước làm công” hay “giao kèo” thuê mướn lao động. Sau này được sử dụng để tuyển dụng công nhân viên chức theo hình thức “phụ động” hay “tạm tuyển”.
Bắt đầu từ năm 1985, nhất là sau khi có Quyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc mở rộng quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế cơ sở thuộc khu vực quốc doanh, chế độ hợp đồng lao động mới được thừa nhận và tồn tại như một hình thức tuyển dụng lao động chủ yếu trong cả nước [31, tr. Hiện nay, theo quy định tại BLLĐ 2012 đã đưa ra khái niệm về HĐLĐ như sau: “Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” [26, Điều 15]. Thông qua HĐLĐ, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên được dung hòa với nhau trên nguyên tắc cùng có lợi. Do đó, có thể nói rằng sau khi HĐLĐ được thiết lập, sự ràng buộc pháp lý về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được thể hiện rõ nét, theo đó nếu bên nào vi phạm cam kết, thỏa thuận thì bên đó sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi vi phạm của mình.
Quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường hiện nay đã cho thấy việc chấm dứt hợp đồng lao động là điều không tránh khỏi, đây là một sự kiện rất quan trọng vì nó thường để lại những hậu quả rất lớn về mặt kinh tế xã hội. Sự chấm dứt quan hệ hợp đồng do nhiều nguyên nhân khác nhau và có thể 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gây ra tranh chấp lao động làm tổn hại đến những quan hệ khác. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì “Chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) là sự kiện pháp lý mà một hoặc cả hai bên không tiếp tục thực hiện HĐLĐ, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của hai bên đã thỏa thuận trong HĐLĐ”. Từ khái niệm này có thể thấy chấm dứt HĐLĐ là chấm dứt việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong quan hệ lao động.
Dựa trên cơ sở ý chí và biểu lộ ý chí của các chủ thể thì chấm dứt HĐLĐ theo quy định pháp luật bao gồm các trường hợp chấm dứt HĐLĐ theo ý chí của hai bên, chấm dứt HĐLĐ theo ý chí của một bên hoặc chấm dứt HĐLĐ do ý chí của bên thứ ba. Nếu như chấm dứt HĐLĐ theo ý chí của hai bên là trường hợp hai bên đều thể hiện, bày tỏ sự mong muốn được chấm dứt quan hệ lao động hoặc một bên đề nghị và bên kia chấp nhận thì sự chấm dứt HĐLĐ xuất phát từ ý chí của một bên được gọi là đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Trong quá trình thực hiện quan hệ lao động cho thấy chấm dứt HĐLĐ theo ý chí của một bên là sự kiện dễ gây bất đồng và tranh chấp lao động cao nhất bởi sự chấm dứt này xuất phát từ ý chí của một bên chủ thể nhưng được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện. Theo từ điển Bách khoa toàn thư thì “đơn phương” là sự thể hiện ý chí của riêng một bên, không có sự thỏa thuận hoặc tham gia của bên kia.
Có quan điểm cho rằng, đơn phương chấm dứt HĐLĐ là hành vi pháp lí trong đó thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm chấm dứt quan hệ lao động với bên kia. Ý chí này phải được biểu thị ra bên ngoài dưới hình thức nhất định và phải được truyền đạt tới chủ thể đối tác mà không cần thiết phải được chủ thể đó chấp thuận. Về nguyên tắc, hình thức để biểu thị ý chí có thể bằng văn bản hay bằng lời nói (miệng) [15, tr. Cũng có nhận định cho rằng đơn phương chấm dứt HĐLĐ là hành vi pháp lý của một bên chủ thể trong quan hệ lao động có thể dẫn đến việc chấm dứt hiệu lực pháp lý HĐLĐ trước thời hạn theo quy định của pháp luật mà không phụ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuộc vào ý chí của bên kia [28, tr.
Trong khi đó, Từ điển Luật học định nghĩa “đơn phương chấm dứt HĐLĐ là việc tự ý chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn mà không có sự cùng thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ của một trong các bên tham gia quan hệ lao động”. Như vậy, dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng các quan điểm về đơn phương chấm dứt HĐLĐ nêu trên đều đưa ra hai đặc điểm của việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ: Một là, đơn phương chấm dứt HĐLĐ là hành vi của một bên trong quan hệ lao động tự ý thực hiện mà không có sự đồng ý của bên còn lại; Hai là, mục đích của hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ nhằm chấm dứt HĐLĐ giữa NSDLĐ và NLĐ trước thời hạn ghi trong HĐLĐ. Xét về lý thuyết có thể thấy đơn phương chấm dứt HĐLĐ là một trong những khái niệm pháp lý có nội hàm khá rộng và phức tạp. Xét trên phương diện luật thực định, các văn bản pháp luật lao động của Việt Nam đến nay cũng chưa có điều khoản nào định nghĩa về đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà chỉ quy định một số trường hợp được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ và NSDLĐ.
Tuy nhiên, qua việc phân tích nêu trên thì đơn phương chấm dứt HĐLĐ có thể được hiểu là hành vi pháp lý đơn phương chấm dứt HĐLĐ của một bên trong quan hệ lao động mà không phụ thuộc vào ý chí của bên còn lại. Nói một cách khác, đó là việc một bên trong quan hệ lao động chủ động chấm dứt việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong HĐLĐ trái với ý chí chủ quan của bên kia. Trong một số trường hợp nhất định khi quyền lợi của NSDLĐ và NLĐ có nguy cơ hoặc đang, đã bị vi phạm, HĐLĐ có thể chấm dứt do sự kiện đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ hoặc NLĐ. Và như vậy, đơn phương chấm dứt HĐLĐ còn là biện pháp mà các bên có thể sử dụng khi những cam kết trong HĐLĐ không được thực hiện đúng, đầy đủ hoặc có hành vi vi phạm pháp luật lao động [4, tr.
Tuy nhiên, do quan hệ lao động ngoài yếu tố 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh tế còn có yếu tố xã hội sâu sắc, cũng như địa vị pháp lý chưa tương xứng giữa hai bên nên NLĐ thường được coi là “yếu thế” và việc chấm dứt HĐLĐ thường được thể hiện thông qua hành vi của NSDLĐ. Chính vì vậy, đơn phương chấm dứt HĐLĐ bởi NSDLĐ có thể được định nghĩa là hành vi pháp lý đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ mà không phụ thuộc vào việc NLĐ có đồng ý hay không. Mặc dù pháp luật đã thừa nhận việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ là quy định thiết thực đối với NSDLĐ nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế và duy trì phát triển kinh doanh của doanh nghiệp, song việc chấm dứt này cũng lại ảnh hưởng rất lớn tới NLĐ, nhiều khi là đến cả cuộc sống gia đình của họ. Xuất phát từ vấn đề này, pháp luật lao động hiện nay đã có những quy định chặt chẽ đối với việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ bởi NSDLĐ, theo đó NSDLĐ chỉ được đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong một số trường hợp cụ thể theo luật định nhằm bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ lao động, đồng thời làm ổn định môi trường lao động, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.